1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các ngân hàng thương mại VN

73 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU (11)
    • 1.1 Giới thiệu vấn đề nghiên cứu (11)
    • 1.2 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu (11)
    • 1.3 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu (12)
    • 1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (0)
    • 1.5 Phương pháp nghiên cứu (13)
    • 1.6 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu (14)
    • 1.7 Kết cấu của luận văn (14)
  • CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN (16)
    • 2.1 Giới thiệu (16)
    • 2.2 Cơ sở lý luận (16)
      • 2.2.1 Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) (16)
      • 2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (18)
    • 2.3 Các nghiên cứu có liên quan (20)
  • CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG TỶ LỆ THU NHẬP LÃI CẬN BIÊN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM (28)
    • 3.1 Giới thiệu (28)
    • 3.2 Tổng quan về ngân hàng thương mại và hệ thống ngân hàng Việt Nam (28)
    • 3.3 Thực trạng tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các NHTM Việt Nam giai đoạn (34)
    • 3.4 Thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các (39)
      • 3.4.1 Tình hình vốn chủ sở hữu (39)
      • 3.4.2 Rủi ro tín dụng (40)
      • 3.4.3 Tính thanh khoản (42)
      • 3.4.4 Chi phí hoạt động (43)
      • 3.4.5 Thu nhập thuần ngoài lãi (44)
  • CHƯƠNG 4: NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỶ LỆ (47)
    • 4.1 Giới thiệu (47)
    • 4.2 Phương pháp nghiên cứu (47)
      • 4.2.1 Mô hình nghiên cứu (47)
      • 4.2.2 Phương pháp nghiên cứu (52)
        • 4.2.2.1 Phân tích thống kê mô tả (52)
        • 4.2.2.2 Phân tích tương quan (52)
        • 4.2.2.3 Phân tích hồi quy (52)
        • 4.2.2.4 Kiểm định đa cộng tuyến (53)
    • 4.3 Dữ liệu nghiên cứu (53)
    • 4.4 Kết quả của mô hình và thảo luận kết quả (54)
      • 4.4.1 Mô tả mẫu nghiên cứu (54)
      • 4.4.2 Phân tích tương quan mô hình nghiên cứu (55)
      • 4.4.3 So sánh giữa các mô hình trên panel data: Pooled Regression, Fixed (56)
      • 4.4.4 Kiểm định các giả thuyết hồi quy mô hình nghiên cứu (57)
        • 4.4.4.1 Kiểm định không có sự tự tương quan giữa các biến độc lập trong mô hình (không bị hiện tượng đa cộng tuyến) (57)
        • 4.4.4.2 Kiểm định phương sai của sai số không đổi (58)
        • 4.4.4.3 Kiểm định giữa các sai số không có mối quan hệ tương quan với (59)
        • 4.4.4.4 Tổng hợp kết quả kiểm định (59)
        • 4.4.4.5 Kết quả kiểm định độ phù hợp của các biến giải thích trong mô hình nghiên cứu và thảo luận kết quả (60)
  • CHƯƠNG 5: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC (64)
    • 5.1 Định hướng phát triển của các NHTM Việt Nam đến năm 2020 (64)
    • 5.2 Một số giải pháp nhằm gia tăng tỷ lệ thu nhập lãi cận biên đối với NHTM và NHNN (65)
      • 5.2.1 Đối với ngân hàng nhà nước (65)

Nội dung

GIỚI THIỆU

Giới thiệu vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu này phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2008-2016 Dựa trên nghiên cứu định lượng, bài viết xác định các yếu tố tác động đến NIM, với NIM là chỉ số phản ánh hiệu quả và khả năng sinh lời của ngân hàng Sự quan tâm đến vấn đề này không chỉ từ các học giả mà còn từ các nhà quản trị và cơ quan chức năng, vì việc hiểu rõ các nhân tố ảnh hưởng đến NIM sẽ hỗ trợ trong việc xây dựng chiến lược và chính sách nhằm đảm bảo sự ổn định và bền vững cho hệ thống ngân hàng.

Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu

Từ khi trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới WTO năm

Năm 2006, Việt Nam đã đối mặt với nhiều cơ hội và thách thức trong lĩnh vực ngân hàng, đặc biệt khi mở cửa thị trường tài chính, khiến các ngân hàng trong nước phải cạnh tranh gay gắt với ngân hàng nước ngoài Hoạt động tín dụng tại các NHTM Việt Nam đã suy giảm do nhiều yếu tố, trong khi tỷ lệ thu từ lãi vẫn chiếm 70-85% tổng thu nhập ngân hàng Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên là chỉ số quan trọng phản ánh hiệu quả và khả năng sinh lời của ngân hàng; tỷ lệ này thấp cho thấy cạnh tranh cao hơn và lợi nhuận bị co hẹp Việc nghiên cứu tỷ lệ thu nhập lãi cận biên và các yếu tố ảnh hưởng đến nó là cần thiết để giúp các nhà quản trị ngân hàng đưa ra chính sách phù hợp, đồng thời hỗ trợ các cơ quan liên quan trong việc đánh giá và giám sát hoạt động kinh doanh ngân hàng.

Tác giả đã lựa chọn đề tài "Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các NHTM Việt Nam" nhằm nghiên cứu những yếu tố quyết định đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại tại Việt Nam.

Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

Luận văn này nhằm xây dựng mô hình nghiên cứu để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các ngân hàng thương mại Việt Nam, với mục tiêu nghiên cứu cụ thể là phân tích và đánh giá các nhân tố này.

- Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các NHTM Việt Nam.

- Xác định các yếu tố và mức độ ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các NHTM Việt Nam

- Phân tích thực trạng tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các NHTM Việt Nam

Để gia tăng tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam, bài viết đề xuất một số giải pháp cho cả NHTM và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Để đạt được mục tiêu nghiên cứu này, luận văn cần trả lời các câu hỏi nghiên cứu liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên và các phương pháp tối ưu hóa nguồn thu từ lãi suất.

Yếu tố nội tại của ngân hàng có ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các ngân hàng thương mại Việt Nam Các yếu tố như chất lượng tài sản, chi phí huy động vốn và hiệu quả quản lý rủi ro đều có tác động trực tiếp đến khả năng sinh lời từ hoạt động cho vay Việc cải thiện các yếu tố này sẽ giúp nâng cao tỷ lệ thu nhập lãi cận biên, từ đó tăng cường hiệu quả hoạt động của ngân hàng.

- Thứ hai, thực trạng tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các NHTM Việt Nam giai đoạn 2008 – 2016 như thế nào ?

Để tăng cường tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam, cần thực hiện các kiến nghị và giải pháp khả thi từ cả NHTM và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việc tối ưu hóa quản lý chi phí và nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay là điều thiết yếu Đồng thời, cải thiện các sản phẩm dịch vụ ngân hàng và áp dụng công nghệ hiện đại cũng sẽ góp phần gia tăng thu nhập lãi.

