1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phát triển hoạt động phân tích ngành ở Chi nhánh Trần Bình Trọng Cty Cổ phần CK Sài Gòn

37 368 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Triển Hoạt Động Phân Tích Ngành Ở Chi Nhánh Trần Bình Trọng Công Ty Cổ Phần Chứng Khoán Sài Gòn
Trường học Công Ty Cổ Phần Chứng Khoán Sài Gòn
Chuyên ngành Phân Tích Ngành
Thể loại Chuyên Đề
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 334 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn : phát triển hoạt động phân tích ngành ở Chi nhánh Trần Bình Trọng Cty Cổ phần CK Sài Gòn

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Phân tích ngành là một nghiệp vụ chính trong phòng phân tích Nógiúp cho quá trình ra quyết định đầu tư được chuẩn xác và đầy đủ thông tin.Tuy nhiên đây lại là một mảng mà nhiều công ty chứng khoán hiện nay chưathực sự chú trọng hoặc chưa triển khai do còn thiếu nhiều về nhân lực đặcbiệt là thiếu thông tin tổng quát về nền kinh tế, ngành

Mặt khác, với sự phát triển và phổ biến mạnh mẽ của TTCK, nhu cầucủa các nhà đầu tư, các công ty, các tổ chức về thông tin tổng quan ngànhngày càng nhiều Do đó, các công ty chứng khoán, với tư cách là một trongnhững nguồn cung cấp thông tin quan trọng cho nhà đầu tư, đang cần nhanhchóng hoàn thiện nghiệp vụ phân tích này Đặc biệt là trong thời điểm hiệntại, khi nền kinh tế vĩ mô có những thay đổi mạnh mẽ: lạm phát cao, lãi suấttăng, USD mất giá, nền kinh tế Mỹ đứng trước nguy cơ suy thoái; mặt khácTTCK phản ứng thoái quá với các thông tin, hầu hết các chứng khoán đều bịkéo theo xu hướng chung của thị trường mà không phân biệt tốt xấu, việcxác định các nghành thực sự bị ảnh hưởng của các yếu tố phát sinh và cácngành ít bị ảnh hưởng hơn sẽ là những thông tin rất bổ ích cho nhà đầu tưkhi họ đưa ra quyết định

Qua thời gian thực tập tại Chi nhánh Trần Bình Trọng Công ty CổPhần chứng khoán Sài Gòn SSI em nhận thấy hoạt động phân tích ngành củacông ty đang còn tồn tại những khó khăn cần được khắc phục kịp thời, do

vậy em chọn đề tài “ phát triển hoạt động phân tích ngành ở Chi nhánh Trần Bình Trọng Công ty Cổ phần Chứng khoán Sài Gòn” nhằm đưa ra

một số ý kiến chủ quan về tính cấp thiết và những điểm cần khắc phục củacông ty trong hoạt động phân tích ngành đồng thời đưa ra một số phương ánphát triển hoạt động này

Trang 2

Chuyên đề của em gồm 3 chương.

Chương 1: Hoạt động phân tích ngành tại các công ty chứng khoán.Chương 2: Thực trạng của hoạt động phân tích ngành tại Chi nhánhTrần Bình Trọng Công ty Cổ phần chứng khoán Sài Gòn

Chương 3: Giải pháp góp phần phát triển hoạt động phân tích ngànhtại chi nhánh Trần Bình Trọng Công ty Cổ Phần chứng khoán Sài Gòn vàthử nghiệm phân tích ngành Cao su Việt Nam

Trang 3

CHƯƠNG 1: HOẠT ĐỘNG PHÂN TÍCH NGÀNH CỦA

CÔNG TY CHỨNG KHOÁN

1.1 MÔ HÌNH TỔ CHỨC CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN

1.1.1 Định nghĩa về công ty chứng khoán

“Công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian thực hiện các nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán”

1.1.2 Mô hình của công ty chứng khoán

hai mô hình phổ biến hiện nay là:

 Mô hình chuyên doanh kinh doanh chứng khoán: Theo mô hìnhnày công ty chứng khoán chỉ thực hiện 2 loại dịch vụ duy nhất là thực hiệnlệnh và thanh toán khi lệnh mua/bán của nhà đầu tư đã được "khớp" với 1hoặc nhiều lệnh khác

