1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT TIỂU LUẬN MÔN TƯ PHÁP QUỐC TẾ Đề bài Mối quan hệ giữa thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam và thẩm quyền của Trọng tài Thương mại Thực hiện Họ và tên Lê Vũ T[.]
Trang 11
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
- -
TIỂU LUẬN MÔN TƯ PHÁP QUỐC TẾ
Đề bài: Mối quan hệ giữa thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam và thẩm quyền của Trọng tài Thương mại
Thực hiện
Họ và tên: Lê Vũ Trọng Đạt MSV: 18061289
Giảng viên: PGS TS Ngô Quốc Chiến
Hà Nội - 2021
Trang 22
Mục lục:
III Mối quan hệ giữa thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam và thẩm
quyền của Trọng tài Thương mại
7
Trang 33
A Lời mở đầu
Hiện nay tại Việt Nam, giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài đang trở thành một xu hướng phát triển song song với việc cải cách hệ thống tư pháp của Việt Nam trong ngành Toà án và Viện Kiểm sát để cùng nhau đạt đến một nền tư pháp lành mạnh và công bằng
Tuy nhiên, việc hiểu chưa đúng về thẩm quyền của Trọng tài và Toà án trong việc giải quyết tranh chấp đã dẫn tới những thoả thuận trọng tài về thẩm quyền giải quyết tranh chấp không phù hợp với pháp luật Việt Nam cũng như thực tiễn xét xử của những cơ quan này Điều này gián tiếp gây khó khăn và mất thời gian cho bản thân các bên khi xác định thẩm quyền của cơ quan tài phán phù hợp khi tranh chấp xảy ra
Mục đích nghiên cứu của bài tiểu luận là nghiên cứu mối quan hệ giữa thẩm quyền của Tòa án cũng như thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam đối với thẩm quyền của Trọng tài Thương mại
B Nội dung
I Thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam
Thẩm quyền riêng biệt là trường hợp quốc gia nước sở tại tuyên bố chỉ có Tòa án nước họ mới có thẩm quyền đối với những vụ việc nhất định Nếu Tòa án nước khác vẫn tiến hành giải quyết đối với những vụ việc thuộc thẩm quyền riêng biệt thì bản án, quyết định được tuyên bố bởi Tòa án nước khác sẽ không được công nhận, cho thi hành tại quốc gia nước sở tại Tương tự như vậy, thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài
là những vụ việc mà chỉ có Tòa án Việt Nam mới có thẩm quyền giải quyết Thẩm quyền riêng biệt khác với thẩm quyền chung chủ yếu ở hai điểm: (1) Thẩm quyền riêng biệt chi quy định ở một số trường hợp cụ thể, còn thẩm quyền chung thì thường xác định theo các tiêu chí hoặc dấu hiệu nhất định (quy định chung cho tất
Trang 44
cả các trường hợp); (2) Thẩm quyền riêng biệt thể hiện ý chí của quốc gia có Tòa
án dành riêng cho mình quyền giải quyết một số loại vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, còn thẩm quyền chung không mang tính bắt buộc và có thể có nhiều quốc gia cũng có thẩm quyền giải quyết Do đó, nếu thuộc trường hợp thẩm quyền riêng biệt của Tòa án nước này mà Tòa án nước khác đưa ra giải quyết thì bản án, quyết định sẽ không được công nhận, cho thi hành tại Tòa án nước mà pháp luật nước đó quy định vụ việc đó thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án nước họ
Đối với thẩm quyền riêng biệt đây là sự tuyên bố của pháp luật Việt Nam về các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài mà chỉ có Tòa án Việt Nam mới có thẩm quyền giải quyết Thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam được quy định tại Điều 470 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015
Khoản 1 Điều 470 quy định những vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết riêng biệt của Tòa án Việt Nam gồm 3 trường hợp:
Thứ nhất, vụ án dân sự đó có liên quan đến quyền đối với tài sản là bất