1.4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các NHTM Việt Nam

Bài viết phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của 25 ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam trong giai đoạn 2008-2016, bao gồm cả NHTM nhà nước và NHTM cổ phần Dữ liệu được thu thập sau khi loại bỏ các ngân hàng đã trải qua quá trình sáp nhập hoặc không công bố thông tin đầy đủ Giai đoạn 2008-2016 được chọn vì đây là thời điểm Việt Nam gia nhập WTO, và thông tin từ các ngân hàng được công bố là khá đầy đủ cho việc phân tích định lượng.

Dựa trên mục tiêu nghiên cứu, luận văn áp dụng phương pháp phân tích định lượng để xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các ngân hàng thương mại Việt Nam.

- Nhằm cung cấp những thông tin tổng quát về mẫu nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp phân tích thống kê mô tả

- Phân tích tương quan được sử dụng để kiểm tra độ lớn trong mối quan hệ giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc

- Phân tích hồi quy được sử dụng để đo lường mức độ tác động và chiều tác động của từng biến độc lập đến biến phụ thuộc

Để xác định mô hình hồi quy tối ưu cho việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các ngân hàng thương mại Việt Nam, tác giả đã thực hiện so sánh các phương pháp kiểm định và đánh giá mức độ phù hợp của mô hình nghiên cứu dựa trên kết quả kiểm định.

Dựa trên kết quả phân tích hồi quy, bài viết đánh giá tác động của các yếu tố đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu Thực trạng tỷ lệ thu nhập lãi cận biên cho thấy sự ảnh hưởng rõ rệt của các yếu tố kinh tế và chính sách tài chính đối với hiệu quả hoạt động của ngân hàng.

1.6 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu

Luận văn này cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của các yếu tố đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các ngân hàng thương mại Việt Nam, từ đó giúp các nhà quản trị ngân hàng có hướng đi nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng Điều này không chỉ kích thích sản xuất và tiêu dùng mà còn góp phần phát triển kinh tế Hơn nữa, nghiên cứu này sẽ là nền tảng cho các nghiên cứu liên quan đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên trong tương lai.

1.7 Kết cấu của luận văn

Kết cấu luận văn bao gồm năm chương như sau:

Chương 2: Cơ sở lý luận và các nghiên cứu có liên quan

Chương 3: Thực trạng tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các NHTM Việt Nam

Chương 4: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các NHTM Việt Nam

Chương 5: Một số giải pháp đối với NHTM và NHNN

Phương pháp nghiên cứu

Dựa trên mục tiêu nghiên cứu, luận văn áp dụng phương pháp phân tích định lượng nhằm xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các ngân hàng thương mại Việt Nam.

- Nhằm cung cấp những thông tin tổng quát về mẫu nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp phân tích thống kê mô tả

- Phân tích tương quan được sử dụng để kiểm tra độ lớn trong mối quan hệ giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc

- Phân tích hồi quy được sử dụng để đo lường mức độ tác động và chiều tác động của từng biến độc lập đến biến phụ thuộc

Để xác định mô hình hồi quy tối ưu cho việc nghiên cứu các yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các ngân hàng thương mại Việt Nam, tác giả đã tiến hành so sánh các phương pháp kiểm định và đánh giá mức độ phù hợp của mô hình nghiên cứu dựa trên kết quả kiểm định.

Dựa trên kết quả phân tích hồi quy và thực trạng tỷ lệ thu nhập lãi cận biên, bài viết đánh giá và nhận xét về tác động của các yếu tố đến tỷ lệ này tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu.

Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu

Luận văn này cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của các yếu tố đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các ngân hàng thương mại Việt Nam Kết quả nghiên cứu sẽ giúp các nhà quản trị ngân hàng tìm ra hướng đi hiệu quả để nâng cao hoạt động tín dụng, từ đó kích thích sản xuất, tiêu dùng và phát triển kinh tế Ngoài ra, nghiên cứu này cũng tạo nền tảng cho các nghiên cứu tương lai liên quan đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên.

Kết cấu của luận văn

Kết cấu luận văn bao gồm năm chương như sau:

Chương 2: Cơ sở lý luận và các nghiên cứu có liên quan

Chương 3: Thực trạng tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các NHTM Việt Nam

Chương 4: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các NHTM Việt Nam

Chương 5: Một số giải pháp đối với NHTM và NHNN

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

Giới thiệu

Chương 1 đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu Phần đầu chương 2 sẽ giới thiệu các lý thuyết về tỷ lệ thu nhập lãi cận biên và các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên Đồng thời lược khảo các công trình nghiên cứu trước của các tác giả khác nhau có liên quan đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên để đúc kết những tinh túy cho luận văn Đây là một phần quan trọng và không thể thiếu trong một công trình nghiên cứu.

Cơ sở lý luận

2.2.1 Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM)

Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) là chỉ số quan trọng đo lường chênh lệch giữa thu nhập từ lãi và chi phí lãi mà ngân hàng đạt được NIM phản ánh hiệu quả quản lý tài sản sinh lời và khả năng tối ưu hóa nguồn vốn với chi phí thấp nhất Công thức tính NIM được xác định bằng cách lấy chênh lệch giữa thu nhập từ lãi và chi phí lãi, chia cho tài sản có sinh lời bình quân của ngân hàng.

Thu nhập lãi là nguồn thu quan trọng từ các khoản cho vay khách hàng, đầu tư vào chứng khoán, tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước, cho vay các tổ chức tín dụng, cùng với các khoản thu khác liên quan đến hoạt động tín dụng.

- Chi phí lãi là chi phí trả lãi mà ngân hàng phải trả cho tiền gửi, tiền vay và các khoản chi phí tương tự

Tài sản Có sinh lời của ngân hàng là các tài sản tạo ra thu nhập lãi trong một khoảng thời gian cụ thể, bao gồm cho vay khách hàng, chứng khoán đầu tư, và tiền gửi tại NHNN Việt Nam cùng các tổ chức tín dụng khác Tài sản này không bao gồm tiền kim loại quý và tài sản cố định Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên giúp nhà quản trị đánh giá khả năng sinh lời và dự đoán hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng Qua đó, ngân hàng có thể điều chỉnh và kiểm soát các loại tài sản có sinh lời, tìm kiếm nguồn vốn chi phí thấp, và áp dụng chính sách lãi suất hợp lý.

