Mỗi quốc gia đều tự xây dựng cho mình một hệ thống pháp luật riêng nhằm khẳng định chủ quyền cũng như bảo vệ quyền lợi cho công dân nước mình. Tuy nhiên, giữa các hệ thống pháp luật này luôn có sự khác nhau, thậm trí là trái ngược nhau do những nguyên nhân về điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội hay hoàn cảnh địa lý… Trong xu thế hội nhập toàn cầu hiện nay, ít hay nhiều các quốc gia sẽ xích lại gần nhau để cùng hợp tác và phát triển. Ở đó, xung đột pháp luật xảy ra khi hai hay nhiều HTPL đồng thời đều có thể áp dụng đề điều chỉnh một QHPL nào đó. Do vậy, sẽ có những cách thức để giải quyết các xung đột pháp luật nói trên như: phương pháp xung đột, phương pháp thực chất. Tuy nhiên, việc làm rõ những ưu điểm, hạn chế của chúng hay thực tế áp dụng các phương pháp này trong Tư pháp quốc tế như thế nào? Và việc áp dụng cụ thể các phương pháp trên tại Việt Nam ra sao sẽ cho chúng ta một cái nhìn hoàn chỉnh hơn trong TPQT về phương pháp giải quyết xung đột pháp luật cả về lý luận và thực tiễn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯
TIỂU LUẬN
QUYỀN THỎA THUẬN CHỌN LUẬN ÁP
DỤNG TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ
VIỆT NAM
Tp Thủ Dầu Một - 2021
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT……… 2
CHƯƠNG 1 NỘI DUNG QUYỀN THỎA THUẬN CHỌN LUẬT ÁP DỤNG TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ VIỆT NAM Error! Bookmark not defined 1.1 Khái niệm về tư pháp quốc tế 3
1.1.1 Đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế 3
1.1.2 Phương pháp điều chỉnh của Tư pháp quốc tế Error! Bookmark not defined 1.2 Xung đột pháp luật 5
1.2.1 Khái niệm xung đột pháp luật Error! Bookmark not defined 1.2.2 Phương pháp giải quyết xung đột Error! Bookmark not defined 1.3 Xác định pháp luật áp dụng trong điều chỉnh một số quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam 7
1.3.1 Xác định năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự của cá nhân 7
1.3.2 Quan hệ sở hữu có yếu tố nước ngoài 8
1.3.3 Hợp đồng có yếu tố nước ngoài 8
1.3.4 Quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài 10
1.3.5 Trong quan hệ thừa kế 10
1.3.6 Trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài 11
1.3.7 Trong quan hệ hàng hải quốc tế 12
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUYỀN LỰA CHỌN PHÁP LUẬT TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ VIỆT NAM 14
2.1 Thực trạng ghi nhận quyền LCPL trong TPQT Việt Nam 14
2.1.1 Trong văn bản hiện hành 14
2.1.2 Trong nghiên cứu so sánh 14
2.2 Mở rộng quyền LCPL trong TPQT Việt Nam 15
2.2.1 Ưu điểm của việc mở rộng quyền lựa chọn 15
2.2.2 Nhược điểm của việc mở rộng quyền lựa chọn 16
2.2.3 Hướng mở rộng quyền lựa chọn 17
Trang 3CHƯƠNG 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN LỰA CHỌN
PHÁP LUẬT TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ VIỆT NAM 19
3.1 Kiến nghị về quyền LCPL trong Bộ luật dân sự 19
3.1.1 Đối với thừa kế có yếu tố nước ngoài 19
3.1.2 Đối với bồi thường thiệt hại có yếu tố nước ngoài 21
3.1.3.Đối với những trường hợp khác 23
3.2 Kiến nghị về quyền LCPL trong Luật Hôn nhân và gia đình 24
3.2.1 Đối với ly hôn 24
3.2.2.Đối với quan hệ vợ chồng trong hôn nhân 25
KẾT LUẬN 27
TÀI LIỆU THAM KHẢO 28
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Mỗi quốc gia đều tự xây dựng cho mình một hệ thống pháp luật riêng nhằm khẳng định chủ quyền cũng như bảo vệ quyền lợi cho công dân nước mình Tuy nhiên, giữa các hệ thống pháp luật này luôn có sự khác nhau, thậm trí là trái ngược nhau
