1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thu hoạch diễn án hành chính hồ sơ 12 bà Nguyễn Thị Tuyết bị xử phạt Bảo vệ người bị kiện

11 188 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 51,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bà Nguyễn Thị Tuyết là chủ hộ kinh doanh dịch vụ nhà trọ bình dân Hoàng Lan tại 241 đường Lê Lai thành phố P, tỉnh G.L, được Uỷ ban nhân dân thành phố P cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 39A 8005684 ngày 19112012.Vào khoảng 21 giờ 10 phút ngày 23122013, Đoàn kiểm tra của Thanh tra Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L đến kiểm tra nhà trọ Hoàng Lan. Sau khi kiểm tra, Đoàn kiểm tra đã lập Biên bản vi phạm hành chính số 11BBVPHC, với nội dung: Tại thời điểm kiểm tra nhà trọ Hoàng Lan, phòng 11 có ông Nguyễn Văn Thường và bà Nguyễn Thị Lành không có giấy kết hôn đang quan hệ vợ chồng (quan hệ tình dục), phòng số 09 có ông Phan Văn và bà Nguyễn Thị Thuỳ không có giấy kết hôn đang ở chung phòng xem ti vi. Vào thời điểm kiểm tra phòng số 11, chủ cơ sở kinh doanh phòng trọ Hoàng Lan không vào sổ bà Nguyễn Thị Lợi. Kết luận: chủ sơ cở kinh doanh nhà trọ Hoàng Lan thiếu tinh thần trách nhiệm để xảy ra hành vi vi phạm như trên.Căn cứ biên bản vi phạm trên, Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L đã ban hành Quyết định số 23QĐXPHC ngày 1032014 phạt bà Nguyễn Thị Tuyết số tiền 15.000.000đ với lý do đã có hành vi vi phạm hành chính “thiếu tinh thần trách nhiệm, tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm” (áp dụng khoản 1 Điều 25 Nghị định 1672013NĐCP).Ngày 2432014, bà Tuyết có đơn khiếu nại quyết định xử phạt vi phạm hành chính nêu trên.Ngày 2042014, Chánh thanh tra Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L ban hành Quyết định số 01QĐTTr giải quyết đơn khiếu nại của bà Tuyết, với nội dung giữ nguyên Quyết định số 23QĐXPHC ngày 1032014.Ngày 0252014, bà Tuyết có đơn khởi kiện đến TAND tỉnh G.L yêu cầu huỷ Quyết định số 23QĐXPHC ngày 1032014 của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L vì (i) Quyết định số 23 được ban hành khi đã hết thời hạn ban hành quyết định xử phạt theo khoản 1 Điều 66 Luật xử lý vi phạm hành chính, và (ii) bà Tuyết không có hành vi bị xử phạt trong QĐ số 23.Ngày 13052014, TAND tỉnh G.L đã thụ lý vụ án hành chính theo Thông báo số 032014TBTHC.Quá trình giải quyết vụ án, người bị kiện không đồng ý với yêu cầu của người khởi kiện và cho rằng Quyết định số 23 ngày 1032014 được ban hành hợp pháp bởi vì: (i) thời hạn ban hành Quyết định xử phạt đối với bà Tuyết đã được gia hạn theo Tờ trình 02 ngày 2412014, gia hạn đến 1132014 nên vẫn bảo đảm thời hạn quy định tại Điều 66 Luật xử lý vi phạm hành chính, (ii) có hành vi vi phạm trong QĐ 23 bởi vì bà Tuyết không cung cấp được giấy chứng nhận kết hôn của những người thuê phòng số 9, phòng số 11 và bà Tuyết đã thừa nhận vi phạm của mình.