Xét về khía cạnh kinh tế, thu nhập lãi đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của ngân hàng, với hệ số NIM cao cho thấy hiệu quả trong quản trị tài sản Nợ - Có Ngược lại, NIM thấp cho thấy lợi nhuận ngân hàng đang bị thu hẹp Theo S&P, NIM dưới 3% được coi là thấp, trong khi NIM trên 5% được xem là quá cao Thông thường, NIM cao hơn ở các ngân hàng bán lẻ quy mô nhỏ, ngân hàng thẻ tín dụng và tổ chức cho vay so với các ngân hàng bán buôn, ngân hàng đa quốc gia hay tổ chức cho vay cầm cố.

Xét về lợi ích xã hội, mức NIM (Net Interest Margin) nào là tốt hay xấu vẫn cần làm rõ (Doliente, 2005) Nghiên cứu của Claeys và Vennet (2008) cho thấy, ở các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi, NIM cao thường được coi là kém hiệu quả do thiếu cạnh tranh trên thị trường NIM cao dẫn đến lãi suất cho vay cao, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc huy động vốn, trong khi lãi suất huy động lại thấp khiến việc thu hút tiền gửi trở nên khó khăn Ngược lại, NIM thấp có thể phản ánh sự cạnh tranh và hoạt động hiệu quả trong hệ thống ngân hàng Tuy nhiên, trong môi trường kinh tế mà các ngân hàng yếu kém hoạt động và áp dụng chiến lược cấp tín dụng với lãi suất thấp để tăng thị phần, NIM thấp chưa chắc đã được xem là tích cực (Doliente, 2005; Nguyễn Minh Sáng và các cộng sự, 2014, trang 21-22).

Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) cao thường được coi là tích cực từ góc độ kinh tế, nhưng lại mang tính chất tương đối khi xem xét lợi ích xã hội Một NIM thấp cho thấy hệ thống ngân hàng hoạt động không hiệu quả, nhưng lại tạo điều kiện cho doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận nguồn vốn tín dụng Ngược lại, NIM cao cho thấy ngân hàng thu được lợi nhuận lớn, nhưng có thể cản trở lưu thông tín dụng và kìm hãm sự phát triển kinh tế Sự tồn tại của NIM cao và thấp phản ánh xung đột lợi ích giữa các nhà hoạch định chính sách, những người muốn tối đa hóa lợi ích xã hội, và hệ thống ngân hàng thương mại, nơi có mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.

2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên

Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên sẽ thay đổi khi có sự biến động lãi suất, với việc giảm lãi suất thị trường dẫn đến chi phí huy động của ngân hàng giảm nhanh hơn thu nhập lãi, làm tăng tỷ lệ này Ngược lại, khi lãi suất tăng, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên sẽ giảm Tuy nhiên, theo thời gian, tác động này sẽ giảm do các khoản cho vay trung – dài hạn đáo hạn hoặc được thiết lập lại theo lãi suất mới Ngoài ra, tỷ lệ này cũng bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi giá trị tài sản và nợ nhạy cảm với lãi suất mà ngân hàng nắm giữ Do đó, các nhà quản trị ngân hàng sử dụng tỷ lệ thu nhập lãi cận biên để đánh giá tác động của biến động lãi suất.

Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên không chỉ phụ thuộc vào công thức tính toán mà còn bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác liên quan đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

Vốn chủ hữu là nguồn vốn hình thành từ sự góp vốn ban đầu của chủ ngân hàng và được bổ sung trong quá trình hoạt động, bao gồm vốn điều lệ, thặng dư vốn, lợi nhuận chưa phân phối và một số nguồn vốn khác Quy mô vốn chủ sở hữu không trực tiếp ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên, nhưng tác động gián tiếp thông qua áp lực tăng trưởng tín dụng Việc tăng vốn giúp ngân hàng cải thiện khả năng tài chính và đảm bảo các hệ số an toàn vốn (hệ số CAR).

Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động cấp tín dụng do khách hàng không thực hiện nghĩa vụ của mình Tỷ lệ nợ xấu cao dẫn đến tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng tăng, ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập và nguồn vốn của ngân hàng Ngoài ra, ngân hàng còn phải đối mặt với rủi ro thanh khoản, khó khăn trong huy động vốn, và giảm uy tín, năng lực cạnh tranh Do đó, ngân hàng phải chịu chi phí cao hơn cho việc huy động vốn và tăng tỷ lệ thu nhập lãi cận biên để bù đắp tổn thất.

Thanh khoản ngân hàng là khả năng thực hiện các nghĩa vụ thanh toán, được đo lường qua tỷ lệ tài sản có tính thanh khoản trên tổng tài sản và tỷ lệ dư nợ trên huy động vốn Thanh khoản ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên thông qua chi phí sử dụng vốn; khi ngân hàng gặp khó khăn về thanh khoản, chi phí huy động vốn tăng lên, dẫn đến sự chênh lệch giữa lãi suất cho vay và huy động vốn cũng gia tăng.

Chi phí hoạt động là các khoản chi phát sinh trong quá trình kinh doanh của ngân hàng, và việc kiểm soát chi phí là hoạt động thiết yếu Quản lý hiệu quả chi phí hoạt động giúp ngân hàng gia tăng lợi nhuận và nâng cao hiệu quả hoạt động Đồng thời, chi phí hoạt động cũng tác động trực tiếp đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên, đặc biệt đối với các ngân hàng có nguồn thu nhập chủ yếu từ lãi.

Thu nhập thuần ngoài lãi của ngân hàng bao gồm các nguồn thu từ phí dịch vụ, đầu tư chứng khoán, và các nghiệp vụ ngân hàng đầu tư khác Việc đa dạng hóa nguồn thu nhập giúp ngân hàng giảm chi phí dự phòng rủi ro, đồng thời phản ánh xu hướng phát triển bền vững trong tương lai.

Các nghiên cứu có liên quan

2.3.1 Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới

Hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm toàn cầu đều áp dụng mô hình hồi quy tuyến tính để phân tích các yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) của ngân hàng.

Raja Almarzoqi và Sami Ben Naceur (IMF, 2015) đã nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố nội tại và vĩ mô đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) của 110 ngân hàng thương mại tại khu vực Cáp-ca-dơ và Trung Á trong giai đoạn 1998 - 2013 Nghiên cứu sử dụng các biến độc lập như chi phí hoạt động, tỷ lệ vốn chủ sở hữu, rủi ro tín dụng, quy mô cho vay, thu nhập ngoài lãi và chi phí cơ hội của dự trữ bắt buộc để đại diện cho đặc điểm nội tại của ngân hàng Đối với thị trường ngân hàng, độ tập trung thị trường được xem xét, trong khi các yếu tố kinh tế vĩ mô như lạm phát và lãi suất chính sách cũng được đưa vào phân tích Cuối cùng, các yếu tố thể chế như độ sâu của chỉ số thông tin tín dụng, sự bảo hộ mậu dịch và thể chế hóa cũng được xem là các biến độc lập quan trọng trong nghiên cứu này.

Nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố nội tại của ngân hàng, đặc trưng của thị trường ngân hàng và các yếu tố kinh tế vĩ mô đều có ảnh hưởng đến NIM Tuy nhiên, mức độ tác động và mối tương quan này thay đổi tùy theo dữ liệu của từng quốc gia trong khu vực.

Các biến độc lập ảnh hưởng đến NIM trong phân tích hồi quy tại các nước và khu vực CCA cho thấy chi phí hoạt động có mối tương quan thuận đáng kể với NIM, trong khi thu nhập ngoài lãi lại có mối tương quan nghịch đáng kể Bên cạnh đó, chi phí cơ hội của dự trữ bắt buộc cũng có mối tương quan thuận với NIM.

Các biến độc lập có mối tương quan khác nhau với NIM ở các quốc gia khác nhau Tỷ lệ vốn chủ sở hữu có thể tương quan thuận hoặc nghịch tùy thuộc vào đặc điểm từng quốc gia; trong khi tại Uzbekistan, không có mối tương quan với NIM Rủi ro tín dụng cho thấy mối tương quan nghịch với NIM ở Georgia và Kazakhstan, nhưng lại tương quan thuận tại Uzbekistan Quy mô hoạt động cho vay có mối tương quan nghịch với NIM ở Azerbaijan và Uzbekistan, trong khi tương quan thuận ở Armenia Ngoài ra, các yếu tố như độ tập trung thị trường, lạm phát và lãi suất chính sách cũng thể hiện mối tương quan khác nhau với NIM, phụ thuộc vào từng quốc gia và mô hình hồi quy.

Nghiên cứu không phát hiện tác động đáng kể của các biến độc lập đại diện cho thể chế, bao gồm độ sâu của chỉ số thông tin tín dụng, sự bảo hộ mậu dịch và thể chế hóa.

Ong Tze San và Teh Boon Heng (2013) đã nghiên cứu tác động của các yếu tố ngân hàng và vĩ mô đến khả năng sinh lợi của ngân hàng Malaysia trong giai đoạn 2003-2009 Nghiên cứu cho thấy rằng rủi ro tín dụng và thanh khoản ngân hàng có ảnh hưởng tích cực đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM), trong khi tỷ lệ chi phí hoạt động lại tác động tiêu cực đến NIM Tuy nhiên, nghiên cứu không phát hiện được tác động có ý nghĩa của tỷ lệ vốn chủ sở hữu, quy mô ngân hàng, tăng trưởng kinh tế và lạm phát đối với NIM.

T Velnampy & J Aloy Nirest (2012) đã cho rằng có sự tác động của cấu trúc vốn đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) tại 10 ngân hàng ở Srilankan trong giai đoạn

Từ năm 2002 đến 2009, tác giả đã áp dụng phương pháp thống kê mô tả và phân tích tương quan để nghiên cứu ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến NIM Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng cấu trúc vốn có tác động ngược chiều đến NIM.

Husni Khrawish và cộng sự (2008) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) của 13 ngân hàng thương mại tại Jordan trong giai đoạn 1992 – 2005 Nghiên cứu sử dụng ba phương pháp hồi quy trên dữ liệu bảng, bao gồm hồi quy theo phương pháp bình phương nhỏ nhất (POLS), hồi quy ảnh hưởng cố định (FEM) và hồi quy ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM) Kết quả cho thấy tỷ lệ NIM bị ảnh hưởng tích cực bởi tỷ lệ chi phí hoạt động, tỷ lệ vốn chủ sở hữu, tỷ lệ cho vay và quy mô ngân hàng Tuy nhiên, nghiên cứu không phát hiện tác động có ý nghĩa của thị phần ngân hàng, tăng trưởng kinh tế, lạm phát và tỷ giá hối đoái.

2.3.2 Các nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam Ở Việt Nam, nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các NHTM Việt Nam thì chỉ có một số ít tác giả nghiên cứu thực nghiệm như Hoàng Trung Khánh và Vũ Thị Đan Trà (2015), Nguyễn Minh Sáng và các cộng sự

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Thu và Đỗ Thị Thanh Huyền (2013) đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) Việt Nam Bên cạnh đó, Nguyễn Thị Mỹ Linh và Nguyễn Thị Ngọc Hương (2015) cũng đã đóng góp vào việc tìm hiểu các yếu tố này, làm nổi bật tầm quan trọng của việc phân tích các yếu tố kinh tế trong ngành ngân hàng.

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Mỹ Linh và Nguyễn Thị Ngọc Hương (2015) đã áp dụng mô hình hồi quy pooled regression (Pooled OLS), mô hình Fixed Effects (FE) và Random Effects (RE) để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) của các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) tại Việt Nam Dữ liệu nghiên cứu bao gồm 27 NHTMCP trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2013.

Biến phụ thuộc được nghiên cứu là tỷ lệ thu lãi cận biên (NIM)

Các biến độc lập phản ánh các đặc điểm nội tại của ngân hàng bao gồm quy mô ngân hàng, quy mô hoạt động cho vay, rủi ro tín dụng, quy mô vốn chủ sở hữu, tỷ lệ cho vay trên vốn huy động và hiệu quả quản lý Ngoài ra, các yếu tố kinh tế vĩ mô như tỷ lệ lãi suất và tăng trưởng GDP cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá hiệu suất của ngân hàng.

Nghiên cứu cho thấy rằng quy mô ngân hàng, hoạt động cho vay, rủi ro tín dụng và vốn chủ sở hữu có mối tương quan tích cực với tỷ lệ thu nhập lãi cận biên Ngược lại, hiệu quả quản lý lại có mối tương quan tiêu cực với tỷ lệ này Các yếu tố kinh tế vĩ mô như tốc độ tăng trưởng GDP cũng ảnh hưởng tiêu cực đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên, trong khi lạm phát lại có mối tương quan tích cực với tỷ lệ này của ngân hàng.

THỰC TRẠNG TỶ LỆ THU NHẬP LÃI CẬN BIÊN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

Giới thiệu

Chương 3 sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về ngân hàng thương mại, hệ thống ngân hàng Việt Nam, cũng như phân tích tình hình hoạt động của hệ thống ngân hàng trong giai đoạn 2008.

Vào năm 2016, tác giả đã phân tích tình hình thực trạng tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của ngân hàng, đồng thời trình bày các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ này Qua việc xem xét thực trạng, tác giả đã rút ra những yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2016.

