Luận văn : Phân tích CK VN
Trang 11 Phân tích các loại rủi ro hệ thống trong đầu tư chứng khoán Bình luận của Anh (Chị) về rủi ro hệ
thống trên thị trường chứng khoán Việt Nam 5
2 Phân tích các loại rủi ro phi hệ thống trong đầu tư chứng khoán Bình luận của Anh (Chị) về rủi ro phi hệ thống trên thị trường chứng khoán Việt Nam 7
3 Trình bày các phương pháp đo lường rủi ro trong đầu tư chứng khoán 10
4 Trình bày các phương thức đầu tư chứng khoán Nhận xét của anh chị về hoạt động đầu tư chứng khoán ở Việt Nam hiện nay 12
5 Trình bày thu nhập và phương pháp xác định thu nhập trong đầu tư chứng khoán theo các phương thức đầu tư hưởng lợi, đầu tư nắm quyền kiểm soát và tạo lập thị trường 15
6 Phân tích mối quan hệ giữa thu nhập và rủi ro trong đầu tư chứng khoán 16
7 Trình bày thu nhập và rủi ro trong đầu tư chứng khoán theo phương thức đầu tư hưởng lợi 17 8 Trình bày thu nhập và rủi ro trong đầu tư chứng khoán theo phương thức đầu tư nắm quyền kiểm soát 18
9 Trình bày thu nhập và rủi ro trong đầu tư chứng khoán theo phương thức tạo lập thị trường 19 10 Trình bày các phương pháp xác định chỉ số giá chứng khoán: Phương pháp Passcher; Phương pháp Laspeyres; Phương pháp chỉ số giá bình quân Fisher; Phương pháp số bình quân giản đơn; Phương pháp bình quân nhân giản đơn 19
11 Trình bày nội dung, ý nghĩa giả thuyết thị trường hiệu quả Nhận xét của Anh (Chị) về mức độ hiệu quả của Thị trường chứng khoán Việt Nam 22
12 Trình bày các giả thuyết trong mô hình Markowitz 23
13 Trình bày nội dung và ý nghĩa của lý thuyết quản lý danh mục đầu tư Markowitz 24
14 Trình bày ý nghĩa và phương pháp xác định đường biên hiệu quả 32
15 Trình bày phương pháp xác định và ý nghĩa của đường CML 34
16 Trình bày phương pháp xác định và ý nghĩa đường SML 36
17 Trình bày các giả thuyết của mô hình CAPM 39
18 Trình bày nội dung, ý nghĩa của mô hình CAPM 41
Trang 219 Trình bày nội dung, ý nghĩa, phương pháp xác định hệ số β 44
20 Trình bày nội dung cơ bản của mô hình CAPM mở rộng 46
21 Trình bày nội dung, ý nghĩa của mô hình APT 48
22 Trình bày nội dung, ý nghĩa của các báo cáo tài chính 52
23 Trình bày nội dung, ý nghĩa, phương pháp xác định các tỷ số tài chính 55
24 Trình bày các phương pháp xác định giá cổ phiếu: Mô hình DDM; Mô hình DCF; Mô hình sử dụng số nhân thu nhập; Cách các định dòng tiền FCFE, FCFF 57
25 Trình bày nội dung, ý nghĩa của phân tích thị trường chứng khoán Nhận xét của anh chị về thị trường chứng khoán Việt Nam 61
26 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán Nhận xét của Anh (Chị) về TTCK Việt Nam hiện nay 62
27 Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố vĩ mô đến thị trường chứng khoán (Tình hình kinh tế xã hội; luật pháp; Lạm phát, lãi suất, tỷ giá, cán cân thương mại, v.v…) 66
28 Nhận xét của Anh (Chị) về ảnh hưởng của các nhân tố vĩ mô đến thị trường chứng khoán Việt Nam 67
29 Trình bày ý nghĩa của phân tích ngành kinh tế 68
30 Phân tích ảnh hưởng của chu kỳ kinh doanh tới các ngành kinh tế 69
31 Phân tích tác động của thay đổi trong cấu trúc kinh tế đến ngành kinh tế 72
32 Phân tích các giai đoạn trong chu kỳ sống của ngành 73
33 Phân tích 5 nhân tố cạnh tranh trong mô hình M Porter 75
34 Áp dụng phân tích 5 nhân tố cạnh tranh cho 01 ngành kinh tế 78
35 Trên cơ sở lý thuyết phân tích ngành, lựa chọn 01 ngành để đầu tư trong giai đoạn hiện nay 80 36 Phân tích sự khác biệt giữa phân tích công ty và phân tích cổ phiếu 86
37 Phân tích các chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp 87
38 Trình bày kh¸i niÖm, quy tr×nh, néi dung ph©n tÝch c«ng ty 88
Trang 339 Trình bày khái niệm và các chiến lược quản lý danh mục đầu tư cổ phiếu Nhận xét của Anh
(Chị) về hoạt động quản lý DMĐT cổ phiếu ở Việt Nam hiện nay 89
40 Trình bày khái niệm và các chiến lược quản lý danh mục đầu tư trái phiếu Nhận xét của Anh (Chị) về hoạt động quản lý DMĐT trái phiếu ở Việt Nam hiện nay 90
41 Trình bày khái niệm và các giải định trong phân tích kỹ thuật 92
42 Trình bày các dạng đồ thị cơ bản trong phân tích kỹ thuật 94
43 Trình bày các khái niệm cơ bản trong phân tích kỹ thuật: Xu thế và đường xu thế; Kênh; Mức hoàn lại; Khung giao dịch; Mức kháng cự và hỗ trợ; Điểm đột phá 95
44 Trình bày các hình mẫu kỹ thuật cơ bản trong phân tích kỹ thuật 97
45 Trình bày các nội dung cơ bản của lý thuyết DOW 98
46 Trình bày các nội dung cơ bản của lý thuyết sóng Elliott 102
47 Trình bày những khó khăn trở ngại trong phân tích kỹ thuật Nhận xét về hoạt động PTKT ở Việt Nam 106
48 1.Phân tích các phương pháp xác định rủi ro tài chính 110
49 2.Trình bày khái niệm, phương pháp xác định thu nhập của tài sản tài chính 113
55 3.Trình bày nội dung, ý nghĩa, phương pháp xác định tỷ lệ yêu cầu của nhà đầu tư 115
56 4.Phân tích nội dung, ý nghĩa của giả thuyết thị trường hiệu quả 115
57 5.Phân tích nội dung các giả định của mô hình định giá tài sản tài chính (CAPM) 115
58 6.Phân tích ý nghĩa, phương pháp xác định đường thị trường vốn (CML) và đường thị trường chứng khoán (SML) 115
59 7.Phân tích nội dung cơ bản và ý nghĩa của mô hình định giá tài sản tài chính (CAPM) 115
60 8.Trình bày khái niệm, mục đích, ý nghĩa và phương pháp phân tích thị trường chứng khoán 115 61 9.Khái niệm, mục đích, ý nghĩa và phương pháp phân tích ngành 115
11 10.Trình bày khái niệm, mục đích, ý nghĩa và phương pháp phân tích công ty 119
12 11.Trình bày kết luận, ý nghĩa, nội dung phương pháp phân tích báo cáo tài chính Phân biệt phân tích tài chính dưới giác độ DN và phân tích tài chính dưới giác độ TTCK 123
Trang 413 12.Trình bày khái niệm, mục đích, ý nghĩa của phân tích kỹ thuật Phân tích các điều kiện
ứng dụng phân tích kỹ thuật trên TTCK Việt Nam 125
14 13.Phân tích các giả định trong phân tích kỹ thuật 127
15 14.Trình bày các công cụ sử dụng trong phương pháp kỹ thuật, các hình mẫu kỹ thuật, các chỉ dẫn kỹ thuật và các chỉ số động lượng, phân tích khối lượng giao dịch 128
16 15.Phân tích cơ sở lý luận của phân tích kỹ thuật 139
20 16.Trình bày các nội dung cơ bản mô hình DDM 139
21 17.Trình bày các nội dung cơ bản mô hình DCF 140
Trang 51 Phân tích các loại rủi ro hệ thống trong đầu tư chứng khoán Bình luận của Anh (Chị) về rủi ro hệ thống trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Rủi ro được hiểu là sự biến động tiềm ẩn ở những kết quả, là khả năng xảy ra những điềukhông mong muốn và khi nó xảy ra thì mang lại những tổn thất Khác với sự không chắc chắn, rủi
ro có thể đo lường được Theo quan điểm truyền thống, rủi ro mang lại các tổn thất xấu Trong tàichính, rủi ro được định nghĩa là khả năng (hay xác suất) xảy ra những kết quả đầu tư ngoài dựkiến, hay cụ thể hơn là khả năng làm cho mức sinh lời thực tế nhận được trong tương lai khác vớimức sinh lời dự kiến ban đầu
Rủi ro hệ thống (systematic risk) là các yếu tố tác động lên tất cả các công ty trên thịtrường, và tất cả các công ty đều bị chi phối bởi rủi ro hệ thống, nhà đầu tư không thể đa dạng hoá
để giảm thiểu rủi ro hệ thống Do đó, rủi ro này còn được gọi là rủi ro không thể đa dạng hoá(non-diversifiable risks).Rủi ro hệ thống bao gồm: rủi ro thị trường, rủi ro lãi suất, rủi ro sức mua
và rủi ro chính trị
1) Rủi ro thị trường: là sự biến động giá chứng khoán do tâm ký của các nhà đầu tư Gía
chứng khoán có thể giao động mạnh trong một khoảng thời gian ngắn mặc dù thu nhập của DNvẫn không thay đổi Nguyên nhân của hiện tượng này khác nhau, phụ thuộc chủ yếu vào cáchnhìn nhận của các nhà đầu tư về thị trường nói chung và một nhóm cổ phiếu nói riêng Sự nhìnnhận khác nhau này sẽ tác động vào giá chứng khoán và làm mức sinh lời của chứng khoán thayđổi Rủi ro thị trường xuất hiện khi có những phản ứng của các nhà đầu tư trước các sự kiện cóthể là hữu hình hoặc vô hình như các sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội
Các sự kiện vô hình nảy sinh do tâm lý của nhà đầu tư trên thị trường Yếu tố tâm lý làm thịtrường phản ứng với mức độ vượt quá tác động của các sự kiện hữu hình Phản ứng dây chuyềnhay tâm lý bầy đàn lam cho thị trường luôn biến động, thiếu ổn định Nhiều nhà đầu tư đã lợidụng yếu tố tâm ký này để thực hiện hành vi thao túng giá chứng khoán Sở dĩ có hiện tượng bầyđàn là do trên thị trường có sự tham gia của 3 nhóm đầu tư: nhóm thứ nhất là các nhà đầu tư thậntrọng, thứ hai là các nhà đầu tư “free rider” (rủi ro thị trường lớn khi tỷ trọng của nhóm này cao)
và thứ ba là các nhà đầu tư “vĩ nhân”
Mức độ rủi ro thị trường ở các nước khác nhau là khác nhau Ở các thị trường phát triển,thị trường là nơi dành cho các nhà đầu tư lớn, nhà đầu tư có tổ chức nên rủi ro thị trường sẽkhông lớn Ngược lại ở những thị trường mới nổi và đang phát triển, thị trường chủ yếu là các nhàđầu tư cá nhân với quy mô nhỏ, thiếu kiến thức và bản lính đầu tư, tâm lý ăn theo lớn làm cho rủi
ro thị trường rất cao
Để giảm rủi ro thị trường, các cơ quan quản lý nhà nước cần tăng cường hoạt động đàotạo ,bồi dưỡng kiến thức cho nhà đầu tư, đồng thời cần minh bạch hóa về thông tin, kiểm soátchặt chẽ nhằm hạn chế các hành vi phi đạo đức như thao túng giá, kinh doanh nội gián, đầu cơ
Trang 6Cần phát triển hoạt động tư vấn của các công ty chứng khoán cũng như tăng số lượng và chấtlượng của các nhà đầu tư có tổ chức nhằm tăng chất lượng đầu tư.