động sản có trên lãnh thổ Việt Nam; Quy định này của Điều 470 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 là hoàn toàn hợp lý và phù hợp với thông lệ quốc tế Hầu hết pháp luật các quốc gia và các Điều ước quốc tế đều quy định những vụ án dân sự
có liên quan đến bất động sản đều thuộc thẩm quyền riêng biệt của quốc gia nơi có bất động sản
Thứ hai, vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam với công dân nước ngoài
hoặc người không quốc tịch, nếu cả hai vợ chồng cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài
ở Việt Nam”
Thứ ba, vụ án dân sự khác mà các bên được lựa chọn Tòa án Việt Nam để
giải quyết theo pháp luật Việt Nam hoặc Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và các bên đồng ý lựa chọn Tòa án Việt Nam
II Thẩm quyền của trọng tài thương mại
Trang 55
Nếu như tố tụng tòa án áp dụng các nguyên tắc phân định thẩm quyền theo lãnh thổ, theo trụ sở hoặc chỗ ở của bị đơn và sự thỏa thuận của nguyên đơn thì thẩm quyền của trọng tài chỉ là thẩm quyền vụ việc nếu được các bên có vụ việc lựa chọn đích danh Thẩm quyền của trọng tài không được phân định theo lãnh thổ
vì thế các bên tranh chấp có quyền thỏa thuận lựa chọn bất kỳ một tổ chức trọng tài nào để giải quyết tranh chấp của họ, không phụ thuộc vào nơi ở cũng như trụ sở của nguyên đơn hay bị đơn, cũng không phân được theo cấp xét xử vì chỉ có một cấp trọng tài và lại càng không phân định theo sự lựa chọn của nguyên đơn vị trọng tài chỉ có thâm quyền giải quyết tranh chấp khi các bên đều thống nhất lựa chọn và
có thỏa thuận trọng tài
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài thương mại theo nghĩa rộng bao gồm quyền xem xét và quyền giải quyết vụ tranh chấp Theo đó, thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài thương mại bao gồm hai yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau là thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền về nội dung Thẩm quyền về hình thức là quyền xem xét và phạm vi các loại việc trọng tài được quyền giải quyết Thẩm quyền về nội dung là quyền hạn giải quyết, quyết định giải quyết tranh chấp của trọng tài thương mại Nếu như thẩm quyền về nội dung chủ yếu gắn với hoạt động tố tụng trọng tài tại các Trung tâm trọng tài hoặc do trọng tài viên tiến hành như quyền xác minh sự việc, quyền thu thập chứng cứ, quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì thẩm quyền về mặt hình thức có thể được xem là tiền đề cho thẩm quyền về nội dung được tiến hành hay nói cách khác, vấn đề đặt
ra đầu tiên cần được giải quyết đối với vụ tranh chấp có thỏa thuận trọng tài là phải xem xét trọng tài có thẩm quyền về mặt hình thức không trước khi tiến hành các hoạt động tố tụng trong tài
Việc xác định thẩm quyền về mặt hình thức của trọng tài đối với một vụ tranh chấp sẽ dẫn đến việc loại trừ thẩm quyền xét xử của Tòa án và khi đó phán
Trang 66
quyết của trọng tài đối với việc giải quyết vụ tranh chấp sẽ không bị tòa án hủy với
lý do sai thẩm quyền
Do bản chất của trọng tài là hình thức tài phán mà quyền lực của nó được tạo nên bởi chính các bên trong quan hệ tranh chấp và tôn trọng quyền tự do định đoạt của các đương sự, pháp luật cũng quy định nguyên tắc loại trừ thẩm quyền của tòa
án khi các bên đã lựa chọn trọng tài bằng một thỏa thuận trọng tài như một điều khoản trong hợp đồng hoặc là điều khoản riêng Tuy nhiên, không phải mọi tranh chấp có thỏa thuận trọng tài đều thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài thương mại mà căn cứ xác định thẩm quyền của trọng tài theo Luật trọng tài thương mại