do những nguyên nhân về điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội hay hoàn cảnh địa lý… Trong xu thế hội nhập toàn cầu hiện nay, ít hay nhiều các quốc gia sẽ xích lại gần nhau để cùng hợp tác và phát triển Ở đó, xung đột pháp luật xảy ra khi hai hay nhiều HTPL đồng thời đều có thể áp dụng đề điều chỉnh một QHPL nào đó Do vậy,
sẽ có những cách thức để giải quyết các xung đột pháp luật nói trên như: phương pháp xung đột, phương pháp thực chất Tuy nhiên, việc làm rõ những ưu điểm, hạn chế của chúng hay thực tế áp dụng các phương pháp này trong Tư pháp quốc tế như thế nào? Và việc áp dụng cụ thể các phương pháp trên tại Việt Nam ra sao sẽ cho chúng ta một cái nhìn hoàn chỉnh hơn trong TPQT về phương pháp giải quyết xung đột pháp luật cả về lý luận và thực tiễn
Trang 5HN&GĐ Hôn nhân và gia đình
UBND Ủy ban nhân dân
LCPL Lựa chon pháp luật
TPQT Tư pháp quốc tế
YTNN Yếu tố nước ngoài
BLDS Bộ luật dân sự
Trang 6CHƯƠNG 1 NỘI DUNG QUYỀN THỎA THUẬN CHỌN LUẬT ÁP DỤNG TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ VIỆT NAM
1.1 Khái niệm về Tư pháp quốc tế
1.1.1 Đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế:
− Sự hợp tác quốc tế về mọi mặt giữa các quốc gia là hiện thực tất yếu khách quan trong mọi thời đại Việc củng cố và tăng cường hợp tác giữa các quốc gia thể hiện trong quan hệ dưới nhiều hình thức và phương diện: giữa các quốc gia và đồng thời cũng như giữa công dân và pháp nhân của họ Quan hệ quốc tế là tổng thể các quan
hệ giữa các công dân và pháp nhân của các nước và giữa các nước với nhau Mọi lĩnh vực quan hệ pháp lý giữa các quốc gia thuộc đối tượng điều chỉnh của Công pháp quốc tế Còn các quan hệ pháp lý giữa công dân và pháp nhân phát sinh trong đời sống quốc tế thuộc lĩnh vực điều chỉnh của Tư pháp quốc tế
− Tư pháp quốc tế là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật, mặt khác trong khoa học pháp lý nói chung nó cũng lại là một ngành khoa học pháp lý độc lập mà đối tượng nghiên cứu của nó là lĩnh vực quan hệ pháp luật dân sự (theo nghĩa rộng) phát sinh trong đời sống quốc tế Các quan hệ pháp luật dân sự này luôn
có đặc trưng là mang "yếu tố nước ngoài''
− Yếu tố nước ngoài đã được khẳng định một cách rất rõ ràng trong Điều 758 Bộ luật dân sự 2005 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam như sau: "Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia
là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay dổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài"
− Về "yếu tô' nước ngoài" trong khoa học Tư pháp quốc tế cũng đã có sự thừa nhận chung là có ba loại yếu tố nước ngoài (như Điều 758 Bộ luật dân sự 2005) mà một quan hệ pháp luật dân sự có sự hiện diện của một trong ba loại yếu tố nước ngoài đó thì là đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế ba yếu tố đó là:
Trang 7+ Thứ nhất, có người nước ngoài, pháp nhân nước ngoải hoặc người Việt Nam ở nước ngoài tham gia Người nước ngoài là những người mang quốc tịch nước ngoài (không đồng thời mang quốc tịch Việt Nam) và người không quốc tịch
+ Thứ hai, khách thể của quan hệ đó ở nước ngoài Ví dụ: Tài sản là đối tượng của quan hệ nằm ở nước ngoài (di sản thừa kế ở nước ngoài chẳng hạn)
+ Thứ ba, sự kiện pháp lý là căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở nước ngoài (ví dụ: hai công dân Việt Nam kết hôn với nhau ở Pháp )
− Như vậy, đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế là những quan hệ dân sự, quan hệ hôn nhân và gia đình, quan hệ lao động, quan hệ thương mại và tố tụng dân