2) Rủi ro lãi suất là sự biến động giá chứng khoán do sự thay đổi của lãi suất gây ra Khi đầu tư
vào các chứng khoán có thu nhập cố định, nếu lãi suất thị trường tăng lên, cơ hội đầu tư vào cáctài sản có mức lợi tức cao hơn sẽ mất đi Trong đó sự tăng lên của lãi suất, giá thị trường của tàisản đã đầu tư sẽ bị giảm và nhà đầu tư sẽ bị thiệt về giá khi bán các tái sản đó Thời hạn của cáctài sản đầu tư càng lớn, ảnh hưởng của lãi suất tới giá thị trường của nó sẽ càng lớn, mức độ tổnthất giá trị của chủ đầu tư sẽ càng cao Điều này ít xảy ra với các chứng khoán có thu nhập biếnđổi, chẳng hạn trái phiếu có lãi suất thả nổi
Lãi suất thay đổi làm cho chi phí và doanh thu của doanh nghiệp thay đổi Sự thay đổi nàyphụ thuộc vào cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn của DN Nếu DN sử dụng nhiều nợ, lãi suấttăng lên làm tăng chi phí lãi vay phải trả và làm cho lợi nhuận của DN sụt giảm, giá cổ phiếugiảm và ngược lại
Để hạn chế rủi ro lãi suất, nhà đầu tư cần nghiên cứu đầy đủ các nhân tố ảnh hưởng đến lãisuất bao gồm: chu kỳ kinh tế, lạm phát, sự thay đổi trong chính sách tiền tệ của CPhủ, quan hệcung cầu về vốn trên thị trường tài chính… Để dự báo được sự thay đổi của lãi suất trong tươnglai; sử dụng các công cụ dẫn suất như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn…
3) Rủi ro sức mua là sự thay đổi giá trị thực của chứng khoán do sự thay đổi sức mua của
đồng tiền Nếu lạm phát vượt qua tỷ lệ lạm phát dự tính, giá trị thực của đồng tiền sẽ bị giảm vàlàm cho giá trị thực của khoản đầu tư bị giảm giá trị
Nếu coi khoản đầu tư là một khoản tiêu dùng ngay, một người mua cổ phiếu đã bỏ lỡ cơ hộimua hàng hóa hoặc dịch vụ trong suốt thời gian đầu tư Trong khoảng thời gian đó, nếu giá cảdịch vụ tăng , nhà đầu tư sẽ mất đi một phần sức mua Thông thường các nhà đầu tư dự kiến trướcmức độ mất giá của đồng tiền qua tỷ lệ lạm phát dự kiến và họ sẽ chỉ chấp nhận đầu tư khi lợi tứcthu được bù đắp cho họ tổn thất này Khi lạm phát thực tế khác với tỷ lệ lạm phát dự kiến, rủi rosức mua sẽ phát sinh Nói một cách khác Cả giảm phát và lạm phát đều tác động tới giá chứngkhoán do đó nhà đầu tư sẽ yêu cầu tỷ lệ lợi tức khác đi
4) Rủi ro chính trị là sự bất ổn giá chứng khoán do sự thay đổi về môi trường chính trị xã
hội, chẳng hạn: chiến tranh, bãi công, biểu tình, sự thay đổi về thể chế, chính sách… Sự thay đổinày sẽ tác động tới thu nhập và rủi ro của luồng thu nhập của các DN, từ đó thay đổi giá trị củachứng khoán Sự thay đổi của chính trị cũng tác động đến tâm lý của các nhà đầu tư, từ đó ảnhhưởng đến hành vi mua bán chứng khoán của họ
Rủi ro hệ thống trên thị trường VN
Đối với thị trường chứng khoán, có khả năng nhà đầu tư nước ngoài phải thu hồi nguồnvốn và bán chứng khoán Điều này tác động đến dự trữ ngoại hối và giá cả trên thị trường chứng
Trang 7khoán Nhà đầu tư nước ngoài bán ra nhiều hơn mua vào sẽ làm giảm giá chứng khoán của ViệtNam.
Những tác động chính từ cuộc khủng hoảng hiện tại đối với hệ thống tài chính Việt Namchủ yếu là yếu tố tâm lý Thấy Dow Jones sụp thì VN-Index cũng xuống theo, trong khi hai thứdường như không liên quan nhiều với nhau.Năm 2008 là năm mà VN chịu ảnh hưởng nặng nềnhất của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới.Trong khi chỉ số công nghiệp Dow Jones dẫn đầu
vụ tụt giá, với mức sút giảm hơn 5% và xuống dưới mức 10,000 điểm lần đầu tiên trong vòng 4năm thì chỉ số VN-Index giảm mạnh.Nếu tính từ số điểm đóng cửa của phiên giao dịch đầu tiêncủa năm (2/1/2008), chỉ số VN-Index là 921,07 điểm, thì đóng cửa phiên giao dịch cuối năm(31/12/2008) , chỉ số này chỉ còn 315,62 điểm, tức đã mất đi 605,45 điểm (giảm 65,33%) Trong
số 245 phiên giao dịch của sàn HOSE, chỉ có 109 phiên chỉ số VN-Index tăng điểm, còn lại 136phiên chỉ số này đều lao dốc Hiện nay, thị trương CK đã dần phục hồi, chỉ số VN Index đầu năm
2009 là 300,04 điểm, mức thấp nhất là 235,50 điểm(tháng 2 năm 2009), mức chỉ số ngày30/10/2009 là 587,12 điểm gấp 2,49 lần so với thời điểm thấp nhất và tăng trưởng gần 100% sovới đầu năm 2009.Bên cạnh những tác động từ việc phục hồi của hầu hết các TTCK và kinh tếthế giới, những biến đổi theo chiều hướng đi lên của TTCK VN trong thời gian gần đây phản ánhniềm tin của nhà đầu tư vào thị trường, kết quả lạc quan của nền kinh tế với chính sách kích cầucủa CPhủ
Chính sách lãi suât của NHNN đc điều chỉnh một cách linh hoạt với mục tiêu vừa kiềmchế lạm phát vừa tăng trưởng kinh tế Trong năm 2008, lãi suất cơ bản được điều chỉnh 8 lần từ8,75% (2/08), tăng lên 12% (5/08); 14%(6/08); xuống 13% (10/08); xuống 12% (5/11/08); 11%(21/11/08); 10%(5/12/08); 8,5% (22/12/08) Đến 2009 lãi suất được điều chỉnh giảm xuống còn7,0% từ 1/12/09 lên thành 8,0% Việc thay đổi lãi suất nhanh như vậy ảnh hưởng không nhỏ đếnlợi nhuận cũng như quyết đinh đầu tư của các nhà đầu tư
Để TTCK VN giữ đc mức tăng trưởng ổn định, yếu tố phát triển bền vững cần được xemxét và thể chế hóa bằng các quy phạm pháp luật và chính sách phát triển của thị trường trong dàihạn
2 Phân tích các loại rủi ro phi hệ thống trong đầu tư chứng khoán Bình luận của Anh (Chị) về rủi ro phi hệ thống trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Rủi ro phi hệ thống (unsystematic risk) là những yếu tố tác động gắn liền với từng công tyriêng biệt, như rủi ro kinh doan, rủi ro tài chính của công ty đó, mà không ảnh hưởng đến cáccông ty khác (trừ các công ty lớn) Để giảm thiểu rủi ro loại này, nhà đầu tư thường đa dạng hoádanh mục của mình Do vậy, rủi ro phi hệ thống còn được gọi là rủi ro có thể đa dạng hoá(diversifiable risks)
Rủi ro phi hệ thống= Rủi ro DN – Rủi ro hệ thống
Trang 81) Rủi ro kinh doanh là sự không chắc chắn về thu nhập của DN do bản chất của hoạt động
kinh doanh Sự không ổn định hay không chắc chắn này bắt nguồn từ những khó khăn trong cáckhâu khác nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh như chi mua nguyên vật liệu đầu vào, tiêuthụ sản phấm
Rủi ro kinh doanh được đo bằng các sai lệch của các dòng thu nhập thời gian qua
RRKD= Độ lệch chuẩn của các luồng thu nhập hoạt động/ Thu nhập hoạt động trung bình
n
n i
OE
OE OE
1 1
2
/
/)
(
Trong đó: OEi là thu nhập từ hoạt động kinh doanh của công ty năm thứ i và n là số năm
Bên cạnh việc tính RRKD tổng thể,ta cần phải tính đến 2 nhân tố tác động đến sự biến đổi thunhập hoạt động là mức biến đổi sản lượng và đòn bẩy hoạt động
RRKD có thể xuất hiện do yếu tố nội sinh hoặc ngoại sinh Yếu tố nội dinh phát sinh trongquá trình vận hành hoạt động cuat DN như:yếu tố quản lý, cơ cấu và chất lượng tài sản Yếu tốngoại sinh nằm ngoài sự kiểm soát của DN phụ thuộc vào môi trường hoạt động của DN như sựthay đổi của chính sách tín dụng, chính sách lãi suất, sự phân bổ dân số, vấn đề tăng trưởng và ổnđịnh kinh tế… Những DN có yếu tố nội sinh tốt sẽ dễ chống đỡ trước những thay đổi của môitrường bên ngoài và ngược lại
2) Rủi ro tài chính là loại rủi ro mà công ty phải đối mặt khi huy động vốn từ các khoản nợ để
tài trợ cho các hoạt động của công ty.RRTC liên quan đến việc sử dụng nợ- đòn bẩy tài chính của
DN RR này tiềm ẩn trong cấu trúc vốn của DN Mức độ rủi ro tài chính có thể chấp nhận đượccủa công ty phụ thuộc rất nhiều vào rủi ro kinh doanh Với một công ty nào đó có mức độ RRKDthấp(thu nhập từ hoạt động ổn định) các nhà đầu tư sẽ chấp nhận một RRTC cao hơn
Trong phân tích RRTC, ta sử dụng 3 chỉ tiêu
Tỷ lệ nợ với VCSH=Tổng nợ dài hạn/ Tổng VCSH
Các tỷ lệ so sánh giữa thu nhập với chi phí cố định và chi phí trả lãi
Khả năng thanh toán lãi vay = EBIT/Nợ phải trả
Cho biết công ty sử dụng bao nhiêu % trong tổng số thu nhập của mình để trang trảicác gánh nặng nợ nần
Khả năng thanh toán nợ=(EBIT+Chi phí trả lãi thuê dự tính)/(Tổng chi phí trả lãi + chiphí trả lãi thuê dự tính)
Các tỷ lệ so sánh dòng tiền với chi phí tài chính hoặc so sánh các dòng tiền với giá trị
sổ sách của các khoản nợ chưa trả
Trang 9(1) Tỷ lệ trang trải chi phí tài chính cố định bằng tiền mặt= (lượng tiền mặt ròng thu về từcác hoạt động+ chi phí trả lãi+ chi phí trả lãi thuê dự tính)/(chi phí trả lãi+ chi phí trảlãi thuê dự tính)
(2) Tỷ lệ dòng tiền mặt trên các khoản nợ phải trả lãi = Lượng tiền mặt ròng thu về từ cáchoạt động/(Tổng nợ dìa hạn+ Nợ phải trả lãi hiện hành)
Việc sử dụng nợ sẽ làm tăng nghĩa vụ tài chính đối với DN do phải trả vốn và lãi,đồng thời do bị ràng buộc về nghĩa vụ thanh toán, DN sẽ phải đối mặt với dòng tiền ralớn khi phải thanh toán nợ gốc và lãi Khi DN k thanh toán nợ gốc và lãi đúng hạn,
DN sẽ gặp khó khăn về tài chính do uy tín sụt giảm, thậm chí đối mặt với nguy cơ phásản.DN k sử dụng nợ sẽ k có RRTC
3) Rủi ro tỷ giá là khả năng biến động giá chứng khoán khi tỷ giá thay đổi.