Tổng quan về ngân hàng thương mại và hệ thống ngân hàng Việt Nam

Hệ thống tổ chức tín dụng Việt Nam bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô, quỹ tín dụng nhân dân và văn phòng đại diện Đến tháng 12/2016, Việt Nam có tổng cộng 04 ngân hàng thương mại nhà nước, 02 ngân hàng chính sách, 01 ngân hàng hợp tác xã, 31 ngân hàng thương mại cổ phần, 02 ngân hàng liên doanh, 08 ngân hàng 100% vốn nước ngoài, 51 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 51 văn phòng đại diện ngân hàng nước ngoài, 16 công ty tài chính, 11 công ty cho thuê tài chính và 03 tổ chức tài chính vi mô Tổng tài sản của khối ngân hàng thương mại nhà nước đạt 4.145.993 tỷ đồng, chiếm 45,47% tổng tài sản hệ thống, trong khi khối ngân hàng thương mại cổ phần có tổng tài sản 3.671.490 tỷ đồng, chiếm 40,27% NHTM (bao gồm NHTMNN và NHTMCP) đóng vai trò chủ chốt trong hệ thống tổ chức tín dụng Việt Nam, với cấu trúc và quy mô tài sản được thể hiện qua sơ đồ và biểu đồ tương ứng.

51 VP đại diện nước ngoài

11 Công ty tài chính cho thuê

03 Tổ chức tài chính vi mô

Sơ đồ 3.1: Hệ thống các TCTD Việt Nam tại tháng 12/2016

(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, website http://www.sbv.gov.vn)

Biểu đồ 3.1: Cơ cấu tài sản của hệ thống tổ chức Ngân hàng Việt Nam tại tháng 06/2016

(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, website http://www.sbv.gov.vn)

Ngân hàng Chính sách xã hội

NH Liên doanh, nước ngoài

Công ty tài chính, cho thuê

Ngân hàng Hợp tác xã

Quỹ tín dụng nhân dân

Tổng tài sản Tỷ trọng

Hệ thống ngân hàng Việt Nam bắt đầu hình thành từ ngày 06/05/1951 với sự ra đời của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) Tuy nhiên, các ngân hàng thương mại (NHTM) chỉ xuất hiện chính thức từ tháng 5/1990, khi NHNN ban hành hai sắc lệnh quan trọng, chuyển đổi từ hệ thống ngân hàng một cấp sang hai cấp Sự kiện này đánh dấu cột mốc quan trọng trong việc hình thành NHTM tại Việt Nam, giúp hệ thống ngân hàng nước ta tổ chức theo mô hình của các quốc gia có nền kinh tế thị trường.

Kể từ khi cải cách hệ thống ngân hàng năm 1990, ngành ngân hàng Việt Nam đã trải qua sự tăng trưởng nhanh chóng về số lượng và quy mô, với hai giai đoạn phát triển chính: thập kỷ 1990 tập trung vào các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) và đầu những năm 2000 là sự tham gia của ngân hàng nước ngoài Từ năm 1991-1993, số lượng NHTM đã tăng từ 4 lên 41 và đạt đỉnh 51 vào năm 1997, nhưng đã giảm xuống còn 31 ngân hàng vào năm 2016 do hiệu quả kinh doanh kém và quá trình tái cơ cấu dẫn đến giải thể, sáp nhập và bán lại các ngân hàng nhỏ yếu kém Đồng thời, từ năm 1993, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài cũng bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam, với số lượng tăng nhanh trong hai năm tiếp theo.

Tính đến năm 2016, Việt Nam đã có 51 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tăng từ 24 chi nhánh trước đó Theo cam kết gia nhập WTO năm 2006, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã cấp phép cho 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài hoạt động tại nước này Bảng 3.1 cung cấp cái nhìn chi tiết về cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam qua các năm.

Tổng số NH 9 56 74 84 83 74 73 78 85 94 92 100 99 97 100 94 93 96 Bảng 3.1: Cơ cấu hệ thống NHTM ở Việt Nam giai đoạn 1991-2016

(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam – Website http://www.sbv.gov.vn)

Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam không chỉ tăng trưởng về số lượng mà còn mở rộng quy mô hoạt động mạnh mẽ, đặc biệt trong hai lĩnh vực cho vay và huy động vốn Theo báo cáo của Công ty Chứng khoán Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng, hoạt động tín dụng và huy động tiền gửi đã ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng, với tỷ lệ lần lượt đạt 31,55% và 28,91% trong giai đoạn 2000-2010 Nhu cầu vay vốn chủ yếu đến từ đầu tư chứng khoán và bất động sản, nhưng sự tăng trưởng tín dụng quá nhanh đã đặt ngành ngân hàng vào tình thế rủi ro, đặc biệt là rủi ro thanh khoản khi tỷ lệ tín dụng/tiền gửi luôn duy trì trên 90% Tuy nhiên, từ năm 2010, tốc độ tăng trưởng tín dụng bắt đầu chững lại và giảm mạnh, chỉ đạt 18,71% vào năm 2016 so với cuối năm 2015.

Trong giai đoạn 2007-2010, quy mô tài sản của các ngân hàng thương mại đã tăng gấp đôi, từ 1.097 nghìn tỷ đồng lên 2.690 nghìn tỷ đồng theo số liệu của IMF Từ năm 2010 đến năm 2016, dưới áp lực tăng vốn ngắn hạn, quy mô tài sản tiếp tục đạt 8.113 nghìn tỷ đồng theo thông tin từ NHNNVN.

Các hoạt động dịch vụ của ngân hàng đang phát triển mạnh mẽ bên cạnh tín dụng và huy động vốn, với thu nhập từ mảng phi tín dụng tăng cao nhờ đầu tư vào công nghệ và đa dạng hóa sản phẩm Những ngân hàng hàng đầu như Vietcombank, ACB, Samcombank, và Techcombank đã thực hiện chiến lược phát triển dịch vụ hiệu quả Tuy nhiên, tiềm năng phát triển sản phẩm ngân hàng bán lẻ vẫn chưa được khai thác đầy đủ; theo IMF, năm 2008 chỉ có hơn 8 triệu tài khoản ngân hàng, chiếm 9,4% dân số, trong khi đến cuối tháng 10/2016, con số này đã tăng lên trên 67,4 triệu tài khoản, chiếm 73,4% dân số Điều này cho thấy sự mở rộng không ngừng của dịch vụ ngân hàng và sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt giữa các ngân hàng.

