ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT BÀI TIỂU LUẬN MÔN TƯ PHÁP QUỐC TẾ Đề tài Mối quan hệ giữa thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam và thẩm quyền của Trọng tài thương mại (trong nước và nước ngoài)[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÀI TIỂU LUẬN MÔN TƯ PHÁP QUỐC TẾ
Đề tài: Mối quan hệ giữa thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam và thẩm quyền của Trọng tài thương mại (trong nước và nước ngoài) (Thẩm quyền riêng biệt của TAVN có loại trừ thẩm quyền của trọng tài không?)
Họ và Tên sv thực hiện : Đặng văn Hiếu
Mã Sinh Viên : 19061109
Lớp : K64A
Giảng viên : PGS.TS.Ngô Quốc Chiến
Hà Nội,1/2022
Trang 2
Mục Lục Lời nói đầu 2
Chương 1 Những vấn đề lí luận về thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam và Trọng tài thương mại 4
1 Thẩm quyền riêng biệt của Tòa án 4
1.1 Khái niệm 4
1.2 Vai trò của quy định về thẩm quyền riêng biệt 4
1.3 Quy định pháp luật về thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam 5
1.3.2 Thứ hai, việc dân sự có yếu tố nước ngoài: 7
2 Thẩm quyền của TTTM 7
2.1 Khái niệm 7
2.2 Đặc điểm 8
2.3 Phân loại trọng tài thương mại 8
2.4 Lợi ích của sử dụng phương thức Trọng tài 9
Chương 2 Mối quan hệ giữa thẩm quyền riêng biệt của TAVN và thẩm quyền của Trọng tài thương mại 10
1 Mối quan hệ giữa thẩm quyền riêng biệt của TAVN và thẩm quyền của Trọng tài thương mại trong nước 10
2 Mối quan hệ giữa thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam với Trọng tài thương mại nước ngoài 10
Kết luận 12
*Danh mục tài liệu tham khảo 12
Trang 3Lời nói đầu
Thời kì mở cửa thị trường, các quan hệ dân sự ngày càng phát triển mạnh mẽ trong phạm vi quốc gia, các quan hệ dân sự được hình thành và theo thời gian và hoàn cảnh cụ thể thường có những sự thay đổi, phát triển dẫn đến sự thay đổi hay chấm dứt các quan hệ dân sự Sự phát triển và thay đổi ấy thường được điều chỉnh dựa trên sự thỏa thuận, định đoạt của một hoặc cả hai bên trong quan hệ dân sự Tùy thuộc vào các quan hệ dân sự và nội dung cụ thể mà họ có thể lựa chọn Tòa án hay Trọng tài để giải quyết vấn đề phát sinh
ấy Ngày nay, sự mở cửa của thị trường cũng như sự tham gia hội nhập của Việt Nam trên mọi lĩnh vực trên trường quốc tế làm đa dạng các quan hệ dân sự phát sinh, trong đó hình thành các mối quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, từ đó sự phát triển của cả các mối quan
hệ cũng như hệ thống các quy định liên quan đến thẩm quyền của Tòa án cũng như Trọng tài thương mại hình thành lên hệ thống Tư pháp quốc tế
Cũng chính khi các mối quan hệ không còn chỉ hình thành và phát sinh trên phạm vi quốc gia nữa nên các quan hệ dân sự sẽ được điều chỉnh từ nhiều quốc gia hay các nguồn luật khác nhau Một trong đó là sự xuất hiện của những quy định liên quan đến thẩm quyền của Tòa án cũng như Trọng tài Xuất phát từ những nguyên tắc cơ bản được quy định trong pháp luật quốc gia cũng như quốc tế như các vấn đề liên quan đến chủ quyền, sự toàn vẹn lãnh thổ hay những nguyên tắc về nghĩa vụ của nhà nước trong bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, những quyền của quốc gia Các hoạt động ấy được cụ thể hóa bằng việc ban hành các văn bản pháp luật quốc gia cũng như những việc kí kết và tham gia các điều ước quốc tế song phương, đa phương nhằm ban hành các quy định xác định thẩm quyền của Tòa án trong các quan hệ dân sự, nhất là các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
Việc xác định thẩm quyền của Tòa án quốc gia trong tư pháp quốc tế là vô cùng quan trọng, qua đó các vấn đề liên quan đến chủ quyền quốc gi và trật tự công cộng được đảm bảo hay những lợi ích hợp pháp của công dân được bảo vệ tối ưu nhất Các quy định về thẩm quyền cú Tòa án Việt Nam trước đây được quy định và phân bố một cách khá rải rác trên các văn bản quy phạm pháp luật song ngày nay, qua các quá trình pháp điển hóa hoàn thiện pháp luật nó đã được quy định tổng hợp tại BLTTDS Tuy nhiên, để hướng tới sự đồng thuận và thống nhất giữa các quốc gia, nhất là các quốc gia tham gia trong các quan
hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, đảm bảo được quyền lợi các bên trong tham gia thì việc
có những quy định cụ thể và ngày một hoàn thiện về khung pháp lí về thẩm quyền của Tòa
án là vô cùng quan trọng Để đảm bảo các quy định trong bảo vệ những nhóm lợi ích cụ thể quốc gia trong các quan hệ dân sự quốc tế, các quốc gia trong đó có Việt Nam đã đưa
ra các quy định về Thẩm quyền chung cũng như thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Bởi đặc thù của quan hệ dân sự là những thỏa thuận ý chí các bên nên sự xác định thẩm quyền riêng
Trang 4biệt của Tòa án quốc gia là vô cùng quan trọng Bên cạnh các phương thức giải quyết là Tòa án, sự xuất hiện và hoạt động của Trong tài thương mại cũng góp phần không nhỏ trong việc giải quyết các quan hệ dân sự, gánh vác phần nào những tranh chấp cho cơ quan Tòa án Mặt khác, những quy định của TRọng tài thương mại gần đây ngày một được coi trọng và sử dụng nhiều trong các quan hệ dân sự bởi tính độc lập cũng như đặc thù hoạt động là tôn trọng sự thỏa thuận và định đoạt của các bên Hoạt động của Trọng tài thương mại và Tòa án luôn diễn ra hàng ngày và luôn có những vấn đề phát sinh quanh nó Vì thế việc xác định mối quan hệ giữa thẩm quyền của 2 cơ quan này là vô cùng cần thiết Bài viết sẽ tìm hiểu các quy định liên quan đến mối quan hệ giữa thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam với thẩm quyền của trọng tài thương mại (cả trong nước và nước ngoài)
từ đó trả lời câu hỏi liệu thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam có loại trừ thẩm quyền của Trọng tài hay không? Từ đó đưa ra các định hướng nhằm phân định và hoàn thiện các quy định cụ thể điều chỉnh mối quan hệ này
Chương 1 Những vấn đề lí luận về thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam và Trọng tài thương mại
1 Thẩm quyền riêng biệt của Tòa án
1.1 Khái niệm
Thẩm quyền xét xử riêng biệt là trường hợp quốc gia sở tại tuyên bố chỉ có tòa án nước họ mới có thẩm quyền xét xử đối với những vụ việc nhất định Nếu tòa án nước khác vẫn tiến hành xét xử đối với những vụ việc thuộc thẩm quyền xét xử riêng biệt, hậu quả là bản án, quyết định được tuyên bởi tòa án nước khác sẽ không được công nhận, cho thi hành tại quốc gia sở tại Trong trường hợp này, kể cả các bên chủ thể thỏa thuận tòa án nước khác thì về nguyên tắc, tòa án nước đó cũng cần phải từ chối thụ lý vụ việc để tôn trọng thẩm quyền xét xử riêng biệt của quốc gia sở tại
1.2 Vai trò của quy định về thẩm quyền riêng biệt
Thứ nhất, việc xác định các quy định thẩm quyền riêng biệt giúp xác định chủ thể có thẩm quyền giải quyết vụi việc Khi một vụ việc hay vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài xảy ra thì việc xác định thẩm quyền thông qua xem xét thẩm quyền riêng biệt sẽ giúp các bên có lựa chọn đúng đắn về tòa án có thẩm quyền xét đơn và giải quyết vụ việc
Thứ hai, việc quy định thẩm quyền riêng biệt giúp khẳng định thẩm quyền tài phán của Việt Nam Việc quy định những vấn đề riêng biệt thuộc thẩm quyền của quốc gia cho thấy Việt Nam cũng có thẩm quyền tài phán riêng, những quy định ấy chủ yếu điều chỉnh các vấn đề về bảo vệ chủ quyền quốc gia, quyền và lợi ích các chủ thể nhất định
Trang 5Thứ ba, việc quy định về thẩm quyền riêng biệt của Tòa án còn giúp cho việc xác định giá trị pháp lí của các bản án, quyết định của Trọng tài hay tòa án nước ngoài, các thỏa thuận lựa chọn Tòa án của các bên trong quan hệ dân sự
1.3 Quy định pháp luật về thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam
Khác với các quy định về thẩm quyền chung quy định tại Điều 469 BLTTDS 2015 được quy định nhằm xác định thẩm quyền đối với vụ việc nhất định có liên quan đén Tòa
án của quốc gia thì thẩm quyền riêng biệt của Tòa án lại hẹp hơn, nó quy định về những
vụ việc có tính chất đặc thù, được pháp luật tố tụng quy định một cách cụ thể về thẩm quyền riêng biệt Thẩm quyền riêng biệt mang tính chất tuyệt đối, các Tòa án bắt buộc phải tuân thủ quy định này trừ những quy định khác của điều ước quốc tế Các vụ án, vụ việc thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án quốc gia thông thường những vấn đề ấy mang những mỗi quan hệ gắn bó mật thiết với quốc gia như các vấn đề liên quan đến bất động sản của quốc gia, các vấn đề liên quan đến quốc tịch, Những quy định ấy không chỉ bảo
vệ quyền và lợi ích của công dân hay pháp nhân mà nó còn bảo vệ các lợi ích của quốc gia
và trật tự công cộng, trật tự pháp lí của quốc gia trong các quan hệ dân sự Những quy định
về thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam được quy định trong BLTTDS 2015 bao gồm:
1.3.1 Thứ nhất, vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài
Vụ án dân sự có thể được hiểu là các tranh chấp xảy ra giữa các đương sự mà theo quy định của BLTTDS, cá nhân, cơ quan, tổ chức tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để khởi kiện vụ án tại toà án có thẩm quyền, để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
1.3.1.1 Vụ án dân sự đó có liên quan đến quyền đối với tài sản là bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam
Hầu hết pháp luật của các quốc gia trên thế giới và các điều ướ quốc tế liên quan đều
có những quy định về thẩm quyền riêng biệt của Tòa án nước mình về các tranh chấp liên quan tới bất động sản Các quyền liên quan đến bất động sản ở đây có thể kể đến như quyền
sở hữu, quyền sử dụng, các biện phap bảo đảm, đăng kí bất động sản,
Tại Nhật Bản, một khiếu nại liên quan đến việc đăng kí bất động sản tại Nhật bản sẽ thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Nhật Bản trong đó các yêu cầu khởi kiện liên quan đến bất động sản đặt tại Nhật Bản chỉ thuộc thẩm quyền chung của Tòa án Nhật Bản 1
1 Koki Yanagisawa and Hiroki Aoki (2012), Amendment of the Code of Civil Procedure: A question of jurisdiction, http://www.iflr.com/Article/3007237/Amendment-of-the-Code-of-CivilProcedure-A-question-of
jurisdiction.html
Trang 61.3.1.2 Vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam với công dân nước ngoài hoặc người không quốc tịch, nếu cả hai vợ chồng cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam
Câu hỏi đặt ra rằng tại sao các quy định này lại thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa
án Việt Nam trong khi vụ án ly hôn có thể liên quan đến đối tượng khác là bất động sản ở nước ngoài? Thực tế cho thấy nhiều quốc gia cũng không đưa quy định này vào các quy định về thẩm quyền riêng biệt của Tòa án có thể kể đến như Nhật Bản, Trung Quốc
Ví dụ cụ thể tại bản án số 11CEFL02110 ngày 23/12/2015 về việc công nhận và cho thi hành bản án của Tòa án Hoa Kì về hôn nhân gia đình, Tòa án Việt Nam đã dẫn chiếu quy định về sự phân chia bất động sản của Tòa án Hoa Kì đã vi phạm nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam rằng vụ án liên quan đến bất động sản tại Việt nam thuọc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam nên không công nhận và cho thi hành bản án của Tòa án nước ngoài
Vì thế nhằm hạn chế nhưng xung đột pháp luật cũng như xung đột thẩm quyền khi
có các tranh chấp phát sinh liên quan đến tài sản là bất động sản, thiết nghĩ nhà làm luật nên có những quy định bổ sung trong trường hợp có tranh chấp liên quan đến tài sản là bất động sản nước ngoài hay bổ sung cụm từ: “trong trường hợp không có tranh chấp liên quan đến tài sản là bất động sản tại nước ngoài” để quy định được tối ưu nhất