Trang 1

HỌC VIỆN TƯ PHÁP

KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN

Hồ sơ số : LS.HC12

Diễn lần : …

Ngày diễn : …

Vai diễn : …

Họ và tên : … Sinh ngày : … MSHV : …

…, ngày … tháng … năm …

Trang 2

I TÓM TẮT VỤ VIỆC

1 Đương sự

 Người khởi kiện : bà Nguyễn Thị Tuyết, sinh năm 1982, cư trú tại Tổ 9, phường Đông Lân, TP P, tỉnh G.L

Căn cứ theo khoản 8 Điều 3 Luật tố tụng hành chính năm 2015

 Người bị kiện : Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L

Căn cứ theo khoản 9 Điều 3 Luật tố tụng hành chính năm 2015

2 Đối tượng khởi kiện

Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2014 của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L

Đây là Quyết định hành chính bị kiện theo khoản 1, khoản 2 Điều 3 Luật tố tụng hành chính năm 2015

3 Nội dung vụ việc

Bà Nguyễn Thị Tuyết là chủ hộ kinh doanh dịch vụ nhà trọ bình dân Hoàng Lan tại 241 đường Lê Lai thành phố P, tỉnh G.L, được Uỷ ban nhân dân thành phố P cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 39A 8005684 ngày 19/11/2012

Vào khoảng 21 giờ 10 phút ngày 23/12/2013, Đoàn kiểm tra của Thanh tra Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L đến kiểm tra nhà trọ Hoàng Lan Sau khi kiểm tra, Đoàn kiểm tra đã lập Biên bản vi phạm hành chính số 11/BB-VPHC, với nội dung: Tại thời điểm kiểm tra nhà trọ Hoàng Lan, phòng 11 có ông Nguyễn Văn Thường và bà Nguyễn Thị Lành không có giấy kết hôn đang quan hệ vợ chồng (quan

hệ tình dục), phòng số 09 có ông Phan Văn và bà Nguyễn Thị Thuỳ không có giấy kết hôn đang ở chung phòng xem ti vi Vào thời điểm kiểm tra phòng số 11, chủ cơ

sở kinh doanh phòng trọ Hoàng Lan không vào sổ bà Nguyễn Thị Lợi Kết luận: chủ

sơ cở kinh doanh nhà trọ Hoàng Lan thiếu tinh thần trách nhiệm để xảy ra hành vi vi phạm như trên

Căn cứ biên bản vi phạm trên, Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L đã ban hành Quyết định số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2014 phạt bà Nguyễn Thị Tuyết số tiền 15.000.000đ với lý do đã có hành vi vi phạm hành chính

“thiếu tinh thần trách nhiệm, tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh

có điều kiện về an ninh, trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm” (áp dụng khoản 1 Điều 25 Nghị định 167/2013/NĐ-CP)

Ngày 24/3/2014, bà Tuyết có đơn khiếu nại quyết định xử phạt vi phạm hành chính nêu trên

Trang 3

Ngày 20/4/2014, Chánh thanh tra Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L ban hành Quyết định số 01/QĐ-TTr giải quyết đơn khiếu nại của bà Tuyết, với nội dung giữ nguyên Quyết định số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2014

Ngày 02/5/2014, bà Tuyết có đơn khởi kiện đến TAND tỉnh G.L yêu cầu huỷ Quyết định số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2014 của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L vì (i) Quyết định số 23 được ban hành khi đã hết thời hạn ban hành quyết định xử phạt theo khoản 1 Điều 66 Luật xử lý vi phạm hành chính, và (ii) bà Tuyết không có hành vi bị xử phạt trong QĐ số 23

Ngày 13/05/2014, TAND tỉnh G.L đã thụ lý vụ án hành chính theo Thông báo

số 03/2014/TB-THC

Quá trình giải quyết vụ án, người bị kiện không đồng ý với yêu cầu của người khởi kiện và cho rằng Quyết định số 23 ngày 10/3/2014 được ban hành hợp pháp bởi vì: (i) thời hạn ban hành Quyết định xử phạt đối với bà Tuyết đã được gia hạn theo

Tờ trình 02 ngày 24/1/2014, gia hạn đến 11/3/2014 nên vẫn bảo đảm thời hạn quy định tại Điều 66 Luật xử lý vi phạm hành chính, (ii) có hành vi vi phạm trong QĐ 23 bởi vì bà Tuyết không cung cấp được giấy chứng nhận kết hôn của những người thuê phòng số 9, phòng số 11 và bà Tuyết đã thừa nhận vi phạm của mình

II DỰ KIẾN KẾ HOẠCH HỎI BẢO VỆ NGƯỜI KHỞI KIỆN

2.1 Câu hỏi chuẩn bị hỏi người bị kiện

Hỏi ai Vấn đề chứng

Người bị

kiện

Trình tự, thủ tục xử phạt

(1) Vì sao Đoàn kiểm tra tiến hành kiểm tra

cơ sở của bà Tuyết?