Mặc dù hệ thống ngân hàng thương mại đã có sự tăng trưởng ấn tượng, nhưng ngành ngân hàng vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức do tình hình kinh tế chung Nhiều ngân hàng thương mại hoạt động không hiệu quả, dẫn đến thua lỗ và mất vốn Một sự kiện quan trọng trong ngành ngân hàng Việt Nam là sự hợp nhất ba ngân hàng: NHTMCP Đệ Nhất (Ficombank), NHTMCP Sài Gòn (SCB) và NHTMCP Việt Nam Tín Nghĩa (TinNghiBank) thành NHTMCP Sài Gòn vào cuối năm 2011 Tiếp theo, vào tháng 08/2012, NHTMCP Nhà

Hà Nội (Habubank) đã sáp nhập vào NHTMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) do tỷ lệ nợ xấu cao và thua lỗ lớn Vào tháng 05/2013, NHTMCP Đại Tín được tái cơ cấu và đổi tên thành NHTMCP Xây dựng Việt Nam Tháng 09/2013, PVFC và NHTMCP Phương Tây hợp nhất thành NHTMCP Đại Chúng Việt Nam (Pvcombank) NHTMCP Phát triển T.P Hồ Chí Minh (HDBank) đã sáp nhập NHTMCP Đại Á (DaiABank) và mua lại SGVF vào tháng 11/2013 Đến năm 2015, làn sóng sáp nhập ngân hàng gia tăng, với MHB hoàn thành sáp nhập vào BIDV vào tháng 05/2015, và Maritime Bank sáp nhập với MDB vào tháng 08/2015 Tháng 10/2015, NHTMCP Phương Nam sáp nhập vào Sacombank do nợ xấu cao Năm 2016, không có thương vụ sáp nhập nào diễn ra, đánh dấu thời kỳ tạm lắng và phát triển của các ngân hàng.

Thực trạng nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong thời gian qua là một vấn đề lớn Để giải quyết tình trạng này, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã thành lập Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) vào ngày 26/07/2013 nhằm mua nợ xấu và thúc đẩy tăng trưởng tín dụng Mặc dù tỷ lệ nợ xấu đã giảm từ 2,9% năm 2015 xuống 2,8% năm 2016, quy mô nợ xấu vẫn không thay đổi nhiều Tuy nhiên, nếu tính cả nợ xấu đã chuyển cho VAMC nhưng chưa được xử lý, tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống vẫn ở mức cao, ước tính khoảng 7,1% vào cuối năm 2016.

Vào năm 2015, mặc dù lợi nhuận của các ngân hàng thương mại đạt mức cao và ấn tượng so với các năm trước, nhưng việc trích lập dự phòng rủi ro cho nợ xấu vẫn là một vấn đề quan trọng.

Năm 2015, lợi nhuận của các ngân hàng giảm mạnh do nhiều yếu tố Mặc dù có một số điểm sáng trong hoạt động kinh doanh của ngành ngân hàng vào năm 2016, nhưng sự tăng trưởng lợi nhuận vẫn không đáng kể.

Thực trạng tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các NHTM Việt Nam giai đoạn

Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) của các ngân hàng thương mại (NHTM) đã trải qua nhiều biến động trong giai đoạn 2008 – 2016, đạt mức đáy 2,47% vào năm 2009 và đỉnh cao 3,51% vào năm 2011 Trong giai đoạn 2009 - 2011, NIM tăng mạnh, lần lượt 0,29% và 0,75% so với các năm trước đó Tuy nhiên, từ năm 2012 đến 2016, NIM có xu hướng giảm dần, từ 3,42% năm 2012 xuống còn 2,64% vào năm 2016, giảm nhẹ 0,09% so với 2,73% vào cuối năm 2015.

Biểu đồ 3.2: NIM tại các NHTM Việt Nam niêm yết giai đoạn 2008 - 2016

(Nguồn: Theo tính toán của tác giả trên cơ sở số liệu của Báo cáo thường niên của

Việt Nam Thái Lan Indonesia Malaysia Philippines Lào

So với các nước ASEAN có cùng thứ hạng, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) của ngành ngân hàng Việt Nam ở mức thấp, chỉ đạt 2,61% cho các ngân hàng thương mại và 2,93% cho toàn ngành vào năm 2016, thấp hơn Indonesia, Philippines và Thái Lan Tuy nhiên, NIM của các ngân hàng thương mại Việt Nam và toàn ngành đã duy trì sự ổn định và có xu hướng cải thiện nhẹ trong giai đoạn 2013 – 2016.

Biểu đồ 3.3: NIM của ngành ngân hàng Việt Nam và một số nước trong khu vực ASEAN giai đoạn 2008-2015

(Nguồn: World Bank – Ngân hàng thế giới, Website: https://data.worldbank.org)

Việt Nam Trung Quốc Singapore Nhật Hàn Quốc Đài Loan

NIM của ngân hàng Việt Nam cao hơn so với các nước phát triển trong khu vực Châu Á, ngoại trừ hai năm 2010 và 2014 Cụ thể, năm 2010, NIM của ngân hàng Việt Nam chỉ đạt 3,36%, thấp hơn Hàn Quốc với 4,98% Đến năm 2014, NIM của Việt Nam tiếp tục thấp hơn Trung Quốc 0,79%, với mức 2,86%.

Biểu đồ 3.4: NIM của ngành ngân hàng Việt Nam và một số nước phát triển trong khu vực Châu Á giai đoạn 2008-2015

(Nguồn: World Bank – Ngân hàng thế giới, Website: https://data.worldbank.org)

Sau năm 2008, nền kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, dẫn đến nhiều khó khăn cho hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng này đã trải qua nhiều biến động qua từng năm.

Năm 2008, nền kinh tế Việt Nam và toàn cầu đã trải qua nhiều biến đổi liên tục, đặc biệt là trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới.

Năm 2008 đánh dấu một cột mốc quan trọng cho nền kinh tế Việt Nam khi cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ gây ra những tác động tiêu cực trên toàn cầu, ảnh hưởng đến cả các quốc gia phát triển và đang phát triển Các ngân hàng thương mại Việt Nam phải đối mặt với nhiều khó khăn do tình hình kinh tế bất ổn và sự chi phối từ chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ Trong bối cảnh doanh nghiệp thua lỗ và chất lượng tín dụng suy giảm, ngân hàng gặp khó khăn trong việc huy động và sử dụng vốn hiệu quả Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của ngân hàng thương mại Việt Nam năm 2008 đạt 3%, được S&P đánh giá là tương đối tốt trong bối cảnh kinh tế khó khăn này.

Năm 2009, ngành ngân gặp rất nhiều khó khăn do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế

Năm 2009, tình hình thanh khoản của các ngân hàng thương mại (NHTM) trở nên căng thẳng, với nguồn vốn dư thừa nhưng hoạt động tín dụng và đầu tư gặp khó khăn Để giải quyết vấn đề này, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã can thiệp bằng cách giảm lãi suất huy động và cho vay, qua đó kích cầu và cải thiện đáng kể tình hình thanh khoản Tuy nhiên, sự can thiệp này cũng dẫn đến việc tỷ lệ lãi biên của các ngân hàng giảm mạnh, từ mức 3,7% trong năm 2008.