 Mô hình đa năng kinh doanh chứng khoán: Ngoài việc cung cấp

2 loại dịch vụ kể trên, còn cung cấp các dịch vụ khác như: phát hành các bảnnghiên cứu tình hình đầu tư do các chuyên viên phân tích của phòng nghiêncứu soạn thảo, cung cấp dịch vụ quản lý tài sản , tư vấn đầu tư , giúp lập các

dự toán tài chính , tư vấn các biện pháp giảm hoặc tránh thuế, … cho khách

hàng, tự doanh cho chính mình

1.1.3 Cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán

1.1.3.1 Tổ chức của các công ty chứng khoán

Có 3 loại hình tổ chức của CTCK cơ bản là : Công ty hợp danh, Công

ty TNHH và công ty cổ phần

Công ty hợp danh

- Là loại hình kinh doanh từ hai chủ sở hữu trở lên

- Thông thường khả năng huy động vốn của công ty hợp danh bị giớihạn trong số vốn mà các hội viên có thể đóng góp

 Công ty trách nhiệm hữu hạn

Trang 4

- Đây là công ty đòi hỏi trách nhiệm của những thành viên giới hạntrong số vốn mà họ đã góp Vì vậy điều này sẽ làm giảm áp lực với ngườiđầu tư

- Mặt khác, về phương diện huy động vốn, cũng đơn giản và linh hoạthơn so với công ty hợp danh Đồng thời, vấn đề tuyển đội ngũ quản lý cũngnăng động hơn, không bị bó hẹp trong một số đối tác như công ty hợp danh

Vì những lý do trên nên rất nhiều CTCK hiện nay hoạt động dướihình thức Công ty TNHH

1.1.3.2 Cơ cấu tổ chức của Công ty chứng khoán

Hệ thống các phòng ban chức năng được chia ra làm hai khối tươngứng với hai khối công việc mà CTCK đảm nhận:

 Khối nghiệp vụ (front office): Là khối thực hiện các giao dịch kinhdoanh và dịch vụ chứng khoán

+ Phòng môi giới

+ Phòng tự doanh

+ phòng bảo lãnh phát hành

+ phòng quản lý danh mục đầu tư và quỹ đầu tư

+ Phòng tư vấn đầu tư

+ Phòng tư vấn tài chính cho công ty

 Khối phụ trợ (back office): Là khối không trực tiếp thực hiện cácnghiệp vụ kinh doanh

Trang 5

Ngoài sự phân biệt rõ ràng như vậy, do mức độ phát triển của CTCK

và TTCK mà có thể có thêm các bộ phận khác như: mạng lưới chi nhánh, văn phòng trong và ngoài nước, văn phòng đại lý…

1.1.4 Hoạt động của các công ty chứng khoán

1.1.4.1 Hoạt động nghiệp vụ

 Nghiệp vụ môi giới chứng khoán: Môi giới chứng khoán là hoạtđộng kinh doanh chứng khoán trong đó CTCK đại diện cho khách hàng giaodịch thông qua cơ chế giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán hay thị trườngOTC mà chính khách hàng phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả kinh tếcủa việc giao dịch ấy

Nghiệp vụ môi giới có 2 nhiệm vụ chính là:

+ Nối liền khách hàng với bộ phận nghiên cứu đầu tư, cung cấp chokhách hàng các báo cáo nghiên cứu và các kiến nghị đầu tư

+ Nối liền những người bán và những người mua: Đem đến chokhách hàng tất cả các loại sản phẩm và dịch vụ tài chính

 Nghiệp vụ tự doanh: tự doanh là việc CTCK tự tiến hành các giao

dịch mua bán chứng khoán cho chính mình

 Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành: Để thực hiện các đợt chào bán

chứng khoán ra công chúng đòi hỏi tổ chức phát hành phải cần đến cácCTCK tư vấn cho đợt phát hành và thực hiện bảo lãnh, phân phối chứngkhoán ra công chúng Đây chính là nghiệp vụ bảo lãnh phát hành của cácCTCK và là nghiệp vụ chiếm doanh thu khá cao trong tổng doanh thu củacông ty chứng khoán

 Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư: Đây là nghiệp vụ quản lý

vốn ủy thác của khách hàng để đầu tư vào chứng khoán thông qua danh mụcđầu tư nhằm sinh lợi cho khách hàng

 Nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán: Cũng như các loại hình

tư vấn khác, tư vấn đầu tư chứng khoán là công việc CTCK thông qua hoạtđộng phân tích để đưa ra các lời khuyên, phân tích các tình huống và có thể

Trang 6

thực hiện một số công việc dịch vụ khác liên quan tới phát hành, đầu tư và

cơ cấu tài chính cho khách hàng

 Các nghiệp vụ phụ trợ

+ Lưu kí chứng khoán: Là việc lưu giữ, bão quản chứng khoán của

khách hàng thông qua các tài khoản lưu ký chứng khoán Khi thực hiện dịch

vụ lưu ký chứng khoán cho khách hàng, CTCK sẽ nhận được các khoản thuphí lưu kí chứng khoán, phí gửi, phí rút và phí chuyển nhượng chứng khoán