(2) Trường hợp vi phạm của bà Tuyết có lập biên bản vi phạm hành chính không?

(3) Hành vi vi phạm ghi nhận trong Biên bản

vi phạm hành chính ngày 23/12/2013 tại

cơ sở Hoàng Lan là gì?

(4) Bà Tuyết có đồng ý ký vào biên bản không?

(5) Nội dung bà Tuyết trình bày trong quá trình xác minh vi phạm là gì?

(6) Kết quả xác minh vi phạm như thế nào?

Thẩm quyền xử phạt

(7) Chánh Thanh tra sở có thẩm quyền xử phạt đối với hành vi của bà Tuyết không?

Thời hạn ra QĐ xử phạt

(8) Thời hạn xử phạt đối với hành vi của bà Tuyết có được gia hạn không?

(9) Văn bản gia hạn nào? Tại sao phải gia hạn?

Trang 4

Hỏi ai Vấn đề chứng

Đính chính QĐ 23

(10) Nội dung công văn đính chính Quyết định

số 23 là gì?

(11) Thanh tra Sở có gửi công văn và quyết định sửa đổi cho bà Tuyết không? Thời điểm gửi?

Hành vi vi phạm và mức phạt

(12) Thanh tra sở có xem xét trên nội dung giải trình của bà Tuyết không?

(13) Mức phạt đối với hành vi của bà Tuyết có phải mức phạt đầu khung không?

Người

khởi kiện

Trình tự, thủ tục xử phạt

(1) Tại thời điểm Đoàn kiểm tra tiến hành kiểm tra ngày 23/12/2013, cơ sở Hoàng Lan có những vi phạm gì?

(2) Bà đã được giao 01 bản Biên bản vi phạm hành chính lập ngày 23/12/2013 đúng không?

(3) Bà có đồng ý với nội dung Biên bản vi phạm hành chính ngày 23/12/2013 không?

(4) Sau khi bị lập biên bản vi phạm hành chính, bà có giải trình không? Nội dung giải trình?

(5) Thanh tra Sở mời bà làm việc để xác minh

vi phạm bao nhiêu lần?

Thời hạn xử phạt

(6) Ngày 12/02/2014, khi đến làm việc tại Sở văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh G.L bà

có xin thêm thời gian để bổ sung các giấy

tờ cần thiết đúng không?

Hành vi vi phạm (7) Bà có cung cấp được chứng cứ chứng

minh mình không vi phạm không?

(8) Tại biên bản làm việc ngày 9/3/2014 với Thanh tra Sở, bà đã thừa nhận hành vi của mình là “thiếu trách nhiệm, tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh

có điều kiện về an ninh, trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm” và xin phạt mức đầu khung đúng không?

(9) Hành vi bà thừa nhận trong biên bản làm việc ngày 9/3/2014 có giống với hành vi

bị xử phạt tại Quyết định số 23 không? (10) Tại các đơn khiếu nại, biên bản đối thoại

Trang 5

Hỏi ai Vấn đề chứng

với Thanh tra Sở, bà có nêu rằng mục đích khiếu nại là để xem xét và giải quyết hợp lý mức phạt đúng không?

Đính chính QĐ 23

(11) Bà nhận được Công văn số 02/2014/CV-TTr ngày 18/3/2014 về việc đính chính

QĐ xử phạt số 23 và Quyết định đã sửa đổi vào ngày nào?

III DỰ THẢO BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ NGƯỜI BỊ KIỆN

Kính thưa Hội đồng xét xử, thưa đại diện Viện Kiểm sát và tất cả những người tham gia tố tụng tại phiên tòa hôm nay!

Tôi là Luật sư …, hiện đang công tác tại Công ty Luật … thuộc Đoàn Luật sư

… Tôi tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L - là người bị kiện trong vụ án hành chính về việc khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XP ngày 10/3/2014 của Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L, vụ án được TAND tỉnh G.L thụ lý số 01/2014/TL-HCST ngày 13/05/2014

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án và theo dõi diễn biến phiên tòa, tôi xin trình bày quan điểm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện như sau:

Thứ nhất, Chánh Thanh tra sở văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh G.L ban hành quyết định xử phạt với bà Tuyết đúng thẩm quyền.

Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 46 Luật xử lý vi phạm hành chính

2012, Chánh Thanh tra Sở được phạt tiền đến 50% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật xử lý vi phạm hành chính nhưng không quá 50.000.000 đồng Đồng thời, tại điểm b khoản 1 Điều 24 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội là 40.000.000 đồng Như vậy, Chánh Thanh tra Sở được phạt tiền đến 20.000.000 đồng đối với lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội

Hành vi vi phạm của bà Tuyết được quy định tại khoản 1 Điều 25 Nghị định 167/2013/NĐ-CP có khung hình phạt từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, do đó việc Chánh Thanh tra Sở văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh G.L ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XP ngày 10/3/2014 đối với bà Tuyết là đúng thẩm

quyền.

Thứ hai, việc ban hành Quyết định 23 còn trong thời hạn ban hành quyết định

xử phạt hành chính.

Hành vi vi phạm của cơ sở bà Tuyết theo quy định tại Nghị định

167/2013/NĐ-CP có mức phạt tiền tối đa của khung tiền phạt trên 15.000.000 đồng và bà Tuyết có

Trang 6

văn bản giải trình ngày 29/12/2013 nên vụ việc thuộc trường hợp có thời hạn ra quyết định xử phạt tối đa là 30 ngày kể từ ngày lập biên bản

Bên cạnh đó, ngày 16/01/2014, Thanh tra Sở VHTTDL xét thấy vụ việc vi phạm của bà Tuyết có nhiều tình tiết phức tạp cần có thêm thời gian xác minh, thu thập chứng cứ làm căn cứ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra để khởi tố theo quy định của pháp luật nên đã có Tờ trình số 02/ TT-TTr xin gia hạn thời hạn ra quyết định xử phạt hành chính đối với trường hợp bà Nguyễn Thị Tuyết và được Giám đốc Sở văn hóa thể thao và du lịch phê duyệt trên tờ trình Việc gia hạn này là hoàn toàn phù hợp với khoản 1 Điều 66 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012

Như vậy, vụ việc vi phạm của bà Tuyết có thời hạn để ra quyết định xử phạt là tối đa 60 ngày kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính

Qua các biên bản làm việc giữa Thanh tra Sở văn hóa, thể thao và du lịch với bà Tuyết thể hiện Thanh tra Sở đã rất thiện chí tạo điều kiện để bà Tuyết nộp bổ sung hồ

sơ, giải trình và chứng minh việc cơ sở của bà không vi phạm các quy định pháp luật Ngày 12/02/2014, khi đến làm việc tại Sở văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh G.L

bà Tuyết vẫn xin thêm thời gian để bổ sung các giấy tờ cần thiết Tuy nhiên, đến ngày 09/03/2014 khi Thanh tra Sở tiếp tục mời bà Tuyết đến làm việc thì bà vẫn không bổ sung thêm được bất cứ giấy tờ nào, đồng thời bà Tuyết cũng ký biên bản thừa nhận hành vi vi phạm của cơ sở mình Có thể thấy, trong quá trình xác minh vi phạm hành chính, bà Tuyết đã có hành vi cố ý trì hoãn hoạt động xác minh của Thanh tra Sở Như vậy thời gian bà Tuyết xin thêm là từ ngày 12/02/2014 đến ngày 09/03/2014 (25 ngày) được xem là trở ngại khách quan và không tính vào thời hạn ra quyết định

xử phạt vi phạm hành chính đối với bà Tuyết

Ngoài ra, trong thời gian từ ngày 23/12/2013 đến ngày 10/03/2014 bị gián đoạn bởi những ngày nghỉ Tết dương lịch và Tết âm lịch (06 ngày) Số ngày nghỉ lễ này có thể được coi là trở ngại khách quan khiến cho quá trình xem xét, xác minh vi phạm cũng như ban hành quyết định xử phạt không được thực hiện một cách liên tục nên số ngày này cũng không được tính vào thời hạn ra quyết định xử phạt