1.3.1.3 Vụ án dân sự khác mà các bên được lựa chọn Tòa án Việt Nam để giải quyết theo pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
là thành viên và các bên đồng ý lựa chọn Tòa án Việt Nam
Bản chất của quy định này là sự tôn trọng vào thỏa thuận ý chí của các bên trong quan
hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Thực tế khi các bên lựa chọn Tòa án Việt Nam để giải quyết vụ án đồng thời sẽ loại bỏ thẩm quyền của các Tòa án nước ngoài khác theo quy định của thỏa thuận lựa chọn của các bên Quy định này được hiểu là khi các bên lựa chọn Tòa
án nước ngoài, Trọng tài trong nước hay nước ngoài để giải quyết vụ án dân sự thì sẽ không thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam
Quy định này cho thấy chỉ khi các bên có thỏa thuận lựa chọn Tòa án Việt Nam thì Tòa án Việt Nam mới có thẩm quyền riêng biệt Đây là quy định sửa đổi bổ sung và tiến
bộ hơn so với các quy định tại BLTTDS 2004 Quy định này nhằm đảm bảo nguyên tắc tự
do thỏa thuận và định đoạt của các bên trong giải quyết tranh chấp trong quan hệ dân sự Hội nghị La hay cũng đã xây dựng và ban hành công ước Lahay về thỏa thuận lựa chọn Tòa án, tuy Việt Nam không là thành viên của Công ước song Việt Nam cũng là một thành viên của hội nghị nên trong quá trình xây dựng BLTTDS 2015 nhà lập pháp cũng đã tôn trọng xây dựng theo tinh thần của Công ước này
Trang 71.3.2 Thứ hai, việc dân sự có yếu tố nước ngoài:
Việc dân sự được hiểu là việc cá nhân, cơ quan tổ chức không có tranh chấp, nhưng
có yêu cầu toà án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý, là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động của mình hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác; yêu cầu tòa án công nhận cho mình quyền
về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động
Các việc dân sự thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam theo các quy định của BLTTDS bao gồm: các yêu cầu không có tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự thuộc 3 trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 470; yêu cầu xác định một sự kiện pháp lý xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam; Tuyên bố công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài cư trú tại Việt Nam bị mất tích, đã chết nếu việc tuyên bố đó có liên quan đến việc xác lập quyền, nghĩa vụ của họ trên lãnh thổ Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế
mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác; Tuyên bố người nước ngoài cư trú tại Việt Nam bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất năng lực hành vi dân sự nếu việc tuyên bố đó có liên quan đến việc xác lập quyền, nghĩa vụ của họ trên lãnh thổ Việt Nam; Công nhận tài sản có trên lãnh thổ Việt Nam là vô chủ, công nhận quyền sở hữu của người đang quản lý đối với tài sản vô chủ trên lãnh thổ Việt Nam.2 So với BLTTDS
2004 trước đó, các quy định của BLTTDS 2015 về việc dân sự thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam có nhiều sửa đổi nhằm giải quyết những bất cập còn vướng phải như bổ sung cụm “công dân Việt Nam” và các quy định tại điểm c khoản 2 Điều 470 về tuyên bố người mất tích[ ]
2 Thẩm quyền của TTTM
2.1 Khái niệm
Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp mang tính chất tai phán phi nhà nước,
do các bên thỏa thuận lựa chọn để giải quyết tranh chấp thương mại Để các tranh chấp được đưa ra giải quyết buộc các bên phải có thỏa thuận trọng tài Thỏa thuận trọng tài có thể lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp
Luật TTTM 2010 cũng đưa ra định nghĩa: Trọng tài thương mại được hiểu là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận và được tiến hành theo các quy định của luật này