2009 chỉ xoay quanh 1% (đối với cho vay sản xuất kinh doanh) Do đó, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên giảm mạnh 0,57% từ mức 3,05% năm 2008 xuống còn 2,47% năm

Năm 2010, nền kinh tế Việt Nam bắt đầu phục hồi sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất lợi và chưa ổn định Nhu cầu vốn tăng cao khiến ngân hàng điều chỉnh lãi suất huy động và cho vay lên mức cao hơn bình thường Tín dụng trong hệ thống ngân hàng tăng 31,19% so với cuối năm 2009, với tín dụng VND tăng 27,14% và tín dụng ngoại tệ tăng mạnh 48,45%, gấp hơn 3,2 lần so với năm 2009.

Theo báo cáo thường niên của NHNN năm 2010, các ngân hàng có nguồn vốn mạnh đã thu lợi từ việc cho vay với lãi suất thấp trên thị trường liên ngân hàng, mua trái phiếu chính phủ và thế chấp trên thị trường mở Nhờ vào chênh lệch lãi suất giữa trái phiếu chính phủ (10-11%) và lãi suất liên ngân hàng (có lúc lên tới 15-20%), các ngân hàng đã đạt được lợi nhuận lớn Đồng thời, để đáp ứng áp lực tăng trưởng vốn điều lệ, các ngân hàng cũng đã tích cực tăng vốn chủ sở hữu với tỷ lệ tăng trưởng lần lượt là 22% và 63% trong năm 2010.

Vào năm 2010, vốn chủ sở hữu của 25 ngân hàng thương mại (NHTM) đã tăng mạnh so với năm 2008, giúp nâng cao khả năng tài chính và thúc đẩy hoạt động tín dụng cũng như thu nhập lãi biên Kết quả là tỷ lệ thu nhập lãi cận biên đạt 2,76%, tăng 0,29% so với cuối năm 2009.

Năm 2011, hệ thống ngân hàng thương mại đã đối mặt với nhiều thách thức, nhưng chỉ số sinh lời NIM lại ghi nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ, đạt 3,51%, tăng 0,75% so với năm trước.

Tính đến năm 2010, tỷ lệ thu nhận lãi cận biên (NIM) của ngân hàng Việt Nam chỉ đứng sau Indonesia trong khu vực, cao hơn so với các nước phát triển khác Nguyên nhân chủ yếu là do lãi suất huy động bị giới hạn ở mức trần 14% theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, trong khi lãi suất cho vay vẫn duy trì ở mức cao trong năm 2011 Điều này cho thấy các ngân hàng thương mại gặp khó khăn trong việc giải thích trách nhiệm của mình đối với nền kinh tế, đặc biệt là khi xem xét mối quan hệ giữa chênh lệch lãi suất cho vay và tiền gửi với những khó khăn mà các doanh nghiệp đang phải đối mặt.

Giai đoạn 2012 – 2016, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên liên tục giảm, từ 3,42% năm 2012 xuống 2,62% năm 2014 và chỉ còn 2,64% vào cuối năm 2014 Nguyên nhân chủ yếu là do nền kinh tế suy thoái, dẫn đến tăng trưởng tín dụng thấp, sự phá sản của nhiều công ty và mức tiêu dùng giảm do lo ngại về thu nhập cá nhân không ổn định Ngành ngân hàng đối mặt với khó khăn lớn khi tỷ lệ nợ xấu vượt 4% vào cuối năm 2013, với hơn 60% doanh nghiệp báo cáo thu nhập ròng âm theo báo cáo của Vietinbank năm 2013.

Thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các

3.4.1 Tình hình vốn chủ sở hữu

Quy mô vốn chủ sở hữu không trực tiếp ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên, nhưng lại tác động qua áp lực tăng trưởng tín dụng Việc tăng vốn giúp ngân hàng nâng cao năng lực tài chính, đảm bảo các hệ số an toàn vốn và duy trì sự ổn định trong giai đoạn tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ Từ năm 2008 đến 2011, quy định của NHNN về vốn điều lệ tối thiểu đã tạo ra áp lực lớn cho các ngân hàng thương mại Cụ thể, mức vốn điều lệ tối thiểu cho các NHTMCP đã được quy định là 1.000 tỷ đồng vào cuối năm 2008 và 3.000 tỷ đồng vào năm 2010.

Năm 2009, có 29 ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) có vốn điều lệ dưới 3.000 tỷ đồng, trong đó 20 ngân hàng có vốn dưới 2.000 tỷ đồng, và 11 ngân hàng nhỏ có vốn chỉ 1.000 tỷ đồng Đến năm 2010, tốc độ tăng trưởng vốn chủ sở hữu của các ngân hàng nhỏ đạt trung bình 33,74%, nhanh hơn so với các ngân hàng lớn NHNN đã thông báo giãn thời gian tăng vốn điều lệ lên 3.000 tỷ đồng đến ngày 31/12/2011, tạo áp lực cho năm 2011 với tốc độ tăng trưởng duy trì ở mức 22,06% Sự tăng trưởng nhanh chóng về vốn đã gây áp lực lên tỷ lệ trả cổ tức cho các cổ đông.

Vốn chủ sở hữu bình quân

Trong những năm qua, các ngân hàng đã nỗ lực tăng trưởng tín dụng và tìm kiếm thu nhập để bù đắp chi phí sử dụng vốn, góp phần duy trì tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) ở mức cao Cụ thể, NIM của các ngân hàng thương mại (NHTM) đạt đỉnh 3,51% vào năm 2011, với tốc độ tăng trưởng ấn tượng, đạt 21,96% đến 33,74% trong các năm tiếp theo.

Tốc độ tăng trưởng vốn chủ sở hữu của các NHTM sụt giảm mạnh trong giai đoạn

2012 – 2016, chỉ còn mức 15,16% năm 2013, 2,47% năm 2014 và 6,88% năm 2016

Sự sụp giảm mạnh của tăng vốn chủ sở hữu đã ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập lãi do giảm sức ép tăng trưởng tín dụng Đến năm 2015, nhiều ngân hàng đã công bố kế hoạch tăng vốn điều lệ nhằm nâng cao quy mô và chất lượng tài sản sinh lợi, đồng thời cải thiện năng lực cạnh tranh Tốc độ tăng vốn chủ sở hữu trong năm 2015 ghi nhận mức tăng nhẹ 11,50%.

Bảng 3.2: Tổng vốn chủ sở hữu bình quân tại các NHTM Việt Nam giai đoạn

(Nguồn: Theo tính toán của tác giả trên cơ sở số liệu của Báo cáo thường niên của

Rủi ro tín dụng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng thương mại (NHTM), xảy ra khi khách hàng không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết Tỷ lệ nợ xấu và tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng là hai chỉ số phản ánh mức độ rủi ro này, trong đó việc trích lập dự phòng rủi ro tín dụng đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý rủi ro của ngân hàng.