Xét thấy, từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính đối với bà Tuyết là ngày 23/12/2013 đến ngày ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là 10/3/2014 tổng cộng là 46 ngày (đã trừ đi ngày bà Tuyết xin thêm 25 ngày và nghỉ tết 06 ngày) Như vậy, Chánh thanh tra Sở VHTTDL đã đảm bảo đúng thời hạn ra Quyết định

xử phạt số 23/QĐ-XP ngày 10/3/2014 đối với bà Tuyết

Thứ ba, trình tự thủ tục xử phạt vi phạm hành chính hoàn toàn đúng pháp luật

Thực hiện Kế hoạch số 05/KH-TTr ngày 06/11/2013 đã được Giám đốc Sở văn hóa, thể thao và du lịch phê duyệt, Thanh tra sở tiến hành đi kiểm tra thực tế các cơ sở

Trang 7

hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa, thể thao và du lịch trên địa bàn tỉnh Ngày 23/12/2013, qua kiểm tra phát hiện cơ sở nhà nghỉ Hoàng Lan có vi phạm pháp luật do đó Đoàn kiểm tra đã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính số 11/BB-VPHC đối với bà Nguyễn Thị Tuyết là chủ cơ sở Hoàng Lan

Về việc biên bản vi phạm hành chính ghi căn cứ hành vi vi phạm là Nghị định số 158/2013/NĐ-CP là do sơ suất của đoàn kiểm tra khi thực hiện việc lập biên bản vi phạm hành chính không nhớ chính xác căn cứ pháp lý, tuy nhiên việc ghi sai tên văn bản như trên không làm thay đổi kết quả xử phạt đối với bà Tuyết

Về việc giải trình, tại các bản tường trình ngày 29/3/2013, ngày 12/2/2014 bà Tuyết đều thừa nhận hành vi của mình

Quá trình xác minh, tại Biên bản làm việc ngày 9/3/2014 thể hiện đến 9/3/2014

bà Tuyết không bổ sung được giấy gì, biên bản kết luận cơ sở kinh doanh có hành vi vi phạm thiếu trách nhiệm thiếu tinh thần trách nhiệm, tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm Các hành vi trên vi phạm khoản 1 Điều 25 NĐ 167/2013/NĐ-CP Bà Tuyết đã ký biên bản, xin nhận khuyết điểm và phạt mức đầu khung

Căn cứ trên Biên bản vi phạm hành chính số 01, kết quả giải trình và xác minh vi phạm, ngày 10/03/2014, Chánh thanh tra Sở văn hóa, thể thao và du lịch ra quyết định

xử phạt vi phạm số 23 đối với bà Tuyết là đúng trình tự thủ tục quy định tại Điều 57, Điều 58, Điều 59, Điều 61, Điều 67 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012

Thứ tư, nội dung Quyết định số 23 là hoàn toàn hợp pháp.

Căn cứ thực tế xử phạt là đúng bởi vì:

Theo Biên bản vi phạm hành chính số 11/BB-VPHC ngày 23/12/2013 thì hành vi

vi phạm của bà Tuyết được xác định: “phòng 11 có ông Thường và bà Lành không có

giấy đăng ký kết hôn đang quan hệ vợ chồng, phòng số 9 có ông Văn và bà Thùy không có giấy ĐKKH đang ở chung phòng xem ti vi Tại thời điểm kiểm tra chủ cơ sở Hoàng Lan không vào sổ bà Lành Kết luận chủ cơ sở Hoàng Lan thiếu tinh thần trách nhiệm để xảy ra hành vi vi phạm như trên”

Tại Biên bản làm việc với đương sự vi phạm hành chính ngày 09/03/2014, bà Tuyết thừa nhận là có hành vi thiếu trách nhiệm, tạo điều kiện cho người khác lợi dụng

cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm

Việc bà Tuyết khiếu nại cũng chỉ nhắc đến mục đích là xem khoản tiền phạt có đúng không (thể hiện tại Biên bản đối thoại số 01/BB-TTr ngày 27/3/2014) Điều đó chứng tỏ bà Tuyết đã chấp nhận đã vi phạm đúng nội dung theo Biên bản vi phạm và Quyết định xử phạt và không hề có bất kỳ khiếu nại gì đến việc xác định hành vi vi phạm

Trang 8

Khoản 1 Điều 25 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình quy định:

“1 Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với người đứng đầu

cơ sở kinh doanh dịch vụ do thiếu tinh thần trách nhiệm để xảy ra hoạt động mua dâm, bán dâm ở cơ sở do mình quản lý”.