+ Quản lý thu nhập của khách hàng (quản lý cổ tức): Xuất việc từ

việc lưu kí chứng khoán cho khách hàng, công ty chứng khoán sẽ theo dõitình hình thu lãi, cổ tức của chứng khoán và đứng ra làm dịch vụ thu nhận

và chi trả cổ tức cho khách hàng thông qua tài khoản mở của khách hàng

+ Nghiệp vụ tín dụng: Đối với các thị trường chứng khoán phát triển,

bên cạnh nghiệp vụ môi giới chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoahồng, CTCK còn triển khai dịch vụ cho vay chứng khoán để khách hàngthực hiện giao dịch bán khống (short sale) hoặc cho khách hàng vay tiền đểkhách hàng thực hiện nghiệp vụ mua ký quĩ

+ Nghiệp vụ quản lý quỹ: ở một số TTCK, pháp luật còn cho phép

CTCK được quản lý được thực hiện nghiệp vụ quản lý quĩ đầu tư Theo đó,CTCK cử đại diện của mình để quản lý quĩ đầu tư Theo đó, CTCK cử đạidiện của mình để quản lý quĩ và sử dụng vốn và sử tài sản của quĩ để đầu tư

để đầu tư CTCK được thu phí dịch vụ quản lý quĩ đầu tư

Trang 7

phiếu) thì luôn biến động mạnh, còn hoạt động môi giới, thực hiện quản lýtiền, tư vấn… thì không cần vốn lớn Vì vậy hoạt động tài chính vốn CTCK

là làm thể nào có một cơ cấu vốn hợp lý (tỷ lệ nợ và vốn chủ hợp lý…) vàtìm kiếm các nguồn tài trợ cho vốn của công ty (phát hành cổ phiếu, tráiphiếu, chứng chỉ quĩ …)

 Quản lý vốn và hạn mức kinh doanh: Trong quản lý vốn của công

ty ngoài việc xác định tỷ lệ cơ cấu vốn như trên, các CTCK cần phải duy trìmột mức vốn khả dụng để dảm bảo khả năng thanh toán cho nhà đầu tư.Ngoài ra công ty còn phải trích thêm phần trăm lãi ròng hàng năm lập quĩ bổsung vốn điều lệ cho tới khi bằng một mức phần trăm nào đó của vốn điều

lệ Quỹ này sẽ được bù đắp các thâm hụt trong tương lai

 Kế toán công ty: Kế toán công ty là một hệ thống chức năng cungcấp các thông tin tài chính hữu hiệu cho việc ra các quyết định kinh doanh

và kinh tế, thông qua việc ghi chép, sắp xếp hệ thống, chuyển giao các hoạtđộng tài chính của một công ty

1.1.5 Chức năng và vai trò của công ty chứng khoán

1.1.5.1 Chức năng cơ bản của công ty chứng khoán

 Tạo ra cơ chế huy động vốn linh hoạt giữa người có tiền nhàn rỗiđến người sử dụng vốn (thông qua cơ chế phát hành và bảo lãnh phát hành)

 Cung cấp cơ chế giá cho giao dịch (thông qua hệ thống khớp giáhoặc khớp lệnh)

 Tạo tính thanh khoản cho chứng khoán (hoán chuyển từ chứngkhoán ra tiền mặt, và ngược lại từ tiền mặt ra chứng khoán một cách dễdàng)

 Góp phần điều tiết và bình ổn thị trường (thông qua hoạt động tựdoanh hoặc vai trò tạo lập thị trường )

Trang 8

1.1.5.2 Vai trò của các công ty chứng khoán

Với những chức năng cơ bản như trên, CTCK có vai trò quan trọngđối với những chủ thể khác nhau trên TTCK

 Đối với các tổ chức phát hành: Mục tiêu tham gia của TTCK củacác tổ chức phát hành là huy động vốn thông qua việc phát hành các chứngkhoán

 Đối với các nhà đầu tư: Thông qua các hoạt động như môi giới, tưvấn đầu tư, CTCK có vai trò làm giảm chi phí và thời gian giao dịch, do đónâng cao hiệu quả đầu tư

Đối với TTCK thì công ty chứng khoán có hai vai trò chính:

 Góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trường

 Góp phần làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính

 Đối với các cơ quan quản lý thị trường CTCK có vai trò cung cấpthông tin về TTCK cho các cơ quan quản lý thị trường