sự có yếu tố nước ngoài Nói gọn hơn đó là các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài
1.1.2 Phương pháp điều chỉnh của Tư pháp quốc tế
− Các quy phạm của Tư pháp quốc tế điều chỉnh các quan hệ pháp luật dân sự, thương mại, gia đình, lao động có yếu tố nước ngoài (hay còn gọi là yếu tố quốc tế) Các quan hệ này là các quan hệ nhân thân và các quan hệ tài sản, trong đó các quan
hệ tài sản là chủ yếu Đặc điểm của các quan hệ này là luôn vượt ra khỏi "biên giới" của quốc gia hay còn nói cách khác là nó luôn luôn liên quan đến một hoặc nhiều quốc gia khác Đặc thù của Tư pháp quốc tế là điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu
tố nước ngoài, cho nên trong Tư pháp quốc tế cũng có quy phạm đặc thù để điều chỉnh các quan hệ này, đó là các quy phạm xung đột Quy phạm xung đột không trực tiếp giải quyết các quan hệ cụ thể mà chỉ quy định nguyên tắc "chọn luật" của nước này hay nước kia được áp dụng để giải quyết mà thôi
− Tóm lại, Tư pháp quốc tế là tổng thể các quv phạm pháp luật điều chỉnh các quan
hệ pháp luật dân sự, thương mại, hôn nhân và gia đình, lao động và tố tụng dân sự
có yếu tố nước ngoài Như vậy, chính đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế có
ý nghĩa quyết định đến phương pháp điểu chỉnh của Tư pháp quốc tế Có hai phương pháp điều chỉnh của Tư pháp quốc tế, đó là:
− Phương pháp thực chất
− Phương pháp xung đột
Trang 8− Trong thành phần cơ cấu của Tư pháp quốc tế bao gồm hai loại quy phạm: quy phạm xung đột và quy phạm thực chất cùng điều chỉnh các quan hệ Tư pháp quốc tế nảy sinh trong quá trình hợp tác kinh tế, khoa học kỹ thuật văn hóa giữa các quốc gia và các quy phạm quy định các quyền dân sự, hôn nhân gia đình, lao động thương mại và tố tụng dân sự của người nước ngoài
1.2 Xung đột pháp luật
1.2.1 Khái niệm xung đột pháp luật
− Mỗi một quốc gia trên thế giới có một hệ thống pháp luật riêng của mình và các
hệ thống pháp luật đó khác nhau, thậm chí trái ngược nhau Xung đột pháp luật xảy
ra khi hai hay nhiều hệ thống pháp luật đồng thời đều có thể áp dụng để điều chỉnh một quan hệ pháp luật này hay quan hệ pháp luật khác Vì vậy, cần phải chọn một trong các hệ thống pháp luật đó để áp dụng giải quyết quan hệ pháp luật trên
− Các ngành luật quốc nội như là: Luật dân sự, Luật thương mại, Luật hôn nhân và gia đình, Luật lao động v.v chỉ điều chỉnh các quan hệ của mình một cách trực tiếp
và đơn giản Ví như chỉ cần tìm các quy định cụ thể áp dụng giải quyết đúng “địa chỉ” của quan hệ pháp luật cụ thể Nhưng nếu các quan hệ trên đây lại có một hoặc vài yếu tố nước ngoài tham gia thì đương nhiên vấn đề “lựa chọn" một hệ thống pháp luật điều chỉnh là rất cần thiết
− Như vậy, xung đột pháp luật có thể được hiểu là trong một tình thế (trạng thái) nhất định mà hai hay nhiều hệ thống pháp luật đều có thể điều chỉnh một quan hệ pháp luật nhất định
1.2.2 Phương pháp giải quyết xung đột
− Chọn luật phải dựa trên những nguyên tắc nhất định, chứ không thể tự do, tùy ý, tùy tiện Điều này có nghĩa là việc lựa chọn hệ thống pháp luật nào để áp dụng sẽ không phụ thuộc vào chủ quan ý chí của toà án có thẩm quyền, hoặc sẽ không phụ thuộc vào ý chí của các bên tham gia quan hệ Mục đích của Tư pháp quốc tế là điểu chỉnh các quan hệ Tư pháp quốc tế (đó là các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài theo nghĩa rộng) Tất yếu dẫn đến việc “đụng độ” giữa các hệ thống pháp luật liên đới khác nhau