Khi tỷ giá thay đổi sẽ làm cho giá trị của chứng khoán mua bằng ngoại tệ thay đổi, và thunhập của DN xuất- nhập khẩu thay đổi Cụ thể: khi tỷ giá thay đổi sẽ làm cho giá vốn của DNnhập khẩu thay đổi và chi phí lãi vay, khả năng trả nợ của DN vay nợ bằng ngoại tệ thay đổi
Để hạn chế và khắc phục rủi ro tỷ giá các nhà đầu tư có thể sử dụng các công cụ phái sinhnhư hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn…
4) Rủi ro thanh khoản là sự bất ổn của giá chứng khoán khi điều kiện giao dịch thay đổi Các
loại chứng khoán khác nhau sẽ có độ thanh khoản khác nhau Nếu số lượng chứng khoán lớn,lượng chứng khoán khả mại sẽ nhiều Số lượng cố đông lớn, đặc biệt là cổ đông bên ngoài DN sẽlàm tính thanh khoản cao hơn
Sự thay đổi của tính thanh khoản chứng khoán có thể do tác động của những thay đổitrong cấu trúc cổ đông; do sự thay đổi về tâm lý nhà đầu tư; do sự thay đổi về phương thức giaodịch; sự thay đổi chính sách; hoặc do sự thay đổi của thị trường Như việc giảm thời gian thanhtoán từ T+3 xuống T+1 sẽ làm tăng tính thanh khoản của chứng khoán
Bình luận về RR phi hệ thống trên TTCK VN
Biến động của cổ phiếu trên thị trường VN nhìn chung là tương đối lớn Trongnăm 2008, TTCK VN được ghi nhận là một trong những thị trường có mức sụt giảm mạnh nhấtthế giới khi chỉ số VN Index giảm khoảng 65% và chỉ số HASTC Index giảm tới 67,5% so vớithời điểm cuối năm 2007 Cổ phiếu của nhiều DN kinh doanh hiệu quả đã về gần mệnh giá, giátrị thị trường chỉ bằng khoảng 50-70% giá trị sổ sách Tại HOSE:Nếu tính từ số điểm đóng cửacủa phiên giao dịch đầu tiên của năm (2/1/2008), chỉ số VN-Index là 921,07 điểm, thì đóng cửaphiên giao dịch cuối năm (31/12/2008), chỉ số này chỉ còn 315,62 điểm, tức đã mất đi 605,45điểm (giảm 65,33%).Trong 10 cổ phiếu có giá trị vốn hóa lớn nhất thị trường, có 1 cổ phiếu tănggiá, 4 cổ phiếu giảm giá Có tới 5 mã đứng giá tham chiếu là STB, VIC, VNM, VPL, HAG vớimức giá đóng cửa tương ứng là 18.400 đồng/cổ phiếu, 79.500 đồng/cổ phiếu, 83.000 đồng/cổphiếu, 66.000 đồng/cổ phiếu và 63.000 đồng/cổ phiếu xét về mức tuyệt đối thì DHG là cổ phiếu
Trang 10tăng giá mạnh nhất khi tăng 5.000 đồng lên mức 119.000 đồng/cổ phiếu, với tổng khối lượnggiao dịch hơn 31 nghìn cổ phiếu Ngược lại, SFC là cổ phiếu giảm giá mạnh nhất khi giảm 2.400đồng xuống còn 47.600 đồng/cổ phiếu, với 990 cổ phiếu được giao dịch.
Trong 4 chứng chỉ quỹ đang niêm yết trên HoSE, có 2 mã tăng giá, 1 mã giảm sàn và 1
mã đứng giá Cụ thể, PRUBF1 giữ nguyên mức giá tham chiếu là 3.900 đồng/chứng chỉ quỹ.VFMVF1 tăng 100 đồng (tương đương 1,32%), đạt 7.700 đồng/chứng chỉ quỹ VFMVF4 tăng
100 đồng (tương đương 2,50%), đạt 4.100 đồng/chứng chỉ quỹ MAFPF1 giảm 100 đồng (tươngđương 2,70%), chỉ còn 3.600 đồng/chứng chỉ quỹ
Đến năm 2009 Tính từ lúc VN-Index tạo lập đỉnh mới trong năm 2009 này là 624 điểm(trong phiên đó có lúc tăng lên 633 điểm) vào ngày 22-10 cho đến ngày 10-11, VN-Index đã giảmxuống còn 524 điểm, mất 100 điểm chỉ trong vòng 13 phiên giao dịch Đây là đợt giảm sâu và có
độ dốc lớn nhất của biểu đồ VN-Index tính từ đầu năm đến nay
Tính thanh khoản của thị trường bị sụt giảm mạnh trong những thánh đầu năm 2009, giátrị giao dịch bình quân/ ngày chỉ con 301 tỷ đồng/ngày, trong khi đó con số này của năm 2008 là
754 tỷ đồng Đến cuối năm 2009, tỷ lệ thanh khoản tăng, đạt mức kỷ lục vào ngày 23/10/09 với
137 triệu cổ phiếu đc chuyển nhượng, đạt giá trị gdich 6453 tỷ đồng trên sàn HOSE và 67 triệu
cổ phiếu với giá trị gdich 3049 trên sàn HASTC
Nguyên nhân: vì nền kinh tế nước ta chính thức mở cửa khoảng 23 năm,nền kinh tế cònnon trẻ.Các chính sách điều hành của NNước chưa thực sự linh hoạt với sự biến động bất thườngcủa nền kinh tế; hành lang pháp lý còn chưa hoàn thiện; năng lực hoạt động của các DN trongnước chưa cao………
3 Trình bày các phương pháp đo lường rủi ro trong đầu tư chứng khoán
Hai phương pháp đo lường rủi ro trong đầu tư chứng khoán cơ bản là: độ dao động và sử dụngbeta
PP1 độ dao động: sử dụng chỉ tiêu phương sai và độ lệch chuẩn
1 Độ lệch chuẩn: σ= (Ri E(R)) 2 *Pi với i=1 đến n
Trong đó Pi: Xác suất của từng trạng thái
Ri: Doanh lợi kỳ vọng ứng với từng trạng thái
2 Phương sai của danh mục đầu tư
[ ( E ( Rs E ( Rp ))2* Ps
2
Trong đó : E(Rs): Doanh lợi kỳ vọng của danh mục ứng với các trạng thái
E(Rp): Doanh lợi kỳ vọng của danh mục
Ps: Xác suất xảy ra của các tình huống
Trang 11Theo mô hình Markowit
+)danh mục có N tài sản với tỷ trọng w=(w1; w2; ; wn )
Vecto lợi suất kỳ vọng của các tài sản R= (r1; r2; ; rn)
Lợi suất danh mục Rp = wk* rk
Phương sai của danh mục:2 wi*wj*ij
+) Danh mục gồm 2 chứng khoán: rp w1* r1 w2* r2
) (
*
*
* 2 2
* 2 1
*
2 2
2 2 2
r r w
w w
COV
r *
Hệ số tương quan càng nhỏ thì khả năng giảm thiểu rủi ro càng lớn
Nếu r = +1 thì không giảm được rủi ro
PP2 Hệ số beta đo lường sự biến động tỷ suất lợi nhuận của từng cổ phiếu so với sự biến
động tỷ suất lợi nhuận của toàn bộ thị trường
3.Xác định chuỗi return của giá chứng khoán để có được giá chứng khoán trong quá khứ.