Tóm lại CTCK là một tổ chức chuyên nghiệp trên TTCK, có vai tròcần thiết và quan trọng đối với các nhà đầu tư, các nhà phát hành đối với các

cơ quan quản lý thị trường và đối với TTCK nói chung

1.2 HOẠT ĐỘNG PHÂN TÍCH NGÀNH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN

1.2.1 Khái niệm phân tích ngành

Phân tích ngành là việc sử dụng các mô hình để phân tích sự ảnhhưởng của mỗi ngành nghề đến những biến động của thị trường, hay của nềnkinh tế Đây là bước phân tích để chúng ta tiến tới có thể đưa ra những lựachọn công ty, hay loại cổ phiếu nhất định cho một danh mục đầu tư an toàn

mà vẫn đảm bảo khả năng sinh lời

1.2.2 Vị trí và mục đích phân tích ngành của công ty chứng khoán

1.2.2.1 Vị trí của hoạt động phân tích ngành trong công ty chứng khoán

Phân tích ngành là một nghiệp vụ chính trong phòng phân tích vànghiên cứu trong công ty chứng khoán Đây là một bộ phận của kế hoạch ba

Trang 9

bước phân tích thiết yếu đã được xác lập Phân tích ngành là bước thứ hai đểchúng ta tiến tới lựa chọn các công ty nhất định và những cổ phiếu nhất địnhcho danh mục đầu tư của chúng ta.

Phân tích ngành không phải một nghiệp vụ trực tiếp đem lại doanhthu cho các công ty chứng khoán Nó cũng không có vị trí quan trọng tớimức các công ty chứng khoán không thể không thực hiện nghiệp vụ này.Phân tích ngành đơn giản là một nghiệp vụ phân tích bổ trợ hỗ trợ cho cáchoạt động nghiệp vụ doanh thu khác được tốt hơn

1.2.2.2 Mục đích của hoạt động phân tích ngành trong công ty chứng khoán

 Đối với hoạt động tự doanh: Giao dịch tự doanh là các giao dịchbằng chính nguồn vốn kinh doanh của công ty nhằm phục vụ mục đích đầu

tư kinh doanh thu lợi cho chính mình Có thể nói, khi thực hiện hoạt động tựdoanh thì các công ty chứng khoán cũng đóng vai trò của nhà đầu tư muabán cổ phiếu nhằm mục đích kiếm lời Do đó họ cũng cần có nhiều thông tin

để ra quyết định Thông tin ngành là một trong những thông tin quan trọng.Việc phát triển hoạt động phân tích ngành sẽ giúp công ty có nhiều thông tin

để ra quyết định hơn

 Đối với động môi giới: Hoạt động phân tích ngành giúp cung cấpthông tin cho các nhân viện môi giới để họ có thể có sự tư vấn đầy đủ thôngtin hơn đến khách hàng Những khách hàng đến với công ty chứng khoánkhông chỉ vì mục đích giao dịch, họ còn có nhu cầu được tư vấn Nhữngnhóm khách hàng lai thường rất khác nhau về phương thức đầu tư cũng nhưmức độ ưa thích rủi ro Những bài bình luận cũng như các thông tin truyềnthông khác không đủ để họ có được quyết định đầy đủ thông tin nhất không

kể đến điều kiện khả năng cập nhật và tổng hợp thông tin của họ Do đó mộtcông ty cung cấp hoạt động môi giới tốt hơn sẽ có khả năng lôi kéo kháchhàng lớn hơn.Việc phân tích ngành nhằm mục đích cung cấp thông tin đểnâng cao chất lượng môi giới của công ty chứng khoán

Trang 10

 Đối với hoạt động quản lý danh mục đầu tư: Hoạt động phân tíchngành cũng không có mục địch khác ngoài giúp cung cấp thông tin cho hoạtđộng này hoạt động hiệu quả hơn

1.2.3 Quá trình phân tích ngành

Quá trình này bao gồm:

Phân tích tổng quát ngành: Việc này giúp ta nhận biết được chu kỳ

kinh doanh và yếu tố thị trường có tác động như thế nào tới sự phát triển haythất bại của ngành

Phân tích vi mô ngành: Việc phân tích dựa vào các mô hình và số

liệu trong ngành

1.2.3.1 Phân tích tổng quan ngành

Bao gồm phân tích các nhân tố:

a Chu kỳ kinh doanh và các bộ phận của ngành

b Những thay đổi trong cấu trúc nền kinh tế và các ngành khác nhau

c Xác định chu kỳ sống của ngành

d Phân tích môi trường cạnh tranh trong một ngành

e Chu kỳ kinh doanh và các bộ phận của ngành

f Khuynh hướng thị trường có thể có hai dạng chính: Chu kỳ thay đổi

và Cấu trúc thay đổi

a Chu kỳ kinh doanh chúng ta có thể nhận ra những ngành hàng hấp

dẫn các nhà đầu tư thông qua sự biến động của từng chu kỳ kinh doanh Vàviệc dự đoán được những thay đổi của những yếu tố kinh tế quan trọng tốithiểu từ 3 đến 6 tháng trong tương lai là rất cần thiết trong hoạt động đầu tư

b Những thay đổi trong cấu trúc kinh tế và các ngành khác nhau

Sự thay đổi trong công nghệ, chính trị, môi trường pháp lý là nhữngyếu tố sẽ ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ dòng tiền và rủi ro tiềm năng củamỗi ngành trong nền kinh tế