Trang 9− Để giải quyết vấn đề này không thể không tính tới việc bảo đảm sự bình đẳng và lợi ích của các hệ thống pháp luật liên quan, nghĩa là loại trừ các hệ thống pháp luật khác không áp dụng mà chỉ biết áp dụng luật của mình, lợi ích của mình hay chỉ một hệ thống có lợi Ngược lại, cách giải quyết trọn vẹn nhất là củng cố sự hợp tác bình đẳng và bảo đảm lợi ích hài hoà giữa các quốc gia Tư pháp quốc tế có mục đích và các khái niệm riêng của mình nên cũng có phương pháp điều chỉnh rất riêng của mình
− Như đã đề cập ở trên, hiện nay ở Việt Nam cũng như ở các nước khác trên thế giới, Tư pháp quốc tế có hai phương pháp điều chỉnh, đó là: phương pháp xung đột
và phương pháp thực chất Hai phương pháp này luôn phối hợp và tác động bổ sung cho nhau để giải quyết các quan hệ Tư pháp quốc tế
a Phương pháp xung đột
− Phương pháp xung đột được hình thành khá sớm và xây dựng trên nền tảng hệ thống các quy phạm xung đột của các quốc gia (kể cả QPXĐ trong các ĐƯQT mà quốc gia đó là thành viên), đó là hệ thống tổng thể các QPXĐ của nước mà tòa án ở
đó có thẩm quyền giải quyết (theo nguyên tắc Lex fori) QPXĐ là quy phạm mang tính chất dẫn chiếu, ấn định luật pháp nước nào cần phải áp dụng để giải quyết QHPL dân sự có yếu tố nước ngoài trong một tình huống thực tế Vì vậy cơ quan có thẩm quyền giải quyết phải chọn ra một hệ thống pháp luật của nước này hay nước kia có liên đới tới yếu tố nước ngoài đề xác định quyền và nghĩa vụ giữa các bên đương sự
b Phương pháp thực chất
− Phương pháp thực chất được xây dựng trên cơ sở hệ thống các quy phạm thực chất trực tiếp giải quyết các quan hệ dân sự quốc tế, điều này có ý nghĩa là nó trực tiếp phân định quyền và nghĩa vụ rõ ràng giữa các bên tham gia quan hệ Các quy phạm thực chất này thể hiện dưới hai hình thức:
+ Trong các điều ước quốc tế (quy phạm thực chất thống nhất): Đây là trường hợp
mà quy phạm thực chất đã được nhất thể hóa trong các điều ước quốc tế Trong quá trình hợp tác quốc tế về mọi mặt: kinh tế, thương mại, kỹ thuật, văn hóa, giao thông
Trang 10vận tải…Hay có thể nói rằng đây là quá trình quốc tế hóa đời sống KT-XH giữa các nước
+ Trong các văn bản pháp luật của một quốc gia (quy phạm thực chất trong nước)
Ví dụ: Luật đầu tư, Luật về chuyển giao công nghệ…
1.3 Xác định pháp luật áp dụng trong điều chỉnh một số quan hệ dân sự
có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam
Về nguyên tắc, khi giải quyết các vụ việc dân sự dù có hay không có yếu tố nước ngoài thì Toà án luôn áp dụng pháp luật tố tụng của nước mình theo nguyên tắc Luật Toà án (Lex Fori) Còn đổi với pháp luật nội dung, Toà án có thể áp dụng pháp luật nước mình hoặc pháp luật nước ngoài hoặc điều ước quốc tế, tập quán quốc tế phụ thuộc vào sự chỉ dẫn của quy phạm xung đột hoặc sự thoả thuận của các bên
Do đó, mục này chỉ phân tích quy định của pháp luật Việt Nam về xác định pháp luật áp dụng nhằm điều chỉnh nội dung các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
1.3.1 Xác định năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự của cá nhân
− Khi một cá nhân tham gia vào một quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, quyền và nghĩa vụ của cá nhân đó có thể chịu sự điều chỉnh của pháp luật của nước mà họ mang quốc tịch và pháp luật của nước ngoài có liên quan Trong trường hợp này, câu hỏi đặt ra là pháp luật của nước nào sẽ được áp dụng nhằm xác định năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự của cá nhân đó
− Tại Việt Nam, việc xác định năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự của cá nhân, bao gồm người nước ngoài và công dân Việt Nam trong quan hệ dân