Pt= Pđóng cửa * hệ số tách tích lũy + DPS* hệ số tách tích lũy
4.Xác định beta của chứng khoán đã niêm yết
B1: Xác định chuỗi lợi suất Ri và Rm
B2: Xác định hiệp phương sai Cov(Ri,Rm)= ( ) * (1 )
Ri Ri
Trang 12 B3: Xác định β =
) (
) , (
Rm Var
Rm Ri Cov
5.ƯL beta của chứng khoán chưa niêm yết
B1: Xác định tỷ trọng đầu tư theo ngành tại DN
B2: Tính beta của các ngàh hoặc DN điển hình
B3: Tính theo công thức : i wj*j
Điều chỉnh hệ số beta khi tính đến tác động của đòn bẩy và thuếTNDN
E
D T
L UL
*)1(
1
E D T E
D T
debt u
L ( 1 ( 1 ) * / ) ( 1 ) /
Ta nhận thấy beta so sánh sự đồng biến động của chứng khoán và thị trường với sự biếnđộng riêng biệt của thị trường Hệ số này càng lớn chứng tỏ sự biến động của chứng khoán cànglớn so với sự biến động của thị trường
Beta được xác định với đầu vào là các tỷ suất lợi nhuận, mà tỷ suất này được tính toán dựatrên các mức giá của cổ phiếu theo thời gian Xét về mặt toán học, beta chỉ là một công cụ đolường khả năng biến động giá của các cổ phiếu so với sự biến động của chỉ số thị trường, nhưng
nó là một đại diện cho rủi ro của doanh nghiệp Ta có thể giải thích vấn đề này bằng EMH(Efficient Market Hyppothesis - giả thuyết thị trường hiệu quả) Theo thuyết này, giá cả chứngkhoán sẽ phản ánh tất cả mọi hoạt động của doanh nghiệp Và như vậy, beta đo lường rủi ro trong
sự thay đổi mức giá của cổ phiếu, cũng chính là đo lường rủi ro của doanh nghiệp
4 Trình bày các phương thức đầu tư chứng khoán Nhận xét của anh chị về hoạt động đầu tư chứng khoán ở Việt Nam hiện nay
Đầu tư chứng khoán là một loại hình đầu tư tài chính Trong hoạt động này nhà đầu tư bỏ tiền
ra để mua các chứng khoán bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, chứng khoán phái sinh Gía tri của cácchứng khoản phụ thuộc vào năng lực tài chính của nhà phát hành và quan hệ cung cầu của chứngkhoán trên thị trường Hoạt động đầu tư chứng khoán là hoạt động phức tạp, đòi hỏi các nhà đầu
tư phải có trinh độ chuyên môn cao, am hiểu về thị trường, đồng thời phải có thị trường chứngkhoán phát triển, tạo ra sự sẵn có của các công cụ đầu tư có tính thanh khoản cao
Các phương thức đầu tư chứng khoán:
1) Theo hình thức đầu tư:
Trang 13Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt độngđầu tư.
Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy
tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mànhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư
Như vậy, đầu tư trực tiếp bỏ vốn vào các tài sản thực, do vậy làm tăng năng lực sản xuất của nềnkinh tế còn đầu tư gián tiếp thi không
2) Theo thời hạn đầu tư:
Đầu tư ngắn hạn: thương có kỳ hạn từ 1 năm trở xuống, chủ yếu là hoạt động đâut tưngân quỹ, hoạt động đầu tư hưởng lợi và hoạt động đầu tư phòng vệ
Đầu tư dài hạn: có kỳ hạn trên 1 năm thường tập trung ở hoạt động đầu tư nắm quyềnkiểm soát, đầu tư góp vốn kinh doanh và hoạt động góp vốn của các nhà đầu tư chiến lược
3) Theo mục đích đầu tư:
Đầu tư ngân quỹ: thường được thực hiện bới các tổ chức kinh tế và các nhà đầu tư lớn.Xuất phát từ nhu cầu thanh toán chi trả, nhu cầu dự phòng và dự trữ, thay vì phải nắm giữ mộtlượng tiền khá lớn, các tổ chức kinh tế và các nhà đầu tư lớn thường đầu tư vào các chứng khoánngắn hạn có tính thanh khoản cao như: tín phiếu kho bạc, CDs, kỳ phiếu ngân hàng, thươngphiếu…
Đầu tư hưởng lợi: lợi nhuận từ hoạt động đầu tư có thể có từ lợi tức từ tài sản đầu
tư như cổ tức được phân phối hàng năm, hay lợi tức từ trái phiếu;chênh lệch giá chứng khoán vàcác quyền lợi khác nếu có Hoạt động đầu tư hưởng lợi có thể bao gồm:
Kinh doanh chênh lệch giá: là hoạt động mua bán chứng khoán nhằm tìm kiếm lợinhuận trong ngắn hạn từ chênh lệch giá chứng khoán
Hoạt động đầu cơ: là hoạt động đầu tư chứng khoán nhằm tìm kiếm lợi nhuận từlợi tức và chênh lệch giá trong dài hạn Hoạt động đầu cơ làm cho chứng khoán trở nên khanhiếm, giá chứng khoán tăng và nhà đầu tư có thể tìm kiếm đc lợi lớn từ tăng giá chứng khoán
Kinh doanh giảm giá: là hoạt động đầu tư hưởng lợi khi có hiện tượng giảm giáchứng khoán Khi dự báo giá chứng khoán giảm, nhà đầu tư sẽ bán chứng khoán để chờ hạ giá vàmua lại Phần chênh lệch giá sau khi trừ đi chi phí giao dịch sẽ là thu nhập của nhà bán kinhdoanh giảm giá
Tạo lập thị trường: Là trường hợp nhà đầu tư, thường là các công ty chứng khoán,các NHTM đảm nhận thị trường cho các loại chứng khoán trên thị trường OTC Họ có thể thu đc
Trang 14lợi tức đầu tư từ cổ tức, trái tức, chênh lệch tăng giá chứng khoán, tiền hoa hồng khi thực hiệnmôi giới cho các nhà đầu tư, được miễn giảm thuế,miễn giảm chi phí giao dịch, được miễn phíthông tin.Hoạt động tạo lập thị trường có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính thanh khoảncho các chứng khoán.
Đầu tư phòng vệ: các công cụ phòng vệ nhằm giúp các nhà đầu tư phòng tránh rủi
ro như hợp đồng giao sau, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền mua…
Đấu tư nắm quyền kiểm soát: Cổ phiếu cho phép CSH có quyền kiểm soát công typhát hành
thông qua quyền được nhận thông tin, quyền tham dự và biểu quyết tại đại hội cổđông Số lượng cổ phiếu nắm giữ sẽ quyết định khả năng biểu quyết, kiểm soát của các nhà đàu
tư Thông qua hoạt động đầu tư vốn, nhà đầu tư có thể tham gia hội đồng quản trị nhằm thực hiệnhoạt động quản lý
Hoạt động đầu tư chứng khoán ở VN hiện nay: các nhà đầu tư lớn , có tổ chức còn
chiếm tỷ lệ nhỏ trong khi đó tỷ trọng của các nhà đầu tư cá nhân chiếm tỷ lệ lớn
Năm 2007 phần lớn nhà đầu tư cá nhân mua chứng khoán để đầu cơ ăn chênh lệch nên có tâm
lý nóng vội, ít quan tâm xem công ty mình sở hữu CP hoạt động thế nào mà chỉ căn cứ vào tínhthanh khoản cao hay thấp, có khả năng “sốt” hay không Nhiều nhà đầu tư cũng thú thực họkhông đủ thì giờ đi học và kiến thức để nắm bắt những công ty nào lãi thực, lãi giả và qui luậtgiao dịch của thị trường mà chủ yếu ra các sàn “nghe hơi nồi chõ”, đầu tư theo những người khác.Bởi thế vẫn có những đợt tụt dốc của những CP Vinamilk, Sacombank, TDH… dù các công tynày vẫn đang kinh doanh tốt
Tâm lý bầy đàn:Chứng minh bằng số liệu và mô hình thống kê toán cho thấy Hiệu ứng
bầy đàn rất mạnh ở Việt Nam, và theo số liệu của chúng tôi là mạnh nhất thế giới Hiệu ứng nàyđặc biệt mạnh khi giá thị trường tăng trong một khoảng thời gian liên tiếp khá dài
Hệ quả trực tiếp là người đầu tư từ bỏ cả kỳ vọng cá nhân, để theo đuổi mức kỳ vọng củađám đông trên thị trường, khiến cho khoảng cách chiến lược đầu tư tiến dần tới epsilon bé tí.Trong khi đó, tính thanh khoản tạo ra do các Delta >> epsilon, và con người có các xu hướng giaodịch trái chiều
Hệ quả thứ hai, cũng trực tiếp, là tính thanh khoản giảm dần Mà tính thanh khoản chính làgiá trị lớn nhất, duy nhất của TTCK (chứ không phải theo quan niệm sai lầm chung là tính nănghuy động vốn) Khi tính thanh khoản trở nên mờ nhạt không còn mang tính quyết định thì thịtrường biến thành Casino Thực sự là Casino vì mọi người cho rằng nó là cỗ máy kiếm tiền, xay
ra tiền, nhào ra tiền, và đâu cũng là tiền Chúng ta bằng sự nhìn nhận bình thường sẽ hiểu rằngđiều này quá sai lầm và hoàn toàn tự huyễn hoặc
Trang 15Phần lớn nhà đầu tư chỉ quan tâm tới lợi nhuận, và chỉ nhăm nhăm tới những thông tinkhông xác thực ngoài luồng Điều này thật sai lầm Kiến thức khác thông tin Kiến thức là một bộlọc thông tin có phương hướng, có chủ đích và có phương pháp Việc chỉ chăm chắm đào bới cácthông tin ngoài luồng không làm các nhà đầu tư khôn ngoan hơn, có khi còn làm “loạn hết óc”trong thời buổi thông tin bùng nổ Chính vì không bổ sung kiến thức, nên thị trường hỗn loạntrong các dòng chảy thông tin Mệt mỏi với thông tin càng khiến cho người ta dễ từ bỏ các kỳvọng cá nhân, để hào hứng đi theo sự vẫy gọi của "hiệu ứng bầy đàn" Năm 2009 Một yếu tố đáng chú ý trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ đầu năm tớithời điểm này là sự khác biệt tương đối lớn giữa sự lên xuống của giá các cổ phiếu Dường như,các nhà đầu tư Việt Nam cuối cùng đã lựa chọn kỹ hơn khi mua cổ phiếu, thay vì mua theo cảmtính như trước đây.Ngoài ra, nhờ giá cổ phiếu tăng, nhóm cổ phiếu có giá trị vốn hóa thị trường
đủ lớn để các nhà đầu tư ngoại rót vốn cũng tăng lên Hiện đang có 8 cổ phiếu có giá trị vốn hóa
từ 500 triệu USD trở lên, so với 4 cổ phiếu ở thời điểm cuối tháng 2
Tuy nhiên, báo cáo của HSBC cũng cho thấy, các nhà đầu tư ngoại không phải là đối tượngchèo lái đợt phục hồi này của thị trường chứng khoán Việt Nam Lượng mua vào của khối ngoại
đã co lại tới mức gần như không có gì Từ đầu năm tới nay, lượng mua ròng cổ phiếu Việt Namcủa khối ngoại chỉ là 3 triệu USD Sau một thời gian bán ròng trong quý 4/2008, hoạt động củacác nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam về cơ bản gần như là trung tính,với các hoạt động bên phía mua và phía bán cùng ít