 Thành phần lao động

 Phong tục của người dân

Trang 11

 Sự phát triển của công nghệ

 Tính ổn định của Chính trị và Luật pháp

c Xác định chu kỳ sống của ngành

Khi dự đoán doanh thu và lợi nhuân ngành bắt buộc phải phân chia sựphát triển của chu kỳ sống của ngành thành những giai đoạn khác nhau, từkhi hình thành đến khi kết thúc Thường, một chu kỳ sống của ngành đượcphân chia thành 5 giai đoạn khác nhau:

 Giai đoạn bắt đầu phát triển

 Giai đoạn tăng trưởng nhanh

 Giai đoạn bắt đầu tăng trưởng chín muồi

 Giai đoạn ổn định và tăng trưởng chín muồi

 Giai đoạn tăng trưởng giảm

Đồng thời, việc phân tích chu kỳ sống của ngành cũng có thể cungcấp một số dấu hiệu liên quan đến lợi ích biên và tỷ lệ tăng trưởng thu nhập

Sau khi phân tích các yếu tố vĩ mô ta sử dụng các yếu tố môi trường

vĩ mô này xem xét ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh

Môi trường kinh doanh: Môi trường kinh doanh là tổng thể các yếu

tố, điều kiện kinh tế, chính trị pháp luật, công nghệ, văn hoá xã hội, chínhsách chế độ, thông lệ, phong tục sống tại mỗi quốc gia…và cả những điềukiện, yếu tố của ngành và nội bộ từng doanh nghiệp đang tác động vào hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp đó Môi trường kinh doanh là một yếu tốquan trọng và luôn thay đổi, buộc các doanh nghiệp phải không ngừng cảithiện để thích nghi Có thể chia môi trường kinh doanh thành hai nhóm: Vĩ

mô và vi mô (hay còn gọi là tổng quát và đặc thù)

Môi trường vĩ mô ảnh hưởng đến tất cả các ngành kinh doanh, nhưngkhông nhất thiết phải theo một cách xác định Còn môi trường vi mô lànhững yếu tố ảnh hưởng tới một ngành cụ thể trong nền kinh tế

Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô

Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô bao gồm:

Trang 12

 Yếu tố kinh tế :Đó là những tác động chung trong nền kinh tế,được đo bởi các chỉ tiêu: tốc độ phát triển kinh tế, mức độ thu nhập, lạmphát, lãi suất…

 Yếu tố chính trị: Yếu tố này có vai trò định hướng, chi phối toàn bộhoạt động trong đó có hoạt động kinh doanh

 Yếu tố pháp luật và chính phủ

 Yếu tố văn hoá – xã hội: Các giá trị chung như phong tục tập quán,

tư tưởng tôn giáo, cơ cấu dân số, thu nhập…

 Yếu tố tự nhiên: Nguồn tài nguyên, tình trạng môi trường, nguồnnăng lượng…

 Yếu tố dân số, địa lý: Đây là những yếu tố ảnh hưởng đến nguồnnhân lực, khách hàng của doanh nghiệp

 Yếu tố ký thuật công nghệ: Với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, côngnghệ giúp các doanh nghiệp có những phát triển nhanh gấp nhiều lần so vớiviệc không sử dụng công nghệ mới

Sử dụng mô hình năm nhân tố cuar Porter về phân tích ngành

Để tạo ra một chiến lược cạnh tranh thuận lợi, các doanh nghiệp phảikiểm tra cấu trúc cạnh tranh cơ bản của chính mình bởi vì lơi nhuận tiềmnăng của một công ty bị ảnh hưởng lớn bởi lợi nhuận cạnh tranh của ngành.Theo Porter, ông tin rằng, môi trường cạnh tranh của một ngành bao giờcũng bị ảnh hưởng bởi 5 yếu tố chính, và 5 lực lượng này trong cạnhtranhlớn này định ra mức độ mạnh của sự cạnh tranh và ảnh hưởng của mỗinhân tố có thể thay đổi đột ngột trong số các ngành Bao gồm:

 Đối thủ tiềm năng tham gia vào ngành

 Tác động của người mua

 Tác động của người bán

 Các đối thủ cạnh tranh lẫn nhau hiện tại trong ngành

 Sản phẩm thay thế

Trang 13

1.2.3.2 Phân tích mô hình ngành

Quy trình phân tích

Bước1: Xác định hệ số rủi ro bêta của ngành, từ đó tính toán lợi

suất yêu cầu theo công thức CAPM : E(R) = Rf + beta*(Rm – Rf)

Trong đó:

E(R) : lợi tức yêu cầu của ngànhRf: Lợi tức phi rủi ro

Rm: Lợi tức trung bình của thị trường

Bước 2: Phân tích chỉ số P/E của toàn ngành

Ta có thể phân tích từ hai góc độ: Xem xét mối quan hệ của P/Engành với P/E tổng thể thị trường hay Xem xét các nhân tố cơ bản củangành gây tác động trực tiếp tới P/E ngành như hệ số trả cổ tức, lợi suất yêucầu r và tỷ lệ tăng trưởng cổ tức

Bước 3: ước tính thu nhập trên cố phiếu (EPS)

Việc ước tính này dựa trên phương pháp chủ yếu như phân tích chu

kỳ kinh doanh, phân tích đầu vào – ra, phân tích mối quan hệ giữa ngành vàtrong nền kinh tế tổng thế

Bước 4: Tính giá trị của chỉ số ngành bằng cách nhân hệ số P/E

cuối kỳ tính toán được với ước tính thu nhập đầu cổ phiếu:

r =(giá trị chỉ số cuối kỳ- giá trị đầu kỳ+ cổ tức nhận trong kỳ)/giá trị đầu kỳ

Bước 5: so sánh lợi suất đạt được r với lợi suất yêu cầu E(R).

Thông thường, nếu r>E(R) thì nên đầu tư vào ngành này

Việc thực hiện đầy đủ quy trình trên sẽ rất thuận lợi nếu có sẵn số liệuthống kê Tuy nhiên, trong thực tế, việc có được đầy đủ các chỉ số một cáchchính xác là điều không tưởng Tuy vậy, chúng ta có thể bắt đầu phân tích

mô hình DDM với 2 giai đoạn tăng trưởng cho ngành, sau đó, sẽ phân tích

mô hình dòng tiền tự do hoạt động FCFE, rồi các chỉ số P/E, P/BV, P/CF, P/S

Sử dụng mô hình DDM để xác định giá trị ngành

Trang 14

D1

Pi = k-gTrong đó: Pi: giá trị ngành i tại thời điểm t

-D1: mức cổ tức dự tính của ngành i ở thời kỳ 1

Và hai yếu tố quan trọng nhất ở đây là k và g

Tỷ lệ lợi tức yêu cầu như ta biết là bị ảnh hưởng bở tỷ lệ RFR và tỷ lệlạm phát dự tính Tuy vậy, sự khác biệt giữa các ngành trong phân tích làmức bù đắp rủi ro Trong đó, các nhân tố tác động đến mức bù đắp rủi robao gồm: rủi ro kinh doanh (BR), rủi ro tài chính (FR), rủi ro thanh khoản(LR), rủi ro tỷ giá (ER) và rủi ro chính trị (CR)

Mặt khác, ta có thể xác định mức bù rủi ro thông qua mô hình CAPM,bởi mức bù rủi ro là một nhân tố trong rủi ro hệ thống bêta của tài sản

Sử dụng mô hình FCFE để xác định giá trị ngành

Chúng ta có hai mô hình FCFE là :

 Mô hình FCFE tăng trưởng ổn định

 Mô hình tăng trưởng hai giai đoạn

Sử dụng các tỷ số để phân tích ngành

Trước tiên chúng ta sẽ nghiên cứu một cách kỹ lưỡng mô hình sửdụng nhân tố P/E, sau đó sử dụng các chỉ số P/BV, P/CF, P/S

Kỹ thuật số nhân thu nhập

Có 2 bước để ước tính EPS và P/E

 Bước 1: Ước tính EPS của ngành

Đầu tiên, phải ước tính được doanh số bán hàng trên một cổ phiếu củangành Việc phân tích các chỉ số của ngành buộc các nhà kinh tế phải nắm

rõ chu kỳ sống của ngành, xác định được ngành đang ở giai đoạn nào, vànhững cấu trúc nào ảnh hưởng đến sự biến động của ngành thông qua:

- Phân tích thông tin trong quá khứ Việc phân tích các thông tin,

số liệu trong quá khứ sẽ là nguồn rất quan trọng để ước tính được doanh số

Trang 15

bán hàng của ngành trong tương lai Với rất nhiều ngành, việc phân tíchngoại suy để ước tính doanh số bán trong thời gian tới là vô cùng quantrọng, bởi nó cho ta biết những biến động có thể có nhờ vào những thông tintrong quá khứ.