2010 được xây dựng dựa trên hai tiêu chí:
Thứ nhất: các quy định của pháp luật về những loại việc thuộc thẩm quyền
của trọng tài
Theo đó Điều 2 của Luật Trọng tài Thương mại 2010 quy định ba nhóm việc thuộc phạm vi thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài như sau:
1 Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại
2 Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại
3 Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng trọng tài
Với việc sử dụng phương pháp liệt kê trong quy định về phạm vi loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài thì có thể hiểu trọng tài chỉ có thẩm quyền giải quyết đối với ba nhóm loại việc quy định tại Điều 2 nêu trên
Nhóm thứ nhất: tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại Đối với nhóm này đòi hỏi các bên tranh chấp đều có hoạt động thương mại với phạm vi khái niệm hoạt động thương mại được quy định tại Luật thương mại 2015 với tiêu chỉ nhận diện là mục đích sinh lợi
Trang 77
Nhóm thứ hai: tranh chấp giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại Đối với nhóm loại việc này đòi hỏi chỉ cần một bên tranh chấp thực hiện hoạt động thương mại với mục đích sinh lời còn bên còn lại có thể tham gia quan hệ này với mục đích khác như sở hữu, tiêu dùng
Nhóm thứ ba: tranh chấp giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng trọng tài Với nhóm loại việc này thì tiêu chí thực hiện hoạt động thương mại không còn được đặt ra mà chỉ cần pháp luật chuyên ngành cho phép các bên tham gia quan hệ pháp luật được lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp thì vụ việc đương nhiên thuộc thẩm quyền của trọng tài
Thứ hai: sự thỏa thuận của các bên trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp
bằng một thỏa thuận trọng tài có hiệu lực
Thẩm quyền của trọng tài không phải là thẩm quyền đương nhiên mà là thẩm quyền theo sự lựa chọn, nghĩa là trọng tài chỉ có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp nếu được các bên lựa chọn bằng một thỏa thuận trọng tài có hiệu lực
Về bản chất, trọng tài là một quá trình thỏa thuận, điều này có nghĩa là các bên chỉ đưa vụ tranh chấp ra trọng tài nếu họ có thỏa thuận về điều đó Không tồn tại trọng tài có tính bắt buộc Vì vậy, ý định sử dụng trọng tài phải được hiện thực hóa bằng một thỏa thuận trọng tài và được đàm phán giữa các bên liên quan Thông qua thỏa thuận trọng tài, các bên tranh chấp thống nhất giao cho trong tài quyền thay mặt họ trong việc xem xét nội dung tranh chấp và đưa ra phán quyết có giá trị bắt buộc thi hành đối với các bên
III Mối quan hệ giữa thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam và thẩm quyền của Trọng tài Thương mại
Điều 6 Luật Trọng tài Thương mại quy định: “Trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được.”
Trang 88
Căn cứ vào quy định tại Điều 6 Luật Trọng tài thương mại, nếu Tòa án xác định được có thỏa thuận trọng tải giữa các bên thì phải từ chối thụ lý trừ trường hợp thỏa thuận trọng tài thuộc trường hợp vô hiệu được quy định tại Điều 18 và thỏa thuận trong tài không thể thực hiện được được quy định tại Điều 43 Luật trọng tài thương mại
Theo quy định tại Điều 6 Luật Trong tài thương mại 2010 có 2 trường hợp như sau:
Thứ nhất, các bên tranh chấp có thỏa thuận trọng tải mở một bên khởi kiện tại Tòa án thì Tòa ản phải từ chối thụ lý
Để xác định được các bên tranh chấp có thỏa thuận trọng tài hay không Tòa
án phải dựa trên các chứng từ, hợp đồng và các phụ lục của hợp đồng mà bên nguyên đơn gửi đến tòa Ngoài ra, thỏa thuận trọng tài giữa các bên phải được lập thành văn bản mới có giá trị pháp lý
Thứ hai, trường hợp các bên có thỏa thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Tòa án nếu Tòa án xác định được các bên có thỏa thuận trọng tài nhưng thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc không thể thực hiện được thì Tòa án có quyền thụ lý giải quyết Tòa án nơi nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp phải căn cứ vào Luật Trọng tài thương mại năm 2010 để xác định thỏa thuận trọng tài có thuộc trường hợp vô hiệu hoặc không thể thực hiện Theo quy định của Luật Trọng tài Thương mại, nếu thỏa thuận trọng tài thuộc một trong những trường hợp sau thì vô hiệu
Vai trò của thỏa thuận trọng tài được thể hiện ở những phương diện: Một là,
do thỏa thuận trọng tài được xác lập trên cơ sở ý chí tự nguyện và bình đẳng của chính các bên nên một khi đã xác lập thỏa thuận trọng tài thì không bên nào được
thoái thác việc giải quyết tranh chấp tại trọng tài; Hai là, một thỏa thuận trọng tài
có hiệu lực cho phép khẳng định tòa án không có thẩm quyền đối với việc giải quyết tranh chấp mà các bên đã có thỏa thuận trọng tài Nói cách khác, việc có một thỏa thuận trọng tài dẫn đến việc loại trừ sự can thiệp của tòa án vào việc giải
Trang 99
quyết tranh chấp, ít nhất là trước khi ban hành phán quyết, điều này không đồng nghĩa với việc loại trừ sự hỗ trợ của các cơ quan xét xử đối với hoạt động giải
quyết tranh chấp của trọng tài; Ba là, thỏa thuận trọng tài là cơ sở để xác định thẩm
quyền của Hội đồng trọng tài Bằng thỏa thuận trọng tài, các bên ký kết trao cho
Hội đồng trọng tài quyền giải quyết tranh chấp xảy ra giữa các bên; Bốn là, thỏa
thuận trọng tài cho phép lựa chọn nơi tiến hành tố tụng trọng tài, luật áp dụng và ngôn ngữ trọng tài trong những điều kiện phù hợp nhất Tuy nhiên, một thỏa thuận trọng tài chỉ có giá trị pháp lý khi nó đáp ứng được yêu cầu của pháp luật về nội dung và hình thức
Cũng theo quy định tại khoản 1 Điều 470 BLTTDS 2015 thì chỉ khi các bên lựa chọn Tòa án Việt Nam thì Tòa án Việt Nam mới có thẩm quyền riêng biệt Đây
là điểm mới của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 so với quy định của Điều 411
Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 Việc sửa đổi, bổ sung điều này được thực hiện theo hướng những loại vụ việc dân sự mà các đương sự lựa chọn Tòa án nước ngoài, Trọng tài, bao gồm Trọng tài Việt Nam, Trọng tài nước ngoài để giải quyết tranh chấp thì không thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam nhằm đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự trong việc giải quyết tranh chấp
Từ những căn cứ trên thì ta thấy rằng: Thẩm quyền riêng biệt chỉ tồn tại khi
có sự lựa chọn Tòa án Việt Nam cuar các bên Nếu trước đó các bên đã xác lập thỏa thuận trọng trên cơ sở ý chí tự nguyện và bình đẳng của chính các bên và thỏa thuận trọng tài này có hiệu lực thì Tòa án không có thẩm quyền đối với việc giải quyết tranh chấp mà các bên đã có thỏa thuận trọng tài Như vậy, việc có một thỏa thuận trọng tài dẫn đến việc loại trừ sự can thiệp của tòa án vào việc giải quyết tranh chấp và cũng đồng nghĩa rằng thẩm quyền riêng biệt của Tòa án không loại trừ thẩm quyền của Trọng tài Thương mại
Danh mục tài liệu tham khảo:
Trang 1010
1 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015
2 Luật Trọng tài Thương mại 2010
3 ThS Vũ Thị Hương: Hoàn thiện pháp luật Trọng tài Thương mại Việt Nam trong việc phân định thẩm quyền của Tòa án và Trọng taì Thương mại khi các bên
có thỏa thuận Trọng tài, Tạp chí nghề Luật, Số 1, 2015