Tựu chung có thể hiểu: Trọng tài thương mại được hiểu là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại do các bên tranh chấp tự nguyện thỏa thuận lựa chọn trong đó thì
2 Khoản 2 Điều 470 BLTTDS 2015
Trang 8bên thứ ba là trọng tài trung lập sau khi tìm hiểu và giải quyết tranh chấp sẽ đưa ra phán quyết có tính chất bắt buộc đối với các bên
2.2 Đặc điểm
Trọng tài thương mại không có thẩm quyền một cách đương nhiên như các tòa án quốc gia, như khái niệm được nêu trên, Trọng tài sẽ chỉ có thẩm quyền khi các bên trong quan hệ dân sự được quyền chọn và thỏa thuận lựa chọn theo đúng quy định pháp luật Chính các bên là chủ thể trao quyền xét xử cho Trọng tài thương mại
Thỏa thuận trọng tài chỉ có giá trị pháp lí khi được xác lập và hoạt động một cách hợp pháp Tức là không vi phạm các điều cấm của luật, đồng thời đảm bảo các nguyên tắc cũng như điều kiện hoạt động theo quy định của Luật TTTM
Khác với Tòa án, Trọng tài thương mại chỉ có thẩm quyền trong các trường hợp cụ thể như: Tranh chá giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại, trong các bên có ít nhất một bên hoạt động thương mại hay tranh chấp giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài
2.3 Phân loại trọng tài thương mại
Pháp luật Việt Nam không có quy định trong sự phân biệt một cách cụ thể và rõ ràng
về trọng tài trong nước hay nước ngoài tuy nhiên Luật TTTM cũng đã đưa ra định nghĩa
về trọng tài nước ngoài từ đó ta có thể hiểu như sau
Trọng tài nước ngoài được định nghĩa là Trọng tài được thành lập theo quy định của pháp luật trọng tài nước ngoài do các bên thỏa thuận lựa chọn để tiến hành giải quyết tranh chấp ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc trong lãnh thổ Việt Nam
Theo quy định này, yếu tố lãnh thổ đã không được xem xét đến, vì tính nước ngoài của trọng tài được xác định dựa vào luật điều chỉnh sự thành lập của trọng tài Đối với những phán quyết của Trọng tài nước ngoài Tòa án Việt Nam chỉ có thẩm quyền trong xác định công nhận và cho thi hành hay không chứ không có thẩm quyền hủy phán quyết của Trọng tài hay xét xử lại nội dung vụ án của Trọng tài thương mại
Đối với Trọng tài trong nước, Tòa án Việt Nam có thẩm quyền đối với hoạt động của trọng tài quy định tại Điều 7 Luật TTTM 2010 Tuy nhiên những giải thích về khái niệm cũng như yếu tố nước ngoài của phán quyết trọng tài vẫn chưa được giải thích một cách cụ thể trong luật
Từ đó có thể rút ra Trọng tài trong nước là những Trọng tài được thành lập theo pháp luật Trọng tài Việt Nam do các bên thỏa thuận lựa chọn để tiến hành giải quyết tranh chấp Nếu các tranh chấp không có yếu tố nước ngoài thì pháp luật áp dụng để giải quyết tranh
Trang 9chấp đương nhiên là pháp luật Việt Nam Khi áp dụng pháp luật Việt Nam hay nước ngoài trong giải quyết các tranh chấp, nếu trọng tài vi phạm các quy định mà với pháp luật Việt Nam phán quyết hay quyết định của trọng tài có thể bị hủy bởi Tòa án Việt Nam theo quy định của pháp luật
2.4 Lợi ích của sử dụng phương thức Trọng tài
Khác với giải quyết tranh chấp bằng tòa án, Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh do các bên thỏa thuận, đảm bảo được tính công bằng, nhanh gọn cũng như tôn trọng tối đa sự thỏa thuận nếu hợp pháp của các bên tranh chấp
Thứ hai, sử dụng trọng tài thương mại sẽ đảm bảo được tính trung lập trong hoạt động thể hiện ở chỗ khác với các phương thức giải quyết khác Trọng tài chỉ giải quyết theo thẩm quyền và theo thỏa thuận của các bên, không có sự tạo lợi thế hay bất bỉnh đảng cho bất kì một bên nào trong tranh chấp
Thứ ba, bên cạnh tính trung lập, phương thức này còn mang tính linh hoạt, nhanh gọn hơn Khác với các phương thức khác yêu cầu thủ tục rườm rà gây mất nhiều thời gian của các bên thì với đặc trưng hoạt động của mình Trọng tài tỏ ra linh hoạt và nhanh gọn hơn rất nhiều