- Phân tích đầu ra – vào của ngành Đây là một phương pháp khác

để có được các dự tính về triển vọng phát triển của ngành Với việc phântích này, chúng ta cần biết được các nhà cung cấp và các khách hàng củangành Điều đó sẽ giúp chúng ta xác định được nhu cầu trong tương lai củakhách hàng và khả năng cung cấp các yếu tố đầu vao cần thiết của ngànhcủa các nhà cung cấp Mục đích chính ở đây là để dự tính được sự tăngtrưởng doanh số tiêu thụ trong dài hạn của ngành

- Phân tích mối quan hệ của ngành với nền kinh tế Một cách phân

tích chặt chẽ và hiệu quả nhất là so sánh doanh số của ngành với mọt hoặctổng hợp các chỉ số kinh tế có liên quan đến sản phẩm và dịch vụ của ngành

 Bước 2: Dự tính số nhân thu nhập ngành

Sử dụng hay kỹ thuật để dự tình số nhân ngành: phân tích vĩ mô và vimô

1.2.4 Vai trò của phân tích ngành

Phân tích ngành là một trong những biện pháp giúp nhà đầu tư hạnchế được rủi ro, và có thể đây là một phần kế hoạch nhằm xác định giá trịcủa từng công ty riêng lẻ và để lựa chọn một danh mục đầu tư an toàn và cókhả năng sinh lời cao nhất

Trong suốt thời kỳ nhất định, lợi nhuận của mỗi ngành có mức độphân tán và rủi ro khác nhau, nên phân tích ngành giúp ích rất nhiều trongquá trình đầu tư

Tỷ lệ lợi nhuận cho mỗi ngành là biến đổi theo thời gian, vì thế,không chỉ sử dụng thông tin trong quá khứ để có được phân tích chính xác.Việc phân tích ngành giúp tăng cường tính chuẩn xác của kết quả đã phântích

Trang 16

Tỷ lệ lợi nhuận hàng năm của các công ty riêng lẻ không ngừng biếnđổi, và việc phân tích ngành giúp ta xác định trước được xuhướng biến độngcủa mỗi công ty trong một thời gian ngắn trong tương lai.

Thước đo rủi ro cho các ngành kinh doanh khác nhau vẫn tương đối

ổn định theo thời gian, do vậy, việc phân tích ngành thực sự hữu ích khi ướctính rủi ro trong tương lai

Như vậy, phân tích ngành là một công việc cần thiết để có thể bảođảm được hai nguyên tắc trong đầu tư: tìm được ngành kinh doanh tốt hơn

và tránh được những thua lỗ trong kinh doanh

1.2.5 Những yêu cầu với công ty chứng khoán khi tiến hành nghiệp vụ phân tích ngành

Hoạt động phân tích ngành là hoạt động cung cấp các thông tin và cáckết luận phân tích cho các đối tượng cần thiết để ra quyết đinh Sản phẩmcủa nó có quan hệ chặt chẽ tới tính chất đúng đắn của các quyết định đượcđưa ra Do đó có một số yêu cầu khi tiến hành nghiệp vụ phân tích ngành

 Thông tin sử dụng để phân tích phải cập nhật, chính xác: Thịtrường chứng khoán là một thị trường hết sức nhạy cảm Các xu hướng diễnbiến thị trường có thể thay đổi chỉ sau một đêm Việc phân tích sẽ không cónhiều ý nghĩa khi các số liệu cập nhật nhất chưa được sử dụng Ngược lạinếu các thông tin sử dụng để phân tích lại là thông tin chưa được kiểm định

về tính chính xác thì bài phân tích rất có thể cho ra một kết quả không bámsát thực tế Do đó khi lựa chọn và sử dụng thông tin để phân tích, các nhânviên phân tích phải thu thập và lựa chọn những thông tin cập nhật và chínhxác tương đối Nếu không họ phải là người rất hiểu tác động mà nhữngthông tin mà họ đưa vào phân tích sẽ tác động như thế nào đến quyết địnhcủa nhà đầu tư

 Các kết luận cụ thể, ngắn gọn, xúc tích, kịp thời: Cũng bởi lý docác kết luận của phân tích ngành được sử dụng để ra quyết định nên những

Trang 17

kết luận chịu những đòi hỏi về thời gian cũng như nội dung chứa đựng Cácbài phân tích phải kịp thời, rõ ràng và cụ thể