Theo số liệu của HSBC, hiện khối ngoại vẫn chiếm khoảng 1/5 khối lượng giao dịch trênthị trường chứng khoán Việt Nam, nhưng có vẻ như lượng vốn nước ngoài mới chảy vào thịtrường này là rất hạn chế Trong đó, các hoạt động của khối ngoại tập trung vào việc tái cân bằng
Do sự thiếu minh bạch trong vấn đề công bố lợi nhuận cũng như xác định giá trị của các cổphiếu, ở thời điểm hiện tại, HSBC tiếp tục thận trọng về triển vọng thị trường chứng khoán ViệtNam Các chuyên gia của ngân hàng này cho rằng, thị trường Việt Nam vẫn là một thị trườngnhiều biến động và có độ minh bạch thấp nên rủi ro cho các nhà đầu tư lớn
5 Trình bày thu nhập và phương pháp xác định thu nhập trong đầu tư chứng khoán theo các phương thức đầu tư hưởng lợi, đầu tư nắm quyền kiểm soát và tạo lập thị trường
Thu nhập của một khoản đầu tư chứng khoán là phần chênh lệch giữa kết quả thu được saumột khoảng thời gian đầu tư và vốn gốc mà nhà đầu tư phải bỏ ra ban đầu
Khi đầu tư vào cổ phiếu, các nhà đầu tư thường kỳ vọng vào hai loại thu nhập, đó là thu nhập
từ cổ tức và từ mức tăng thị giá cổ phiếu Thu nhập từ cổ tức tùy thuộc vào tình hình kinh doanhcủa công ty và quyết định của Hội đồng quản trị Thu nhập từ mức tăng thị giá cổ phiếu là biểuhiện của mối quan hệ trực tiếp giữa triển vọng kinh doanh của công ty với nhu cầu mua cổ phiếu
Trang 16 Tạo lập thị trường: Là các NĐT,thường là các cty CK,NHTM đảm nhận tạo thị trườngtrên tt OTC thực hiện mua bán theo y/cầu tạo tính thanh khoản cho CK Thu nhập của họ
dc tạo ra từ cổ tức,trái tức,chênh lệch giá Ck,tiền hoa hồng khi thực hiện môi giới cho cácNĐT
6 Phân tích mối quan hệ giữa thu nhập và rủi ro trong đầu tư chứng khoán
Khi đầu tư vào cổ phiếu, các nhà đầu tư thường kỳ vọng vào hai loại thu nhập, đó là thu nhập
từ cổ tức và từ mức tăng thị giá cổ phiếu Thu nhập của một khoản đầu tư là phần chênh lệchgiữa kết quả thu được sau một khoảng thời gian đầu tư và vốn gốc mà nhà đầu tư phải bỏ raban đầu
Rủi ro được định nghĩa như là một sự khác biệt giữa giá trị thực tế và giá trị kỳ vọng Theo các lý thuyết cũ, rủi ro là những yếu tố làm cho mức sinh lời giảm hiện nay người tacho rằng cả mọi yếu tố làm cho thu nhập thay đổi so với dự tính dù là tăng hay giảm đều coi
là rủi ro
Đầu tư vào cổ phiếu chứa đựng nhiều loại rủi ro bao gồm cả rủi ro hệ thống và phi hệ thống:
- rủi ro hệ thống bao gồm: + rủi ro tỷ giá
+ rủi ro thị trường
Trang 17+ rủi ro lãi suất+rủi ro sức mua
- Rủi ro phi hệ thống bao gồm: rui ro kinh doanh,rủi ro tài chính, rủi ro quản lý
Cũng như các lĩnh vực đầu tư khác, trong đầu tư chứng khoán tồn tại mối quan hệ tỷ lệ thuận
giữa mức thu nhập với mức rủi ro Thu nhập càng cao thì mức độ rủi ro tiềm ẩn càng lớn
Nếu sử dụng mô hình CAPM để phân tích thi ta cũng có CT:
ks = Rrisk free + Beta * (Rmarket - Rrisk-free)
với ks là lãi suất kỳ vọng trên cổ phiếu
* Rmarket là thu nhập thị trường kỳ vọng qua thời gian
Qua công thức trên ta cũng thấy rằng Beta càng cao tức rủi ro càng cao thì ks tức thu nhập kì
vọng càng lớn
7 Trình bày thu nhập và rủi ro trong đầu tư chứng khoán theo phương thức đầu tư
hưởng lợi
Theo phương thức đầu tư hưởng lợi: nhà đầu tư nhằm mục đích lợi nhuận bao gồm cả lợi
tức và chênh lệch giá Thu nhập từ hoạt dộng này bao gồm:
- Thu nhập từ hoạt động kinh doanh chênh lệch giá: mua bán trong ngắn hạn để tìm
kiếm LN từ chênh lệch giá
- Thu nhập từ hđ đầu cơ: tìm kiếm lợi nhuận từ lợi tức và chênh lệch giá trong dài
hạn Khi CK khan hiếm, NĐT bán và thu lợi nhuận
- TN từ hđ kinh doanh giảm giá: Khi CK có dấu hiệu giảm giá NĐT bán CK rồi
chờ giá hạ và mua lại, khoản chênh lệch trừ đi cphis giao dịch sẽ la TN của NĐT
TH đặc biệt là bán khống: vay CK của 1 cty để bán đi, đợi giá hạ sẽ mua trả đểhưởng chênh lệch
Do đặc điểm của thu nhập của phương thức đtư hưởng lợi là ntren nên nó sẽ bao hàm những rủi
ro nsau: Đtư theo pp hưởng lợi thì nhà đtư sẽ phải gánh chịu cả rủi ro hệ thống và phi hệ thống:
Trang 18-RR hệ thống: Vì các NĐT thực hiện đtư theo pp này chủ yếu tìm kiếm LN từ chênh lệch giá nên
họ phải chịu rủi ro rất lớn bởi những biến động của thị trường, khi thi trường diễn biến ngược lại
so với dự đoán của NĐT thì họ sẽ phải chịu tổn thất rất nặng nề: NĐT dự đoán CP tăng giá nhưngsau đó lại giảm giá hay khi NĐT thực hiện bán CK ra nhug sức mua của thị trường lại thấp…
- RR phi hệ thống: RR kinh doanh,rủi ro tài chính,RR quản lí
Khi 1 NĐT vay vốn để thực hiện hđ đtư của mình thì nghĩa cụ tài chính đvới họ sẽ tăng lên do
họ phải trả gốc và lãi cho khoản vay đó Khi hđ đầu tư của họ thua lỗ nếu họ ko thể trả nợ thì rất
- Thu nhập:
+ NĐT ngoài cổ tức và chênh lệch giá còn có quyền chủ động trong việc tạo lập thu nhập cho mìnhthông qua việc nắm giữ quyền kiểm soát DN phát hành chứng khoán, tác động đến hoạt động sảnxuất kinh doanh của DN
+ Trong một số trg hợp, NĐT lựa chọn phương thức đầu tư nắm quyền kiểm soát vào các công tychưa phát triển, đặc biệt yếu kém về công nghệ quản lý Thông qua nắm quyền kiểm soát, họ thựchiện tái cấu trúc công ty, thay đổi quản lý, công nghệ từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động vả cảithiện hình ảnh trong công chúng đầu tư và sẽ thực hiện bán cổ phiếu trên thị trường tập trung hoặcthị trường OTC khi cổ phiếu tăng giá Phương thức này có thể đem lại khoản lợi nhuân kỳ vọngtrong tương lai khổng lồ cho NĐT
- Rủi ro:
+ giá CK trong hình thức đầu tư này thường cao, chi phí lớn
+ NĐT chịu tác động lớn trước những thay đổi trong hoạt động kinh doanh của DN phát hành CKhơn các phương thức đầu tư thông thường khác
Trang 199 Trình bày thu nhập và rủi ro trong đầu tư chứng khoán theo phương thức tạo lập thị
trường
Đầu tư theo phương thức tạo lập thị trường thường do các nhà tạo lập thị trường – trung gian tàichính mua bán các công cụ tài chính hoạt động theo phương thức khớp giá, thực hiện chức năng đặt cáclệnh chào mua, chào bán, đảm bảo giao dịch của thị trường liên tục
- Thu nhập
+ NĐT tạo lập thị trường với hai mục tiêu chủ yếu: Đảm bảo tính thanh khoản của thị trường và kiếm lợinhuận
+ các nhà tạo lập thị trường tìm kiếm lợi nhuận thông qua hai hình thức sau
Thứ nhất, đóng vai trò đối tác trong giao dịch, nếu lệnh đặt đến là lệnh mua NĐT sẽ bán CK tương ứngnắm giữ Nếu lệnh đặt đến là lệnh bán, thì ngược lại
Thứ hai, trong trường hợp lệnh đặt mua đến nhưng nhà tạo lập thị trường ko có đủ số CK đặt mua hoặclệnh đặt bán nhưng ko đủ khả năng mua toàn bộ CK của KH thì sẽ tìm một lệnh đối ứng khác thỏa mãn
- Rủi ro
+ Tham gia đầu tư tạo lập thị trường, NĐT thường phải đối mặt với rủi ro lãi suất và rủi ro thanh khoản Đối với rủi ro lãi suất: nếu lãi suất thị trường tăng lên, cơ hội đầu tư vào các tài sản có mức lợi tức caohơn sẽ mất đi
Đối với rủi ro thanh khoản: do đầu tư tạo lập thị trường thường phải nắm giữ một lượng CK lớn nênviệc phải đối mặt với rủi ro thanh khoản, nắm giữ CK trong tay nhưng khả năng thanh khoản ngày càngthu hẹp
+ Để phòng ngừa rủi ro các nhà đầu tư tạo lập thị trường thưởng sử dụng các công cụ phái sinh hoặc cáccông cụ bảo hiểm khác, như repos
10 Trình bày các phương pháp xác định chỉ số giá chứng khoán: Phương pháp Passcher;
Phương pháp Laspeyres; Phương pháp chỉ số giá bình quân Fisher; Phương pháp số
bình quân giản đơn; Phương pháp bình quân nhân giản đơn
Phương pháp tính
Hiện nay các nước trên thế giới dùng 5 phương pháp để tính chỉ số giá cổ phiếu, đó là:
Phương pháp Passcher:
Trang 20Đây là loại chỉ số giá cổ phiếu thông dụng nhất và nó là chỉ số giá bình quân gia quyền giá trị với quyền số là số lượng chứng khoán niêm yết thời kỳ tính toán Kết quả tính sẽ phụ thuộc vào cơ cấu quyền số thời kỳ tính toán:
Người ta dùng công thức sau để tính:
qt : Là khối lượng (quyền số) thời điểm tính toán ( t )
hoặc cơ cấu của khối lượng thời điểm tính toán
i: Là cổ phiếu i tham gia tính chỉ số giá
n: là số lượng cổ phiếu đưa vào tính chỉ số
Chỉ số giá bình quân Passcher là chỉ số giá bình quân gia quyền giá trị lấy quyền số là quyền số thời kỳ tính toán, vì vậy kết quả tính sẽ phụ thuộc vào cơ cấu quyền số (cơ cấu chứng khoán niêm yết) thời tính toán
Các chỉ số KOSPI (Hàn Quốc); S&P500(Mỹ); FT-SE 100 (Anh) ; TOPIX (Nhật) ; CAC (Pháp); TSE (Đài Loan); Hangseng (Hong Kong); các chỉ số của Thuỵ Sĩ, và Vn- Index của Việt Nam
Trong đó: IL : Là chỉ số giá bình quân Laspeyres
pt: Là giá thời kỳ báo cáo
Trang 21n: là số lượng cổ phiếu đưa vào tính chỉ số
Có ít nước áp dụng phương pháp này, đó là chỉ số FAZ, DAX của Đức.