sự có yếu tố nước ngoài, xác định một người bị hạn chế hay bị mất năng lực hành vi dân sự được quy định tại các Điều 673, 674, 675 BLDS năm 2015 Theo đó, pháp luật của nước mà cá nhân mang quốc tịch sẽ được áp dụng trong các mối quan hệ trên Tuy nhiên, nếu người nước ngoài cư trú tại Việt Nam hoặc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự tại Việt Nam thì sẽ áp dụng pháp luật Việt Nam Việc xác định
cá nhân bị mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành
vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự tại Việt Nam, xác định tại Việt Nam một
cá nhân mất tích hoặc chết sẽ phải tuân theo pháp luật Việt Nam Đối với người
Trang 11không quốc tịch hoặc người có từ hai quốc tịch trở lên, việc xác định pháp luật áp dụng phải tuân theo nguyên tắc được quy định trong Điều 672 BLDS năm 2015
1.3.2 Quan hệ sở hữu có yếu tố nước ngoài
− Khoản 1, Điều 678 BLDS năm 2015 quy định: "Việc xác lập, thực hiện, thay đổi, chấm dứt quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản ” Theo quy định trong các vấn đề pháp lý liên quan đến xác lập, thực hiện, thay đổi, chấm dứt quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản, bao gồm động sản và bất động sản đều chịu sự điều chỉnh của pháp luật của nước nơi có tài sản Đây là nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật được thừa nhận rộng rãi tại các nước, đặc biệt đối với bất động sản Tuy nhiên, không phải tất cả các quan hệ sở hữu tài sản có yếu tố nước ngoài đều chịu sự điều chỉnh của luật nơi có tài sản Tại Việt Nam, luật nơi có tài sản không được áp dụng trong các quan hệ sở hữu sau:
− Đối với tàu bay và tàu biển (được điều chỉnh bởi pháp luật nơi đăng kí tàu bay và pháp luật của nước mà tàu biên treo cờ theo quy định tại Điều 3 Bộ luật Hàng hải năm 2015, Điều 4 Luật Hàng không dân dụng năm 2006);
− Đối với tài sản có trên tàu biển (được điều chỉnh bởi pháp luật của nước mà tàu biển treo cờ theo quy định tại Điều 3 Bộ luật Hàng hải năm 2015);
− Đối với động sản đang trên đường vận chuyển (được điều chỉnh bởi pháp luật của nước nơi động sản được chuyển đến, nếu không có thoả thuận khác theo khoản 2, Điều 678 BLDS năm 2015);
− Đối với tài sản là đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ (được điều chỉnh bởi pháp luật của nước nơi đối tượng sở hữu trí tuệ được bảo hệ)
1.3.3 Hợp đồng có yếu tố nước ngoài
− Nguyên tắc chung được thừa nhận rộng rãi tại các nước, trong đó có Việt Nam là cho phép các bên trong quan hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài quyền chọn pháp luật áp dụng nhằm điều chỉnh hợp đồng giữa họ Nguồn luật được chọn có thể là pháp luật quốc gia của một trong các bên hoặc pháp luật của một quốc gia bất kì, điều ước quốc tế có chứa đựng các quy phạm thực chất trực tiếp điều chỉnh quan hệ hợp đồng, tập quán quốc tế Tại Việt Nam, quyền chọn luật của các bên trong hợp
Trang 12đồng được quy định tại các khoản 2, Điều 664; khoản 1, Điều 678; khoản 1, Điều
683 BLDS năm 2015; khoản 2, Điều 5 LTM năm 2005; Điều 4 Bộ luật Hàng hải năm 2005
− Trong trường hợp các bên trong hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài không chọn luật áp dụng cho quan hệ giữa họ, hoặc có chọn luật nhưng việc chọn luật không có giá trị pháp lý thì theo pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước có mối quan hệ gắn bó nhất với hợp đồng sẽ được áp dụng Bên cạnh việc ghi nhận nguyên tắc chung, Điều 683 BLDS năm 2015 đã liệt kê các hệ thống pháp luật được xem là