1.3 HOẠT ĐỘNG PHÂN TÍCH NGÀNH CỦA MỘT SỐ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN

Trên thế giới TTCK đã xuất hiện khá lâu đời cách đây hàng trăm năm.Như TTCK Mỹ xuất hiện từ những năm 1792 và đến năm 1800 đánh dấu sự

ra đời Sở giao dịch chứng khoán đầu tiên, hay điển hình như TTCK HànQuốc đã có từ những năm 1950 … Sự ra đời của các TTCK đã thúc đẩy sựthành lập các CTCK nhanh chóng và phát triển Những công ty này lúc đầuchỉ là thực hiện các dịch vụ chính là đặt lệnh cho khách hàng mua, bán vàthanh toán tiền, những thị trường ngày càng phát triển các côngg ty bắt đầuvới những dịch vụ giá trị gia tăng khác như: tư vấn đầu tư, quản lý danhmục đầu tư, cầm cố, bão lãnh …Việc mở rộng hoạt động khiến các công tychứng khoán phải chuyên môn hóa việc nghiên cứu và phân tích củamình trong đó có phân tích ngành, đây là một nghiệp vụ mà hầu như cáccông ty trên thế giới đều đang triển khai, một số công ty nổi tiếng như ):Merrill Lynch, Dean Witter Reynolds, Shearson/Hutton, Prudential Bache,Smith Barney…, trong nghiệp vụ này lại có thêm những sản phẩm mới nhưbán thông tin phân tích cho các tổ chức; phân tích ngành theo yêu cầu Tuynhiên ở Việt Nam, nghiệp vụ phân tích ngành ở các công ty chứng khoán lạichưa được chú trọng phát triển Hầu hết nghiệp vụ này chỉ xuất hiện ở cáccông ty chứng khoán lớn Tuy nhiên cách thức mà các công ty này thực hiện

để phân tích ngành vẫn chưa thực sự đem lại nhiều thông tin hữu ích để cóthể sử dụng cho việc đưa ra kết luận phân tích

Trang 18

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH NGÀNH TẠI CHI NHÁNH TRẦN BÌNH TRỌNG CÔNG TY CỔ PHẦN

CHỨNG KHOÁN SÀI GÒN

2.1 TỔNG QUAN VỀ CHI NHÁNH TRẦN BÌNH TRỌNG CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN SÀI GÒN

2.1.1 Tóm tắt quá trình hình thành và phát triển

2.1.1.1 Giới thiệu chung về công ty

♦ Tên gọi: Công ty Cổ phần Chứng khoán Sài Gòn

♦ Tên tiếng Anh: Saigon Securities Inc

♦ Tên giao dịch: SSI

♦ Ngành nghề kinh doanh:

- Môi giới chứng khoán

- Tư vấn đầu tư chứng khoán và lưu ký chứng khoán

6 tỷ đồng

♦ SSI là Công ty Chứng khoán đầu tiên tại Thành phố Hồ Chí Minh, SSIđồng thời là thành viên của hai Trung tâm Giao dịch Chứng khoán: Trungtâm giao dịch chứng khoán Hà Nội và Trung tâm giao dịch chứng khoán TpHCM (nay là Sở Giao dịch Chứng khoán TP Hồ Chí Minh)

♦ 05/04/2000: SSI được UBCKNN cấp Giấy phép hoạt động kinh doanhchứng khoán với hai nghiệp vụ Môi giới và Tư vấn ñầu tư chứng khoán

♦ 07/2007: SSI tăng vốn điều lệ lên 799.999.170.000 đồng

Ngày đăng: 17/12/2012, 11:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Cơ cấu chi phí của công ty giai đoạn 2005 – Tháng 08/2007 - phát triển hoạt động phân tích ngành ở Chi nhánh Trần Bình Trọng Cty Cổ phần CK Sài Gòn
Bảng 2.2 Cơ cấu chi phí của công ty giai đoạn 2005 – Tháng 08/2007 (Trang 21)
Bảng  2.4: Các chỉ tiêu tài chính chủ yếu giai đoạn 2005 – Tháng 08/2007 - phát triển hoạt động phân tích ngành ở Chi nhánh Trần Bình Trọng Cty Cổ phần CK Sài Gòn
ng 2.4: Các chỉ tiêu tài chính chủ yếu giai đoạn 2005 – Tháng 08/2007 (Trang 22)
Bảng  2.5: Kế hoạch sản xuất kinh doanh, lợi nhuận và cổ tức giai đoạn 2007 – - phát triển hoạt động phân tích ngành ở Chi nhánh Trần Bình Trọng Cty Cổ phần CK Sài Gòn
ng 2.5: Kế hoạch sản xuất kinh doanh, lợi nhuận và cổ tức giai đoạn 2007 – (Trang 26)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w