Chỉ số giá bình quân Fisher
Chỉ số giá bình quân Fisher là chỉ số giá bình quân nhân giữa chỉ số giá Passcher và chỉ số giá Laspayres: Phương pháp này trung hoà được yếu điểm của hai phương pháp trên, tức là giá trị chỉ
số tính toán ra phụ thuộc vào quyền số của cả 2 thời kỳ: Kỳ gốc và kỳ tính toán
I F = Ö IP x I L
Trong đó:I F : Là chỉ số giá Fisher
IP: Là chỉ số giá Passcher
I L: Là chỉ số giá bình quân Laspeyres
Về mặt lý luận có phương pháp này, nhưng trong thống kê không thấy nó áp dụng ở bất kỳ một quốc giá nào.
Phương pháp số bình quân giản đơn:
Ngoài các phương pháp trên, phương pháp tính giá bình quân giản đơn cũng thường được áp dụng Công thức đơn giản là lấy tổng thị giá của chứng khoán chia cho số chứng khoán tham gia tính toán:
∑ p i
I p = -
n
Trong đó: Ip: là giá bình quân;
Pi: là giá Chứng khoán i;
n: là số lượng chứng khoán đưa vào tính toán
Các chỉ số họ Dow Jone của Mỹ; Nikkei 225 của Nhật; MBI của Ý áp dụng phương pháp này Phương pháp này sẽ tốt khi mức giá của các cổ phiếu tham gia niêm yết khá đồng đều, hay độ lệch chuẩn ) của nó thấp.(
Phương pháp bình quân nhân giản đơn
Trang 22Quyền số thường được dùng trong tính toán chỉ số giá cổ phiếu là số chứng khoán niêm yết
Riêng ở Đài Loan thì họ dùng số chứng khoán trong lưu thông làm quyền số, bởi vì tỷ lệ đầu tư
của công chúng rất cao ở đây (80 90%)
11 Trình bày nội dung, ý nghĩa giả thuyết thị trường hiệu quả Nhận xét của Anh (Chị) về mức
độ hiệu quả của Thị trường chứng khoán Việt Nam
Nội dung:
Thị trường vốn là hiệu quả nghĩa là chỗ nhà đầu tư được cung cấp thông tin đầy đủ, chi phí giaodịch không đáng kể, không có những hạn chế đầu tư, và không có nhà đầu tư nào đủ lớn để ảnh hưởngđến giá cả của một loại chứng khoán nào đó Nói khác đi, giả định thị trường vốn là thị trường hiệu quả
và hoàn hảo
Đầu tiên Một thị trường hiệu quả nó đòi hỏi một số lượng lớn các đối thủ cạnh tranh tham gia thị trường
với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, họ tiến hành phân tích và định giá các loại chứng khoán một cách hoàntoàn độc lập với nhau
Thứ hai là những thông tin mới về chứng khoán được công bố trên thị trường một cách ngẫu nhiên và tự
động, và việc quyết định về thời điểm công bố thông tin cũng độc lập lẫn nhau
Thứ ba, đặc biệt quan trọng, là các nhà đầu tư luôn tìm mọi cách điều chỉnh giá chứng khoán thật nhanh
nhằm phản ánh chính xác ảnh hưởng của thông tin Giá chứng khoán được điều chỉnh một cách nhanhchóng là bởi số lượng lớn các nhà đầu tư với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận cạnh tranh với nhau
Cuối cùng, bởi tất cả các thông tin sẽ điều chỉnh giá chứng khoán, do đó những mức giá này sẽ phản ánh
tất cả các thông tin được công bố công khai tại bất kỳ thời điểm nào Vì vậy, giá chứng khoán nào mà bấtbiến tại mọi thời điểm có thể là do kết quả phản ánh sai thông tin và có thể mang lại rủi ro với người sởhữu chứng khoán đó Vì lẽ này, trong một thị trường hiệu quả, thu nhập kỳ vọng ẩn trong mức giá hiệntại của chứng khoán cũng sẽ phản ánh rủi ro của nó
Ý nghĩa:
Khi thị trường trở nên kém hiệu quả, quy luật cung cầu trên thị trường do NĐT cạnh tranh lẫnnhau khai thác các hiện tượng đã được nhận biết để kiếm lợi nhuận Và chính điều này sẽ đưa thị giá trở
về trạng thái cân bằng, đồng thời xóa bỏ hiện tượng đó
Khi tham gia vào một thị trường hiệu quả, nhà đầu tư sẽ ít có cơ hội vượt trội hơn so với nhữngngười khác vì hiệu quả của thị trường chứng khoán sẽ khiến cho giá của các cổ phiếu hiện có trên thịtrường luôn gắn kết và cung cấp các thông tin tương thích Các chứng khoán sẽ được mua/bán, trao đổingang giá trên các sàn giao dịch chứng khoán Người chơi luôn được tin tưởng rằng thị trường đối xửcông bằng với tất cả mọi người
Trang 23Liên hệ:
Chúng ta có thể khẳng định rằng thị trường chứng khoán của Việt Nam chưa thực sự là thị trường hiệuquả Điều này xuất phát từ các lý do
Đầu tiên Số lượng các nhà đầu tư chuyên nghiệp của thị trường còn ít Đôi khi các nhà đầu tư hành
động theo xu hướng đám đông gây nên những ảnh hưởng tiêu cực tới thị trường Ví dụ: trong giai đoạn2006-2007
Thứ hai Việc công bố thông tin của các doanh nghiệp còn hạn chế Đến hạn nộp BCTC nhưng có nhiều
DN trì hoãn hay nộp muộn Bên cạnh đó, có nhiều cá nhân biết trước các thông tin quan trọng hay cónhiều tin đồn liên quan đến thị trường Các cơ quan chức năng chưa giám sát chặt chẽ tới việc công bốthông tin của DN Điều này ảnh hưởng đến sự minh bạch của thị trường và ảnh hưởng tới hành động củaNĐT, làm ảnh hưởng tới giá chứng khoán trên thị trường
Thứ ba, Giả thiết các nhà đầu tư luôn tìm mọi cách điều chỉnh giá chứng khoán thật nhanh nhằm phản
ánh chính xác ảnh hưởng của thông tin chưa được đảm bảo
Vì vậy, các cơ quan quản lý nhà nước cần mạnh tay hơn nữa trong việc quản lý thị trường, chốnglại những thông tin sai lệch, hạn chế các thông tin nội gián, nạn đầu cơ làm lũng đoạn thị trường, làm chogiá chứng khoán biến động bất thường Việc công bố thông tin về tình hình tài chính của các doanhnghiệp cũng cần phải được giám sát một cách chặt chẽ tránh việc công bố thông tin không chính xác nhưmột số doanh nghiệp trong thời gian vừa qua làm ảnh hưởng tới giá chứng khoán trên thị trường
12 Trình bày các giả thuyết trong mô hình Markowitz
Mô hình Markowitz dựa trên những giả định cơ sở như sau:
- Các nhà đầu tư đều là những nhà đầu tư ngại rủi ro Với một mức rủi ro cho trước nhà
đầu tư sẽ ưa thích phương án đầu tư nào có lợi nhuận kỳ vọng cao hơn Tương tự, với một mức
lợi nhuận kỳ vọng cho trước nhà đầu tư sẽ ưa thích những phương án đầu tư có rủi ro thấp hơn
- Các nhà đầu tư không đơn thuần theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận kỳ vọng mà là
mục tiêu tối đa hóa mức hữu dụng của khoản đầu tư
- Việc lựa chọn và quyết định các phương án đầu tư của nhà đầu tư chỉ dựa trên hai
yếu tố là thu nhập kỳ vọng và mức rủi ro của thu nhập Mức độ hữu dụng của nhà đầu tư
chỉ phụ thuộc vào 2 yếu tố này
- Các quyết định đầu tư được đưa ra và kết thúc trong một khoảng thời gian nhất định
Trang 24- Tất cả các nhà đầu tư đều có cùng thời hạn đầu tư như nhau.
- Nhà đầu tư xem mỗi sự lựa chọn đầu tư như một phân phối xác suất của tỷ suất sinh lợi
kỳ vọng
- Nhà đầu tư tối đa hoá hữu dụng kỳ vọng và đường cong hữu dụng của họ biểu diễn giátrị hữu dụng biên giảm dần
- Nhà đầu tư ước lượng rủi ro dựa vào phương sai của tỷ suất sinh lợi
- Căn cứ quyết định của nhà đầu tư chỉ dựa vào tỷ suất sinh lợi kỳ vọng và rủi ro, vì vậyđường cong hữu dụng của họ là một hàm của tỷ suất sinh lợi kỳ vọng và độ lệch chuẩn của tỷsuất sinh lợi
13 Trình bày nội dung và ý nghĩa của lý thuyết quản lý danh mục đầu tư Markowitz
Công thức xác định tỷ suất sinh lợi:
Với một tài sản A, ta xác định tỷ suất sinh lợi thời điểm t như sau:
P Div
R ln A t t
Trang 25At PA,t 1
Trong đó: RAt: Tỷ suất sinh lợi của tài sản A thời điểm t, PAt và PA,t-1: Giá trị tài sản
A thời điểm t và thời điểm t-1, Divt: Cổ tức (dòng tiền thu nhập) trong suốt thời kỳ từ t-1 đến t.