có mối quan hệ gắn bó nhất với hợp đồng Tuy nhiên, hợp đồng có đối tượng là bất động sản thì pháp luật áp dụng đối với việc chuyển giao quyền sở hửu, quyền khác đối với tài sản là bất động sản hoặc việc sử dụng bất động sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ sẽ chịu sự điều chỉnh của pháp luật của nước nơi có bất động sản
− Về hình thức của hợp đồng, theo quy định tại khoản 7, Điều 683 BLDS năm
2015, hình thức của hợp đồng có yếu tố nước ngoài được xác định theo pháp luật áp dụng đối với hợp đồng đó Điều đó có nghĩa là pháp luật áp dụng điều chỉnh hợp đồng cũng được áp dụng nhằm xác định hình thức của hợp đồng Tuy nhiên, trong trường hợp hình thức của hợp đồng không phù hợp với hình thức hợp đồng theo pháp luật áp dụng đối với hợp đồng đó, nhưng phù hợp với hình thức hợp đồng theo pháp luật của nước nơi giao kết hợp đồng hoặc pháp luật Việt Nam thì hình thức hợp đồng đó được công nhận tại Việt Nam
− Ví dụ, các bên thỏa thuận pháp luật áp dụng thì khi hệ thống pháp luật đó được áp dụng để điều chỉnh quan hệ hợp đồng cũng sẽ điều chỉnh luôn cả hình thức hợp đồng Nếu các bên không chọn luật áp dụng thì hệ thuộc luật có mối quan hệ gắn bó nhất cũng sẽ chính là hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ về cả nội dung lẫn hình thức hợp đồng
− Trường hợp hình thức của hợp đồng không phù hợp với hình thức hợp đồng theo pháp luật áp dụng đối với hợp đồng đó, nhưng phù hợp với hình thức hợp đồng theo pháp luật của nước nơi giao kết hợp đồng hoặc pháp luật Việt Nam thì hình thức hợp đồng đó được công nhận tại Việt Nam
Trang 131.3.4 Quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài
− Tại Việt Nam, việc xác định pháp luật áp dụng điều chỉnh quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định trong Điều 687 BLDS năm 2015 và một số văn bản quy phạm pháp luật khác như tại Điều 4 Luật Hàng không dân dụng năm
2006, Điều 3 Bộ luật Hàng hải năm 2005 Theo Điều 687 BLDS năm 2015, các bên được thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng cho việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Trường hợp không có thỏa thuận thì pháp luật của nước nơi phát sinh hậu quả của sự kiện gây thiệt hại được áp dụng Tuy nhiên, trường hợp bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại có nơi cư trú, đối với cá nhân hoặc nơi thành lập, đối với pháp nhân tại cùng một nước thì pháp luật của nước đó được áp dụng Việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài trong lĩnh vực hàng không dân dụng chịu
sự điều chỉnh của Luật Hàng không dân dụng năm 2006
1.3.5 Trong quan hệ thừa kế
− Thừa kế theo pháp luật: Theo Điều 680 BLDS năm 2015, thừa kế theo pháp luật phải tuân theo pháp luật của nước mà người để lại di sản thừa kế có quốc tịch ngay trước khi chết Tuy nhiên, việc thực hiện quyền thừa kế đối với bất động sản phải tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó
− Thừa kế theo di chúc: Đối với thừa kế theo di chúc, xung đột pháp luật thường xảy ra trong các quan hệ về hình thức của di chúc; về năng lực lập, huỷ bỏ di chúc Giải quyết vấn đề này, Điều 681 BLDS năm 2015 quy định năng lực lập di chúc, thay đổi hoặc hủy bỏ di chúc phải tuân theo pháp luật của nước mà người lập di chúc là công dân Hình thức của di chúc được xác định theo pháp luật của nước nơi
di chúc được lập Hình thức của di chúc cũng được công nhận tại Việt Nam nếu phù hợp với pháp luật của một trong các nước sau đây:
+ Nước nơi người lập di chúc cư trú tại thời điểm lập di chúc hoặc tại thời điểm người lập di chúc chết;