Căn cứ vào Biên bản vi phạm hành chính và các bản tường trình, biên bản làm việc thì việc Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2024 phạt bà Tuyết về hành vi thiếu tinh thần trách nhiệm để xảy ra hoạt động mua dâm, bán dâm ở

cơ sở do mình quản lý là đúng

Căn cứ pháp lý áp dụng để xử phạt là đúng pháp luật bởi lẽ:

Tại thời điểm xảy ra vi phạm là ngày 23/12/2013, Nghị định 167/2013/NĐ-CP chưa có hiệu lực pháp luật Tuy nhiên, quá trình xác minh kéo dài đến năm 2014, do

đó tại thời điểm xác minh được hành vi vi phạm thì Nghị định 167/2013/NĐ-CP đã có hiệu lực thi hành Do đó, cần áp dụng Nghị định 167/2013/NĐ-CP để bảo đảm cập nhật kịp thời mức độ xử phạt đối với hành vi vi phạm của bà Tuyết

Từ các lý do trên, Quyết định 23/QĐ-XP ngày 10/3/2014 của Chánh thanh tra sở văn hóa, thể thao và du lịch là hợp pháp

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính, kính mong Hội đồng xét xử bác yêu cầu của người khởi kiện

Tôi xin chân thành cảm ơn

IV PHẦN NHẬN XÉT VIỆC ĐÓNG VAI DIỄN ÁN

1 Nhận xét chung

 Trang phục của các vai diễn đều phù hợp, về tác phong:

- Thẩm phán chủ tọa có tác phong chỉnh chu, đỉnh đạc;

- Thư ký tập trung, nghiêm túc, có ghi chép;

- KSV nghiêm túc, giọng nói dõng dạc;

- Hội thẩm nghiêm túc, tập trung, có ghi chép;

- Người khởi kiện nắm rõ hồ sơ, linh hoạt, trả lời đúng trọng tâm;

- Đại diện người bị kiện nghiêm túc, thể hiện được tính uy nghiêm của người làm nhà nước;

- Các vai luật sư người khởi kiện, người bị kiện giọng nói rõ ràng dễ nghe, các Luật sư đều tập trung và có ghi chép, không bị phụ thuộc quá nhiều vào tài liệu chuẩn bị trước

Trang 9

 Việc tổ chức phiên tòa sơ thẩm được thực hiện đúng quy định tại Chương XI Luật tố tụng hành chính

Đặc biệt là chủ tọa phiên tòa điều khiển phiên tòa rất trơn tru, KSV phát biểu ý kiến hợp lý

 Các Luật sư có sự phân công hỏi và tranh luận theo từng vấn đề, giúp dễ nắm bắt, có đưa ra căn cứ pháp lý và dẫn chiếu bút lục trong hồ sơ

 Nhóm diễn án đã khai thác được nhiều vấn đề trong hồ sơ, hai bên đều có quan điểm hợp lý

 Các vấn đề đưa ra tranh luận đều là các vấn đề mấu chốt cần chứng minh Nội dung bản luận cứ đều phù hợp với hồ sơ, có căn cứ, thuyết phục

Cả 2 bên luật sư soạn thảo bản luận cứ đều đánh giá trên 3 vấn đề: thẩm quyền ban hành QĐ, trình tự thủ tục xử phạt và nội dung QĐ

LS người khởi kiện có chứng minh thêm về vấn đề tố tụng là phù hợp

2 Nhận xét vai diễn cụ thể

 Chủ tọa phiên tòa: Do ………đóng

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

 Kiểm sát viên: Do ………đóng ………

………

………

………

………

Trang 10

………

………

………

………

 Luật sư người khởi kiện 1: Do ………

đóng ………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

 Luật sư người khởi kiện 2: Do ………

đóng ………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

 Luật sư người bị kiện 1: Do ………đóng ………

Ngày đăng: 14/10/2021, 23:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w