Thứ tư, tính chuyên môn cao thể hiện ở việc cho phép các bên hay Tòa án chỉ định Trọng tài viên từ đó có thể lựa chọn những người có chuyên môn cao trog nhiều lĩnh vực,
có kinh nghiệm trong hoạt động,
Ngoài ra phương thức trọng tài còn xét xử không công khai, đảm bảo tính bảo mật cao do các quyết định hay hoạt động được diễn ra dưới hình thức khép kín hoàn toàn giữa các bên, đảm bảo bí mật kinh doanh
Việc lựa chọn pháp luật để giải quyết tranh chấp của các bên đôi khi còn gặp một số bất cập như: nếu Trọng tài áp dụng pháp luật của quốc gia nơi cần công nhận và cho thi hành mà không áp dụng pháp luật các bên lựa chọn thì dù việc lựa chọn pháp luật khác với pháp luật các bên lựa chọn có phù hợp với các tranh chấp thì Trọng tài vẫn có thể bị các bên kiện vi phạm tố tụng Mặt khác, nếu Trọng tài tôn trọng và chỉ áp dụng pháp luật các bên lựa chọn mà không chú ý tới pháp luật mà nơi phán quyết cần được công nhận và chp thi hành thì phán quyết của Trọng tài rất có khả năng sẽ vi phạm các điều cấm của quốc gia đó và phán quyết sẽ không được xét công nhận và cho thi hành Vì vậy, cần có sự quy định cụ thể hơn trong việc xác định nguồn luật áp dụng trong giải quyết tranh chấp các bên, nhất là khi các bên không lựa chọn pháp luật áp dụng trong thỏa thuận
Trang 10Chương 2 Mối quan hệ giữa thẩm quyền riêng biệt của TAVN và thẩm quyền của Trọng tài thương mại
1 Mối quan hệ giữa thẩm quyền riêng biệt của TAVN và thẩm quyền của Trọng tài thương mại trong nước
Đối với thỏa thuận Trọng tài trong nước, các quy định của BLTTDS và Luật TTTM cho thấy không có một quy định nào liên quan đến hạn chế quyền của Trọng tài thương mại đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam
Trọng tài như ta biết là tổ chức phi chính phủ không dân danh nhà nước giải quyết tranh chấp thông qua thỏa thuận và sự lựa chọn của các bên Khác với Trọng tài nước ngoài, thực chất khi giải quyết tranh chấp liên quan đến quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Trọng tài Việt Nam vẫn hoạt động dưới sự quản lí, giám sát của Tòa án Việt Nam Đặc biệt pháp luật có quy định về cơ chế hủy bỏ phán quyết của Trọng tài trong nước của Tòa án Việt Nam nên thông qua nó, thẩm quyền của Tòa án Việt Nam với hoạt động giải quyết tranh chấp của Trọng tài không bị mất đi, đó là sự đảm bảo về các quy định của pháp luật
Chính vì những phân tích nêu trên trên thực tế, mặc dù pháp luật chưa có những quy định cụ thể về thẩm quyền của Trọng tài trong nước đối với vụ án, vụ việc thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam song với bản chất các quy định pháp luật, nhà làm luật nên quy định cụ thể hơn nữa và nên quy định theo hướng cấp thẩm quyền cho Trọng tài Việt Nam trong giải quyết những tranh chấp thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam nhằm san sẻ những gánh nặng cho hoạt động của Tòa án
2 Mối quan hệ giữa thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam với Trọng tài thương mại nước ngoài
Sau khi phân tích các quy định của pháp luật câu hỏi đặt ra liệu đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam thì thẩm quyền của Trọng tài nước ngoài có bị loại trừ hay không?
Thực tế cũng như những quy định đối với thẩm quyền của Trọng tài trong nước, pháp luật Việt Nam cũng không có những quy định cùng như hướng dẫn cụ thể để trả lời câu hỏi ta đặt ra từ đầu Công ước New York 1958 về Công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài (Việt Nam đã là thành viên) cũng có ghi nhận rằng Toà án của một Quốc gia thành viên, khi nhận được một đơn kiện về một vấn đề mà đối với vấn đề đó các bên đã có thoả thuận trọng tài thì phải chuyển đến trọng tài, trừ khi Toà án thấy rằng thoả thuận nói trên không có hiệu lực, không hiệu quả hoặc không thể thực hiện được Có nghĩa,