Với giả định tỷ suất sinh lợi chứng khoán là một đại lượng ngẫu nhiên Do vậy, nó cóđầy đủ các tham số đặc trưng của đại lượng ngẫu nhiên như: kỳ vọng toán, phương sai, độ lệchchuẩn, giá trị tin chắc nhất, mô men, hệ số bất đối xứng, hệ số nhọn…
Tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của danh mục:
Tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của danh mục ký hiệu E(Rport) được tính như sau:
Trong đó, Wi = tỷ trọng tài sản thứ i trong danh mục
E(Ri) = tỷ suất sinh lợi của tài sản thứ i.
Phương sai (độ lệch chuẩn) của tỷ suất sinh lợi của một tài sản.
Phương sai (độ lệch chuẩn) của tỷ suất sinh lợi của một tài sản đôi khi ta còn gọi làphương sai (độ lệch chuẩn) của một tài sản, được xác định như sau:
Trang 26Phương sai (độ lệch chuẩn) của tỷ suất sinh lợi của danh mục đầu tư:
Trước tiên, ta xem xét định nghĩa về hiệp phương sai Hiệp phương sai của hai tỷ suất
sinh lợi của hai chứng khoán i và j (ký hiệu Covij) được định nghĩa:
Covij = E(RiRj) – E(Ri)E(Rj)
Trang 27i j
Hệ số tương quan có tính chất: -1 ≤ ρij ≤ +1 Nếu ρij càng gần 0 thì ta gọi là tương
quan lỏng lẻo, còn nếu ρij càng gần ±1 thì có sự tương quan chặt Nếu hai chứng khoán có tỷsuất sinh lợi độc lập thì ρij = 0 Tuy nhiên, lưu ý rằng điều ngược lại không đúng, tức là nếuhai tỷ suất sinh lợi của hai chứng khoán có hệ số tương quan bằng 0 thì chưa chắc chúng là độclập
Khi đó, độ lệch chuẩn của danh mục được xác định:
Trang 28wi : tỷ trọng của tài sản i trong danh mục;
σi 2 : Phương sai của tỷ suất sinh lợi của tài sản i
Công thức trên chỉ ra rằng độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lợi của danh mục là một hàmcủa trung bình có trọng số của các phương sai riêng lẻ (ở đây các tỷ trọng được bình phương),cộng với hiệp phương sai có trọng số của các tài sản trong danh mục Độ lệch chuẩn của danhmục không chỉ bao hàm phương sai của các tài sản đơn lẻ mà còn bao hàm cả hiệp phương saiđôi một giữa các tài sản trong danh mục Hơn nữa, nó còn chỉ ra rằng trong một danh mục đầu
tư với một lượng lớn các chứng khoán, công thức này là bình quân gia quyền của các hiệpphương sai Để đơn giản, ta quy ước một số ký hiệu như sau: Hiệp phương sai của hai tài
sản i và j là Cov(ri, rj), được ký hiệu là σij; phương sai của tài sản i là
Var(ri) = σi 2 , được ký hiệu là σii.
Do đó, công thức 1.2 được viết lại:
n n
Trang 29i 1 j 1
Trang 30Thành lập một danh mục đầu tư
Danh mục đầu tư với hai tài sản:
Một danh mục gồm hai tài sản, với một hệ số tương quan cho trước, nếu kết hợp tất
cả các khả năng xảy ra của các tỷ trọng trong danh mục thì ta sẽ được một đường cong (hoặcđường thẳng nếu hệ số tương quan bằng +1)
Sự đa dạng hoá tài sản đầu tư sẽ mang lại hiệu quả là giảm rủi ro danh mục, ngoại trừtrường hợp các tài sản có tương quan cùng chiều hoàn hảo Với một mức rủi ro cho trước,nhà đầu tư sẽ chọn danh mục trên đường cong sao cho đạt tỷ suất sinh lợi cao nhất Do vậy,trên đồ thị, vùng đường cong từ E đến G là vùng không đầu tư vì nó đã được thay thế bằngvùng đường cong từ E đến C có tỷ suất sinh lợi cao hơn
Trang 31Danh mục đầu tư với n tài sản:
Với danh mục gồm n tài sản, ta sẽ tính tỷ suất sinh lợi kỳ vọng và độ lệch chuẩn theocông thức 1.1 và 1.2 Sau đó, cũng giống như trường hợp danh mục gồm hai tài sản, nhà đầu tư
sẽ lựa chọn các trường hợp khác nhau của tỷ trọng các tài sản sao cho ứng với một mức TTSLcho trước sẽ đạt được mức rủi ro tối thiểu
Trang 32Tuy nhiên, với một số lượng lớn tài sản trong danh mục, chẳng hạn 100 chứng khoán,thì số lượng tính toán rất lớn, ta phải tính đến 4950 hệ số tương quan giữa các tài sản,chưa kể các phép tính về tỷ suất sinh lợi kỳ vọng và phương sai của các tỷ suất sinh lợi.Đây chính là nhược điểm cơ bản của mô hình danh mục Markowitz Nhưng với sự phát triểncủa công nghệ thông tin ngày nay, chúng ta có thể tính toán dễ dàng nhờ các môi trường tínhtoán cực mạnh Tuy nhiên, vào những năm 1960, W F Sharpe đã đề xuất “mô hình thịtrường”, ước lượng rủi ro bằng mô hình hồi qui, đã giảm đáng kể khối lượng tính toán
Markowitz cho rằng các nhà đầu tư không nên chọn các DMĐTtối đa hoá lợinhuận kỳ vọng vì bản thân tiêu chí này đã bỏ qua nguyên tắc đa dạng hoá, mà thay vào
đó xem xét phương sai của lợi nhuận để lựa chọn danh mục vốn đầu tư có lợi nhuận kỳvọng cao nhất với phương sai cho trước
Trang 3314 Trình bày ý nghĩa và phương pháp xác định đường biên hiệu quả
Trả lời:
Danh mục đầu tư gồm một tài sản rủi ro và một tài sản phi rủi ro
Tập hợp của tất cả các phương án đầu tư khả thi, trong trường hợp này tương ứng với đườngbiên hiệu quả, chính là đường thẳng nối hai
điểm thể hiện hai dạng tài sản đầu tư đang được xem xét (1 tài sản phi rủi ro và 1 tài sản rủi
ro) Đường này chính là đường phân bổ vốn
(CAL)
Đường phân bổ vốn (CAL)
Đường phân bổ vốn CAL gồm có 4 đoạn:
1 F là điểm ở đó nhà đầu tư chỉ nắm giữ tài sản phi rủi ro (x1=0), do vậy, độ lệch chuẩn = 0
2 Đoạn từ F tới R1 là tập hợp của tất cả các danh mục đầu tư vào cả
Trang 34tài sản rủi ro và phi rủi ro (0 ≤x1 ≤1).
3 Tại điểm R1 tất cả danh mục đều đầu tư vào tài sản rủi ro (x1=1)
4 Từ R1 trở lên, phần tài sản rủi ro vượt quá 100% vốn đầu tư của danh mục (có nghĩa làx1 > 1, x2 < 0) Điều này có nghĩa các nhà
đầu tư vay mượn với lãi suất phi rủi ro để mua tài sản rủi ro
Độ dốc của đường CAL, như nhìn trên hình vẽ, thể hiện mức gia tăng lợi nhuận kỳ vọngứng với mỗi đơn vị rủi ro tăng thêm của danh mục đầu tư, hay nói cách khác, là thước đomức lợi nhuận vượt trội bù đắp cho mỗi đơn vị rủi ro tăng thêm Chính vì vậy độ dốc củaCAL còn được gọi là hệ số lợi nhuận bù đắp rủi ro (reward to variability ratio) Công thức tính
hệ số này như sau:
S= (E(Rp) – RF)/ бP
Danh mục đầu tư gồm N tài sản rủi ro + một tài sản phi rủi ro
Trong trường hợp này nhà đầu tư có cơ hội đầu tư một phần của cải của anh ta vào mộttài sản phi rủi ro và số còn lại đầu tư vào một tập hợp các tài sản rủi ro Nếu chúng ta nhớ lạiphương thức xây dựng danh mục đầu tư gồm nhiều tài sản rủi ro ở phần trước, nhà đầu tư có thểlựa chọn một danh mục đầu tư kết hợp tuyến tính giữa một tài sản rủi ro và một danh mục nhiềutài sản rủi ro nằm trên đường biên hiệu quả Trong trường hợp tổng quát này, đường hiệu quảchính là đường tiếp tuyến từ RF tiếp xúc với phần bao ngoài hình chiếc ô (đường biên hiệuquả của danh mục gồm toàn các tài sản rủi ro)
Để lựa chọn danh mục đầu tư tối ưu của mình, nhà đầu tư sẽ chọn một danh mục đầu tưnằm trên đường hiệu quả tuỳ theo tâm lý ngại rủi ro của anh ta Một nhà đầu tư hoàn toàn ngạirủi ro sẽ đầu tư 100% vốn vào RF Lưu ý rằng không giống như trường hợp với N tài sản rủi ro,
ở đâu chỉ có một danh mục tiếp điểm, do vậy hệ số lợi nhuận bù đắp rủi ro (S) đối với tất cả cácnhà đầu tư là như nhau
Đường hiệu quả được biểu diễn như sau:
Trang 35Đường hiệu quả của danh mục đầu tư gồm N tài sản rủi ro + một tài sản phi rủi ro
Ở đoạn giữa RF và T, nhà đầu tư dành một phần vốn đầu tư vào tài sản phi rủi ro và mộtphần vào danh mục rủi ro tại tiếp điểm Trường hợp này tương đối phổ biến đối với các nhà đầu
tư thông thường: chỉ có một phần của danh mục là đầu tư vào trái phiếu và cổ phiếu rủi ro Tại T,chúng ta đầu tư tất cả của cải vào danh mục tiếp điểm
Vậy các danh mục đầu tư nằm về phía bên phải điểm T, tương ứng tỷ trọng đầu tư vàodanh mục rủi ro > 100% có nghĩa gì? Trong trường hợp này, nhà đầu tư bắt đầu sử dụng đòn bẩyvốn, có nghĩa là anh ta đi vay với mức lãi suất phi rủi ro để mua nhiều hơn nữa tài sản rủi ro.Lưu ý rằng, cần phải có điều kiện không có hạn chế giao dịch bán khống để các danh mục đầu
tư nằm về phía bên phải điểm T là khả thi (ví dụ như điểm Q), vì tại T nhà đầu tư đã đầu tư toàn
bộ vốn vào N tài sản rủi ro Tuy nhiên, trên thực tế hầu như không có khả năng một nhà đầu tư
có thể mua và bán các tín phiếu kho bạc (T-bill) tại cùng một mức giá Những vấn đề này đượccoi là một trong số những đặc điểm không hoàn hảo của thị trường
15 Trình bày phương pháp xác định và ý nghĩa của đường CML
Đường thị trường vốn (CML)
Trang 36Trên đường CML tập trung tất cả các danh mục đầu tư khả thi kết hợp giữa danh mụcthị trường và ài sản phi rủi ro Độ dốc của CML, được thể hiện theo công thức sau:
(E(RM) – RF)/ бM
Ta có thể thấy độ dốc của đường CML thể hiện mức chênh lệch giữa lợi nhuận thị trường
kỳ vọng so với mức lợi nhuận phi rủi ro và chia cho rủi ro của thị trường, vì vậy nó được coi làgiá của một đơn vị rủi ro Phương trình của đường CML được thể hiện như sau :
E(RP)= RF +(E(RM) – RF)* бP / бM
Đường thị trường vốn (CML)
có nghĩa là phần bù rủi ro đối với bất kỳ danh mục đầu tư hiệu quả P nào đều là tích củagiá thị trường của rủi ro nhân với (một lượng) rủi ro của danh mục đầu tư đó ( đo bằng độ lệchchuẩn)
Độ dốc của đường CML được xác định bằng mức lợi nhuận bù đắp cho một đơn vị rủi ro
mà nhà đầu tư yêu cầu, vì vậy độ dốc của đường CML sẽ thay đổi phụ thuộc vào mức ngại rủi rocủa nhà đầu tư, người ngại rủi ro cao sẽ đòi mức bù rủi ro cao hơn và ngược lại Việc này sẽkhiến cho hình dạng của tập hợp hiệu quả gồm N tài sản rủi ro cũng thay đổi Ví dụ, giả sử rằngcác nhà đầu tư ngại rủi ro cao và yêu cầu mức lợi nhuận cao hơn để bù lại việc chịu một mức rủi
Trang 37ro nhất định Điều này sẽ đẩy toàn bộ đường hiệu quả cao lên phía trên Điểm tiếp xúc, hay chính
là danh mục thị trường, sẽ có hệ số lợi nhuận bù đắp rủi ro cao hơn và cơ cấu danh mục cũng sẽ
bị thay đổi Khi đó đường CML sẽ có độ dốc lớn hơn (khi mức lãi suất phi rủi ro thay đổi, độ dốcnày có thể sẽ giảm xuống)
16 Trình bày phương pháp xác định và ý nghĩa đường SML
Trả lời
Đường thị trường chứng khoán (SML)
Đường CML mô tả mối quan hệ rủi ro - lợi nhuận áp dụng cho các danh mục đầu tư hiệuquả Nó không áp dụng được đối với các tài sản riêng lẻ hay danh mục đầu tư không hiệu quả
Do danh mục đầu tư mạo hiểm mà mọi nhà đầu tư nắm giữ là danh mục đầu tư thị trường, rủi ro
và mối tương quan của một tài sản riêng lẻ hoặc của một danh mục đầu tư không hiệu quả phảiđược đánh giá dưới góc độ“phần đóng góp của chúng vào rủi ro của danh mục đầu tư thịtrường” Nhà đầu tư có thể mong muốn một tài sản nào đó (và do vậy tài sản này có mức giá caohơn hoặc mức lợi nhuận kỳ vọng thấp hơn) không phải vì rủi ro tổng thể của nó thấp mà có thể
vì nó giúp làm giảm rủi ro của danh mục đầu tư thị trường Ngược lại, các chứng khoán có xuhướng làm tăng rủi ro của danh mục đầu tư thị trường sẽ phải chịu mức giá thấp hơn hoặc yêucầu một mức lợi nhuận kỳ vọng cao hơn RM
Để đánh giá các rủi ro của tài sản riêng lẻ và
tác động của chúng tới rủi ro tổng của danh
mục đầu tư thị trường, chúng ta phải phân
tích độ lệch chuẩn của DMĐT:
бM = ∑∑ X iM X jM σ ij
trong đó xiM và xjM là tỷ trọng của danh
mục đầu tư thị trường được đầu tư trong tài
sản i và j Bây giờ, hệ số tích sai của chứng
khoán i với danh mục thị trường được thể
hiện qua công thức dưới đây:
σ iM = ∑ X jM σ i
Trang 38Hoặc có thể được thể hiện lại như sau:
бM= [X1Mб1M + ………….+ XNMбNM]^0.5
thước đo hợp lý rủi ro của một tài sản riêng lẻ đóng góp vào danh mục đầu tư thị trường
là hệ số tích sai của tài sản đó với danh mục thị trường, và được thể hiện qua công thức dưới đây:
бiM/ б2
M
Như vậy, kết hợp các công thức trên, ta có công thức căn bản của CAPM thể hiện mốiquan hệ giữa lợi nhuận kỳ vọng của một chứng khoán riêng lẻ hoặc của một danh mục khônghiệu quả và rủi ro tương ứng của chúng như sau:
E(RP)= RF +[(E(RM) – RF) / бM] * бiM/ бM (*)
Theo đó, giá của một đơn vị rủi ro được thể hiện bằng: (E(RM) – RF) / бM
Công thức (*) được viết lại như sau, đây chính là công thức của đường thị trường chứng khoán(SML):
E(RP)= RF +[(E(RM) – RF) / бM]*βi
Theo đó, beta được xác định theo công thức: βi = бiM/ бM = COV(Ri, RM)/VAR( RM)
Đường SML được thể hiện trên hình vẽ như sau:
Trang 39
Đường thị trường chứng khoán (SML)
Độ dốc của đường SML thể hiện mức độ ngại rủi ro trong nền kinh tế: mức ngại rủi rotrung bình của nhà đầu tư càng lớn, đường SML càng có độ dốc lớn, mức bù rủi ro đối với bất kỳchứng khoán nào càng lớn và mức lợi nhuận kỳ vọng đối với các chứng khoán càng cao Chúng
ta đều biết mức lãi suất phi rủi ro danh nghĩa bao gồm một mức lãi suất thực cộng với một mức
bù lạm phát dự kiến, vì vậy nếu lạm phát dự kiến tăng, thì đường SML sẽ tịnh tiến thẳng lên phíatrên
Việc so sánh giữa đường thị trường chứng khoán SML và đường thị trường vốn CML làđiều cần thiết Đường CML mô tả lợi nhuận kỳ vọng của các danh mục đầu tư hiệu quả là mộthàm của mức độ dao động của danh mục (được tính bằng độ lệch chuẩn của các mức lợi nhuận).Điều này là hợp lý vì độ lệch chuẩn là thước đo rủi ro phù hợp đối với những danh mục đầu tưđược đa dạng hóa hiệu quả Ngược lại, đường SML mô tả lợi nhuận kỳ vọng của một tài sảnriêng lẻ như là một hàm rủi ro của tài sản (được đo bằng độ nhạy cảm của chứng khoán đó trướcnhững biến động của thị trường) Thước đo rủi ro phù hợp đối với tài sản riêng lẻ nằm trong mộtdanh mục được đa dạng hóa tốt không phải là độ lệch chuẩn hoặc phương sai của tài sản đó, mà
là phần rủi ro của tài sản riêng lẻ đóng góp vào rủi ro tổng thể của danh mục (được đo bằng hệ sốbeta của tài sản riêng lẻ) Sự hữu dụng của SML nằm ở khả năng định giá tài sản riêng lẻ: một tàisản được định giá chính xác sẽ nằm đúng trên đường SML
Trang 40Lưu ý rằng, tất cả các danh mục vốn đầu tư hiệu quả của đường CML cũng nằm trên
đường SML, nhưng điều ngược lại thì không đúng Điều này xuất phát từ thực tế là một danh
mục đầu tư gồm các tài sản rủi ro sẽ có mức khoản lợi nhuận kỳ vọng tỷ lệ với beta của danh
mục (xác định thông qua đường SML) Tuy nhiên, trừ phi danh mục này giống hệt danh mục đầu
tư thị trường, nếu không bất kỳ danh
mục đầu tư nằm trên đường SML không nhất thiết phải là hiệu quả và do đó không nhất thiết
nằm trên đường CML Đường SML tạo ra một mức chuẩn để đánh giá hiệu quả hoạt động của
một loại chứng khoán Với mức rủi ro xác định của một tài sản đầu tư (được đo bằng beta của tài
sản đó), đường SML đưa ra mức lợi nhuận kỳ vọng yêu cầu đối với tài sản đó để bù đắp cho mức
rủi ro mà nhà đầu tư chấp nhận cũng như cho giá trị của tiền đầu tư theo thời gian Trong điều
kiện cân bằng giá cả trên thị trường, tất cả các chứng khoán đều phải nằm trên đường SML Khi
đó, để phân tích xem một chứng khoán nào đó có phải là một khoản đầu tư tốt (bị định giá quá
thấp) hay không, ta phải xác định được chứng khoán đó đem lại một mức lợi nhuận kỳ vọng cao
hơn mức lợi nhuận kỳ vọng cân bằng xác định theo mô hình CAPM Như vậy, các chứng khoán
bị định giá quá thấp sẽ nằm phía trên đường SML Ngược lại các chứng khoán bị định giá quá
cao sẽ nằm phía dưới đường SML Khoản chênh lệch giữa mức giá cân bằng hợp lý theo CAPM
và mức lợi nhuận thực của chứng khoán được gọi là hệ số alpha của chứng khoán, ký hiệu là α
Đối với bất kỳ hệ số alpha nào khác 0, nhà đầu tư sẽ coi là chứng khoán đó đang chưa được định
giá đúng Anh ta sẽ mua những chứng khoán nào có alpha >0 và bán những chứng khoán nào có
alpha<0 Ví dụ, nếu một cổ phiếu có beta là 1,2, mức lợi nhuận thị trường dự kiến là 14% và lãi
suất phi rủi ro là 6%, khi đó theo CAPM lợi nhuận dự kiến của cổ phiếu sẽ là 6+ 1,2(14-6)
=15,6% Nếu một nhà đầu tư tin rằng cổ phiếu này đang đem lại mức lợi nhuận là 17%, giá trị
alpha của cổ phiếu sẽ là +1,4% và nhà đầu tư sẽ cân nhắc mua vào chứng khoán này
17 Trình bày các giả thuyết của mô hình CAPM
a Định nghĩa
Mô hình định giá tài sản vốn (Capital asset pricing model – CAPM) là mô hình mô tả mối quan
hệ giữa rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng Trong mô hình này, lợi nhuận kỳ vọng của một chứng khoán bằnglợi nhuận không rủi ro (risk-free) cộng với một khoản bù đắp rủi ro dựa trên cơ sở rủi ro toàn hệ thống