+ Nước nơi người lập di chúc có quốc tịch tại thời điểm lập di chúc hoặc tại thời điểm người lập di chúc chết;
+ Nước nơi có bất động sản nếu di sản thừa kế là bất động sản
Trang 141.3.6 Trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
a Đối với việc kết hôn
− Về điều kiện kết hôn: Theo khoản 1, Điều 126 Luật HN&GĐ năm 2014, trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn; nếu việc kết hôn được tiến hành tại
cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 của Việt Nam về điều kiện kết hôn Việc kết hôn giữa những người nước ngoài với nhau tại Việt Nam, trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam phải tuân thủ Luật HN&GĐ năm 2014 về điều kiện kết hôn
− Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau hoặc với người nước ngoài trước
cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, phù hợp với pháp luật của nước đó thì được công nhận tại Việt Nam, nếu vào thời điểm kết hôn công dân Việt Nam không vi phạm quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn Trong trường hợp có
sự vi phạm pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn, nhưng vào thời điểm yêu cầu công nhận việc kết hôn, hậu quả của sự vi phạm đó đã được khắc phục hoặc công nhận việc kết hôn đó là có lợi cho việc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em thì hôn nhân đó cũng được công nhận tại Việt Nam
− Về hình thức kết hôn: Việc kết hôn trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải được đăng kí và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền (UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài) thực hiện theo nghi thức được pháp luật Việt Nam quy định, mọi hình thức kết hôn khác đều không có giá trị pháp lý
b Đối với việc ly hôn:
Theo quy định tại Điều 127 Luật HN&GĐ năm 2014 của Việt Nam, việc ly hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam được giải quyết theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 của Việt Nam Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú tại Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp
Trang 15luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì theo pháp luật Việt Nam Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn sẽ tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó Việc ly hôn của công dân Việt Nam với người nước ngoài được giải quyết ở nước ngoài và theo pháp luật nước ngoài thì cũng được công nhận tại Việt Nam
1.3.7 Trong quan hệ hàng hải quốc tế
− Theo Điều 3 Bộ luật Hàng hải năm 2005, pháp luật của nước mà tàu biển mang
cờ quốc tịch sẽ được áp dụng để điều chỉnh các mối quan hệ sau:
(i) Quan hệ pháp luật liên quan đến quyền sở hữu tài sản trên tàu biển;
(ii) Hợp đồng cho thuê tàu biển;
(iii) Hợp đồng thuê thuyền viên;
1.4 Áp dụng pháp luật nước ngoài trong điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
− Xuất phát từ chủ quyển quốc gia, việc thừa nhận khả năng áp dụng pháp luật nước ngoài hay không, áp dụng pháp luật nước ngoài nhằm điểu chỉnh các quan hệ xã hội
cụ thể nào hoàn toàn thuộc chủ quyền của các quốc gia Trong quan hệ quốc tế hiện nay, với mục đích tăng cường, củng cố và thúc đẩy sự phát triển bển vững các mối quan hệ quốc tế thì hầu hết các nước đều thừa nhận khả năng áp dụng pháp luật nước ngoài Với việc xây dựng và thừa nhận áp dụng các quy phạm xung đột, các quốc gia đã thừa nhận khả năng có thể áp dụng pháp luật nước ngoài nhằm điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Vì không phải trong mọi trường hợp quy phạm xung đột đều dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật quốc gia có Toà