Dự phòng rủi ro cho vay khách hàng bình quân

Trong những năm gần đây, khi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thực hiện tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM), yêu cầu xác định nợ xấu đã được đặt ra, dẫn đến việc trích lập dự phòng đúng quy định Tốc độ tăng trưởng của các khoản tiền trích lập đã có sự biến động, với mức cao nhất đạt 30,18% và thấp nhất là 8,95% Việc trích lập dự phòng này diễn ra nghiêm túc hơn, tuy nhiên, đã làm giảm mạnh lợi nhuận của các NHTM và gây ra ràng buộc trong việc chia cổ tức.

Bảng 3.3: Trích lập dự phòng rủi ro cho vay khách hàng bình quân tại các NHTM Việt Nam giai đoạn 2008 – 2016

(Nguồn: Theo tính toán của tác giả trên cơ sở số liệu của Báo cáo thường niên của

Giai đoạn 2008 – 2016, các ngân hàng thương mại đã tăng cường trích lập dự phòng rủi ro cho vay khách hàng do tỷ lệ nợ xấu gia tăng Cụ thể, năm 2009, trích lập dự phòng tăng 22,55% so với năm 2008, và năm 2010, con số này tiếp tục tăng 30,18% so với cuối năm 2009.

Năm 2009, dự phòng rủi ro tăng cao do tác động của chính sách thắt chặt tiền tệ và sự sụt giảm mạnh của thị trường bất động sản và chứng khoán Từ năm 2011 đến 2016, tốc độ tăng trưởng dự phòng rủi ro cho vay khách hàng giảm xuống còn 13,54% mỗi năm.

Vào năm 2013, tổ chức VAMC được thành lập nhằm mua lại nợ xấu từ các tổ chức tín dụng, giúp cải thiện chất lượng tín dụng Tốc độ tăng trưởng dự phòng rủi ro cho vay khách hàng giảm mạnh, chỉ đạt 8,93% năm 2013 và 9,48% năm 2014 Tuy nhiên, đến năm 2016, dự phòng rủi ro cho vay khách hàng tăng trở lại với mức tăng trưởng 21,32%, tăng 6,97% so với cuối năm 2015, do nợ xấu mới phát sinh trong bối cảnh kinh tế vĩ mô chưa có nhiều cải thiện.

Tỷ lệ cho vay bình quân so với tiền gửi bình quân đang gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Đồng thời, một số chính sách đã được ban hành nhằm thúc đẩy hoạt động mua bán nợ cho VAMC trong năm nay.

2015, 2016 nhưng hiệu quả ở mức khiêm tốn

Tính thanh khoản của ngân hàng được thể hiện qua tổng tài sản có tính thanh khoản cao và tỷ lệ cho vay trên huy động Ngân hàng thương mại thường phải đối mặt với rủi ro thanh khoản, đặc biệt trong thời kỳ tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ Rủi ro này xảy ra khi ngân hàng không đáp ứng được nhu cầu của người gửi tiền và người đi vay, dẫn đến việc không thể thực hiện các cam kết thanh toán với chi phí hợp lý Hệ quả là tỷ lệ thu nhập lãi cận biên bị ảnh hưởng do ngân hàng phải tăng chênh lệch lãi suất cho vay và huy động để bù đắp chi phí phát sinh trong quá trình tìm kiếm nguồn vốn.

Biểu đồ 3.5: Tỷ lệ cho vay trên huy động của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2008-2016

(Nguồn: Theo tính toán của tác giả trên cơ sở số liệu của Báo cáo thường niên của

Giai đoạn 2009 – 2012, các ngân hàng thương mại phải đối mặt với tình trạng thanh khoản căng thẳng do tác động của khủng hoảng kinh tế và sự đóng băng của thị trường bất động sản.

Tỷ lệ cho vay trên tiền gửi hiện duy trì ở mức trung bình trên 93%, cao hơn mức quy định 80% theo thông tư 13, chủ yếu do tăng trưởng tín dụng nóng Năm 2011, khủng hoảng thanh khoản xảy ra với tỷ lệ cho vay trên tiền gửi đạt 96,80%, mức cao nhất trong giai đoạn này, do tiền gửi giảm và tăng trưởng tín dụng bất hợp lý trước đó Các ngân hàng thương mại (NHTM) gặp khó khăn trong việc xử lý thanh khoản do đã cấp nhiều khoản tín dụng bất động sản trước đây Tuy nhiên, khủng hoảng chủ yếu ảnh hưởng đến các NHTM nhỏ, trong khi NHTM lớn lại hưởng lợi từ lãi suất liên ngân hàng cao, góp phần duy trì NIM ở mức cao 3,51%, cao nhất giai đoạn 2008 – 2016.

Giai đoạn 2013 – 2016, thanh khoản đã ổn định với tỷ lệ cho vay trên tiền gửi duy trì từ 80% đến 86%, đảm bảo nằm trong khung tỷ lệ an toàn thanh khoản.

Chi phí hoạt động của ngân hàng bao gồm các khoản chi phát sinh trong quá trình kinh doanh Trong năm 2009, chi phí này có xu hướng giảm, nhưng lại tăng mạnh trong giai đoạn 2010-2011 và sau đó giảm mạnh trong giai đoạn 2012.

2015 và sau đó tăng mạnh vào cuối năm 2016

NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỶ LỆ

MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC

Ngày đăng: 28/06/2021, 09:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Trung Khánh và Vũ Thị Đan Trà (2015). Những nhân tố ảnh hưởng đến hệ số thu nhập lãi thuần (NIM) của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam Khác
3. Nguyễn Thị Mỹ Linh và Nguyễn Thị Ngọc Hương (2015). Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên của các NHTM Việt Nam. Tạp chí Tài chính – Tiền tệ, nghiên cứu kinh tế số 450 Khác
4. Nguyễn Minh Sáng và các cộng sự, 2014. Tạp chí Công nghệ Ngân hàng Khác
5. Nguyễn Thị Kim Thu và Đỗ Thị Thanh Huyền (2013). Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Kinh tế và Kinh doanh, Tập 30, Số 4 (2014) 55-65 Khác
6. Nguyễn Đăng Dờn, 2010. Quản trị Ngân hàng Thương mại hiện đại. Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Khác
7. Trương Quang Thông, 2012. Quản trị Ngân hàng Thương mại. Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.TÀI LIỆU TIẾNG ANH Khác
1. Husni Khrawish & cộng sự (2008). Determinants of Commercial Bank Interest Rate Margins: Evidence from Jordan. Jordan Journal of Business Administration, Volume 4, No. 4 Khác
2. Ong Tze San & The Boon Heng (2013). Factors affecting the profitability of Malaysian commercial banks. African Journal of Business Management Vol. 7(8), pp. 649-660 Khác
3. Raja Almarzoqi và Sami Ben Naceur (IMF, 2015). Determinants of Bank Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm