Hai phần đầu tiên là những kiến thức tổng quát về cơ thể và sự phát triển của trẻ, tất nhiên là chỉ trình bày ở mức độ giúp người đọc có được những kiến thức cơ bản nhất để có thể hiểu đ
Trang 2biên soạn
BỆNH
TRẺ EM
SƠ CẤP CỨU - CHẨN ĐOÁN
- CHĂM SÓC - ĐIỀU TRỊ
NHÀ XUẤT BẢN VĂN HÓA THÔNG TIN
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
cả chúng ta đều có không ít lần phải tìm đến các
y bác sĩ hay bệnh viện Trong những lần như thế, cho dù bệnh tình của trẻ nặng hay nhẹ, thông thường hay nghiêm trọng, chúng ta cũng không sao tránh khỏi được sự thấp thỏm lo sợ cho đến khi có được kết quả trả lời của bác sĩ điều trị Trong khi chờ đợi, các bậc cha mẹ chúng
ta luôn muốn được biết thật nhiều về bệnh tình của trẻ, nhưng thật không may là hầu hết các bác sĩ thường không có đủ thời gian để trả lời tất cả những câu hỏi của chúng
ta, hoặc thậm chí là để giải thích những gì ta không hiểu Sự thật là họ có quá nhiều bệnh nhân để chăm sóc, điều trị, và chỉ có thể dành cho ta một phần thời gian tiếp xúc rất hạn chế
Hiểu được tâm lý chung của tất cả các bậc cha mẹ, chúng tôi cố gắng biên soạn quyển sách này dựa vào các thông tin y khoa đáng tin cậy đã qua so sánh, đối chiếu và tổng hợp, nhằm đáp ứng nhu cầu tìm hiểu bệnh trẻ
em Tuy chưa phải đã hoàn toàn đầy đủ, nhưng đối với hầu hết các bệnh thông thường của trẻ em, các bậc cha mẹ có thể xem đây như một người bạn dễ tính, có thể tìm đến bất cứ lúc nào để hỏi han về bệnh tình của con cái mình Quyển sách có thể giúp chúng ta yên tâm phần nào khi con trẻ bệnh, nhờ có được sự hiểu biết đúng đắn về căn bệnh mà trẻ đang mắc phải
Hầu hết các nguồn tham khảo đều là Anh ngữ, và đã được lưu hành rộng rãi nhiều nơi trên thế giới thông qua mạng Internet cũng như các tài liệu y khoa công cộng Tuy nhiên, trong quá trình biên soạn, chúng tôi đã cố gắng chọn lọc, sắp xếp và bổ sung cho phù hợp với điều
Trang 4kiện của độc giả Việt Nam Ngoài ra, đối tượng hướng đến của chúng tôi khi biên soạn sách này không phải là các
vị đã được đào tạo chuyên môn về y học, mà là số đông những độc giả thông thường, hay nói chính xác hơn là những bậc cha mẹ tất yếu phải có nhu cầu chăm sóc con cái nhưng lại chưa từng được học hỏi nhiều về bệnh trẻ
em Trên cơ sở đó, có một số vấn đề sẽ không được trình bày từ góc độ chuyên môn, mà được đơn giản hóa phần nào để được dễ hiểu hơn đối với số đông độc giả
Nhưng điều cần phải nói ngay là, quyển sách không nhắm đến việc giúp người sử dụng có thể tự mình chẩn đoán và điều trị tất cả bệnh tật của trẻ em – điều này chẳng những không thể thực hiện được mà đôi khi còn là một ý tưởng rất nguy hiểm Tuy nhiên, với mục đích chính là giúp người đọc tìm hiểu về bệnh trẻ em, sách này sẽ mang lại những thông tin tổng quát và có tính hệ thống, giúp các bậc cha mẹ có thể tìm hiểu được hầu hết các trường hợp bất ổn về sức khỏe của con mình để hướng đến một phương thức điều trị thích hợp Mặc dù trong phần lớn các trường hợp, sự can thiệp đúng lúc của bác sĩ vẫn luôn được nhắc đến, nhưng sự khác biệt lớn lao mà quyển sách này có thể mang lại cho các bậc cha mẹ chính
là sự hiểu biết về những gì đang xảy ra cho con trẻ
Sự hiểu biết sẽ xua tan đi những lo lắng không cần
thiết – điều rất thường gặp ở bất cứ bậc cha mẹ nào, nhất
là với những ai mới có con lần đầu Sự hiểu biết cũng giúp
các bậc cha mẹ thực hiện đúng lúc những gì cần thiết để bảo vệ sức khỏe cho con trẻ Trong rất nhiều trường hợp,
ngay cả hiểu biết được sự giới hạn của mình trong việc
đối phó với một căn bệnh nào đó cũng là một điều hết sức cần thiết, để có thể kịp thời nhờ đến sự can thiệp
chuyên môn Và trong một số trường hợp khác, sự hiểu biết giúp cha mẹ có thể mạnh dạn thực hiện những biện
Trang 5pháp chăm sóc tại nhà để giảm nhẹ tức thì những bất ổn mà trẻ đang gánh chịu.
Sách được chia làm 5 phần Hai phần đầu tiên là những kiến thức tổng quát về cơ thể và sự phát triển của trẻ, tất nhiên là chỉ trình bày ở mức độ giúp người đọc có được những kiến thức cơ bản nhất để có thể hiểu được những
gì sẽ được trình bày trong các phần tiếp theo sau Phần này cũng cung cấp những thông tin quan trọng giúp các bậc cha mẹ có thể biết được sự phát triển của con mình có bình thường hay không
Phần thứ ba trình bày chi tiết hầu hết các bệnh ở trẻ
em, ngay cả một số bệnh ít gặp nhưng nguy hiểm cũng được nêu ra ở đây Những thông tin trong phần này rất
cần thiết cho bất cứ ai muốn quan tâm tìm hiểu bệnh trẻ
em Nhưng cho dù một số các bậc cha mẹ không có nhu
cầu này, thì khi con cái họ mắc phải một căn bệnh nào đó, đây cũng sẽ là nguồn tham khảo quý giá cần tìm đến
Vì thế, trong phần chẩn đoán bệnh sẽ luôn có những chỉ dẫn tham chiếu đến bệnh liên quan trong phần này
Phần thứ tư là phần chẩn đoán bệnh, trình bày hầu hết các triệu chứng bệnh ở trẻ em, chia thành 41 nhóm chủ đề, giúp các bậc cha mẹ có thể chẩn đoán sơ bộ về căn bệnh mà con mình có thể mắc phải Bằng cách tổng hợp các triệu chứng thường gặp trong từng căn bệnh, người dùng sách có thể xác định được những triệu chứng nào có thể sẽ thuộc về những căn bệnh nào Mặc dù điều này không nhắm đến giải quyết ngay căn bệnh, nhưng nó giúp đưa ra một đánh giá, suy đoán bước đầu để có thể kịp thời xử lý ngay những trường hợp khẩn cấp, hoặc có những biện pháp can thiệp, hỗ trợ thích đáng Trong mỗi nhóm chủ đề, người sử dụng sẽ có được một số các thông tin tương tự, chẳng hạn như cách xác định bệnh, các dấu hiệu nguy hiểm cần chú ý, cần xử lý bệnh tại nhà hoặc
Trang 6đưa trẻ đến bác sĩ Mức độ khẩn cấp của từng trường hợp cũng được gợi ý qua các lời khuyên, chẳng hạn như khi nào cần gọi xe cấp cứu, hoặc cần đến bác sĩ trong vòng 24 giờ, hoặc 48 giờ Ngoài ra còn có những chỉ dẫn về các biện pháp thiết thực, dễ thực hiện để có thể can thiệp ngay trong một số trường hợp nhằm giảm nhẹ bệnh tình của trẻ, chẳng hạn như cách làm giảm bớt thân nhiệt khi trẻ sốt, cách làm dịu bớt cơn ho của trẻ, hoặc cách làm cho trẻ dễ chịu hơn khi bị nôn mửa Trong một số trường hợp, những biện pháp xử lý chăm sóc tại nhà cũng có thể là tất cả những gì cần làm, không nhất thiết bao giờ cũng phải tìm đến bác sĩ.
Phần cuối cùng là những kiến thức thực tế quan trọng mà tất cả các bậc cha mẹ đều cần phải nắm vững: những phương pháp sơ cấp cứu trẻ em trong các trường hợp khẩn cấp, cần được thực hiện tức thời ngay khi xảy ra tai biến, trong khi chờ đợi các nhân viên y tế hay bác sĩ kịp đến với trẻ, hoặc trước khi đưa trẻ đến bệnh viện
Với những thông tin thiết thực được trình bày một cách hệ thống và dễ hiểu, hy vọng sách này sẽ là một cẩm nang hữu ích cho hầu hết các bậc cha mẹ Khi biên soạn và giới thiệu quyển sách, chúng tôi mong muốn được chia sẻ những thông tin này cùng tất cả những ai quan tâm đến việc chăm sóc sức khỏe trẻ thơ, và hy vọng sẽ làm giảm nhẹ đi phần nào gánh nặng của các bậc cha mẹ trong suốt quá trình nuôi dưỡng và chăm sóc con cái Tuy nhiên, do những hạn chế nhất định về trình độ của người biên soạn, chắc chắn sẽ không thể tránh khỏi ít nhiều sai sót Chúng tôi chân thành mong mỏi được đón nhận và rất biết ơn những ý kiến đóng góp xây dựng để những lần tái bản của sách sẽ được hoàn thiện hơn
NGUYỄN MINH TIẾN
Trang 7PHẦN I NHỮNG HIỂU BIẾT CĂN BẢN VỀ CƠ
THỂ CON NGƯỜI
con người cũng như hiểu được sự phát triển bình thường về tinh thần, tình cảm, thể lực của trẻ, các bậc cha mẹ có thể sẽ hiểu rõ hơn những chứng bệnh thường gặp Vì thế, trong phần này chúng ta sẽ bắt đầu tìm hiểu
sơ lược về sự phát triển của trẻ em từ sơ sinh cho đến tuổi thiếu niên Chúng ta cũng sẽ cùng nhau tìm hiểu về những hiểu biết cần thiết trong việc cho trẻ bú, cho trẻ ăn dặm, đặc biệt là vấn đề dinh dưỡng cho trẻ ở độ tuổi đang phát triển Ngoài ra, chúng ta cũng sẽ đề cập đến một số vấn đề quan trọng như tiêm phòng cho trẻ, các biện pháp phòng ngừa tai nạn, và cách chăm sóc trẻ nói chung Tất cả những kiến thức cơ bản này là điều kiện tất yếu để có thể đảm bảo cho trẻ một cuộc sống an toàn, khỏe mạnh và phát triển hoàn toàn bình thường
Có rất nhiều khó khăn khác nhau trong việc chăm sóc trẻ em, ngay từ khi trẻ sinh ra cho đến khi trẻ chập chững biết đi, kéo dài cho đến lúc trẻ lớn lên và hoàn toàn trưởng thành Những khó khăn thường gặp nhất sẽ được tìm hiểu ở cuối phần này, chẳng hạn như những bất ổn trong việc ăn ngủ của trẻ, những dấu hiệu phát triển bất bình thường
Trang 8I CÁC HỆ THỐNG CỦA CƠ THỂ
Để xác định được những gì bất ổn xảy ra cho trẻ em, chúng ta cần phải hiểu được sự cấu tạo và phát triển bình thường của cơ thể Phần sau đây trình bày một cái nhìn tổng quát về cơ thể và cơ chế hoạt động của nó, về sự phát triển của bộ xương, về các giác quan và cơ chế hoạt động, phát triển của chúng, cùng với những mốc quan trọng trong sự phát triển ở các độ tuổi sơ sinh, nhi đồng và thiếu niên
Toàn bộ các hệ thống của cơ thể hoạt động hài hòa với nhau để thực hiện nhiều chức năng khác nhau cần thiết cho sự sống, bao gồm việc hô hấp, tiêu hóa, vận động,
cung cấp oxygen cũng như các chất dinh dưỡng, và thải bỏ
các chất cặn bã ra khỏi cơ thể Mỗi một hệ thống trong số các hệ thống này đều bao gồm một số các cơ quan, cơ bắp và tế bào đặc biệt cùng phối hợp với nhau để thực hiện được những chức năng quan trọng thiết yếu cho sự sống Một số bộ phận không chỉ tham gia trong một hệ thống duy nhất mà là nhiều hệ thống khác nhau, chẳng hạn như các mạch máu ở phổi
Trang 91 Hệ hô hấp
Hệ hô hấp gồm có hai buồng phổi, các đường dẫn để
không khí đi qua (chẳng hạn như mũi, khí quản ) và các
cơ hô hấp (bao gồm cả cơ hoành), kết hợp với các mạch máu để cung cấp dưỡng khí (oxygen) cho các mô của cơ thể và mang thán khí (dioxidcarbon) về phổi để thở ra.
Hình 1
Hệ hô hấp
khoang mũi khoang miệng thanh quản khí quản
phổi
cơ hoành phế quản
họng
Trang 10Hai buồng phổi của chúng ta chiếm một thể tích lớn trong khoang ngực, trải dài từ xương đòn xuống tới cơ hoành Buồng phổi bên phải chia làm 3 phần, còn gọi là
3 thùy Buồng phổi bên trái có một phần bị choáng chỗ bởi trái tim nên chỉ có 2 thùy Hai nhánh của khí quản hay cuống phổi phân ra ngày càng nhỏ hơn đi vào các thùy Các phần của cuống phổi tận cùng bằng các túi phổi, là những túi không khí rất nhỏ bao quanh bởi các mao mạch
Hình 2
Cấu trúc của phổi
2 Hệ tiêu hóa
Hệ tiêu hóa là một đường ống chạy dài từ miệng xuống đến hậu môn Thức ăn đi qua đường ống này được phân hóa ra thành những phân tử rất nhỏ có thể hấp thụ được vào máu, kết hợp với những cơ quan tiết ra các chất hóa
học (men tiêu hóa) giúp vào tiến trình tiêu hóa.
động mạch chủ PHỔI
khí quản tĩnh mạch
chủ trên
tim
tiểu phế quản động mạch phổi phế nang lưới mao mạch phế nang
thán khí ra khỏi tĩnh mạch
dưỡng khí đi vào phế nang
Trang 11miệng tuyến nước bọt
dạ dày tụy ruột non
họng thực quản
gan túi mật
ruột già ruột thừa hậu môn
trực tràng
Trang 12xương đỉnh xương trán xương thái dương xương chẩm
xương đòn xương vai cột sống
xương trụ xương quayï
xương ức
các xương sườn xương cánh tay đệm đốt sống đai chậu
xương chậu xương mu xương ụ xương cổ tay xương bàn tay xương đốt ngón tay
xương cùng
xương đùi xương bánh chè
xương chày xương mác
xương cổ chân xương bàn chân xương đốt ngón chân
Trang 13Cấu trúc xương người vừa chắc chắn vừa mang tính dẻo dai, chịu lực cao Người trưởng thành có cả thảy 206 xương lớn nhỏ, vừa giữ chức năng chống chịu toàn bộ trọng lượng cơ thể, vừa bảo vệ các cơ quan nội tạng bên trong Các xương nối với nhau bằng khớp xương, được cấu tạo thích hợp để có thể chuyển động nhẹ nhàng, đáp ứng nhu cầu vận động của cơ thể.
Mỗi một xương trong bộ xương có kích thước và hình dáng khác nhau, phù hợp với từng chức năng khác biệt Chẳng hạn, xương ức (ngực) rộng và phẳng để bảo vệ tim, phổi bên trong lồng ngực trong khi hộp xương sọ lại thích hợp để bảo vệ bộ não Các xương ở bàn tay nhỏ và ngắn thích hợp với những cử động linh hoạt và chính xác, trong khi xương cẳng chân lớn và dài để thích hợp với sự di chuyển của toàn bộ cơ thể trong hoạt động đi lại Lồng ngực là một khoang được tạo thành bởi xương ức và
12 cặp xương sườn, ngoài việc bảo vệ chắc chắn cho tim và phổi, các xương này còn tạo thành một cấu trúc thích hợp hỗ trợ cho hoạt động hô hấp, khi không khí được hít vào và thở ra Xương sống được hình thành từ 26 đốt sống nối nhau một cách chắc chắn, vừa đủ sức chống chịu trọng lượng cơ thể, vừa đủ linh hoạt để cho phép các cử động phức tạp như khom, cúi, vặn vẹo
Bộ xương còn là kho dự trữ calci, một khoáng chất
thiết yếu cho hoạt động của các tế bào thần kinh và cơ bắp của cơ thể Tủy xương là nơi hình thành các tế bào hồng cầu
4 Hệ cơ bắp
Có ba loại cơ là: cơ tự ý (chịu sự kiểm soát của ý thức),
cơ không tự ý (không chịu sự kiểm soát của ý thức) và
Trang 14cơ tim Cơ tự ý là các cơ được minh họa trong hình, hoạt động kết hợp với bộ xương để giúp cho cơ thể có thể vận
cơ vòng môi
cơ ức đòn chũm
cơ ngực lớn
cơ tam giác vai
cơ răng lớn
cơ chéo ngoài
cơ ngực nhỏ
cơ gian sườn
cơ hai đầu
cơ chéo trong
cơ quay
cơ gấp chung ngón tay
cơ gấp ngón cái
cơ thẳng bụng
cơ may
cơ căng cân đùi
cơ khép
cơ rộng ngoài
cơ rộng trong
cơ sinh đôi ngoài
cơ duỗi ngón chân
cơ duỗi ngón cái
cơ bốn đầu đùi
Trang 15cơ hai đầu đùi
cơ rộng ngoài
cơ bán mạc
cơ khoeo
cơ mông lớn
cơ mông lỡ
cơ gai sống
cơ ba đầu
cơ tam giác vai
cơ thang
cơ gối đầu
cơ dưới sống
cơ lưng lớn
cơ duỗi cánh tay
cơ gấp cánh tay
cơ quay
Trang 16động được Cơ không tự ý là cơ bao quanh các cơ quan nội tạng, chẳng hạn như ruột, dạ dày Cơ tim là cơ cấu tạo thành quả tim.
Cơ tự ý là những cơ gắn với xương để giúp cơ thể có khả năng vận động, cử động Tự thân bộ xương không thể cử động, mà tất cả mọi cử động đều là nhờ có các cơ gắn chặt vào xương Cơ không tự ý cũng gọi là cơ trơn,
vì chúng không gắn vào các xương mà được phân bố ở dạ dày, bàng quang cũng như các cơ quan nội tạng khác, để giúp tạo ra các hoạt động co bóp tự nhiên, không do ý thức kiểm soát Cơ tim là loại cơ duy nhất chỉ có ở tim, giữ chức năng như một bơm áp lực liên tục đẩy máu đi khắp cơ thể
5 Hệ tuần hoàn
Hình 7
Hệ tuần hoàn - tổng quát
quả tim van tim các mạch máu
Trang 17Quả tim bơm máu qua các động mạch, tĩnh mạch và
mao mạch Oxygen và các chất dinh dưỡng được máu đưa
đến phân phối cho tất cả các phần của cơ thể, đồng thời các chất thải được mang đi Sau đó, máu được đưa trở về
phổi để nhận oxygen và thải thán khí theo hơi thở ra bên
ngoài Dòng chảy của máu được kiểm soát bằng các van theo cơ chế đóng mở tùy thuộc vào sự co bóp của tim
Hình 8: Cơ chế đóng mở van động mạch phổi
KHI TIM CO BÓP KHI TIM GIÃN RA
van động mạch phổi đóng lại
van động mạch phổi mở ra
dòng chảy của máu động mạch phổi
Tim là một cái bơm cực mạnh và cực bền, hoạt động liên tục không ngừng nghỉ Nhờ có hoạt động của tim mà máu có thể theo các tĩnh mạch để mang dưỡng khí, dưỡng chất đến nuôi tất cả các tế bào của cơ thể, đồng thời máu cũng theo các động mạch để mang đi thán khí và chất thải từ các tế bào Trong một năm, trái tim của chúng ta co bóp khoảng 3 triệu lần, chuyển đi một lượng máu khoảng 2.900.000 lít! Để đảm bảo phân luồng chính
Trang 18xác lượng máu vào và ra, tim có 4 van tim để kiểm soát, mỗi van chỉ cho phép máu đi qua theo chiều nhất định Hoạt động của tim cũng thường xuyên được điều chỉnh để thích hợp với nhu cầu cơ thể, chẳng hạn như gia tăng khi
cơ thể hoạt động mạnh và giảm mạnh khi cơ thể hoàn toàn nghỉ ngơi
Hình 9
Trái tim
động mạch chủ
động mạch phổi
tâm nhĩ trái van động mạch chủ van hai lá tâm thất trái
vách ngăn
cơ tim
tĩnh mạch chủ trên
tĩnh mạch chủ dưới
van động mạch phổi
tâm nhĩ phải
van ba lá
tâm thất phải
Trang 19Hình 10
Hệ tuần hoàn - chi tiết
động mạch thái dương ngoài động mạch cột sống
động mạch dưới đòn
động mạch cảnh chung bên trái động mạch cảnh chung bên phải
vòm động mạch chủ động mạch chủ xuống động mạch nách động mạch vành động mạch cánh tay động mạch chủ ngực động mạch thận động mạch chủ bụng
động mạch chậu chung
động mạch quay động mạch trụ động mạch đùi
động mạch trước xương chày
tĩnh mạch trước xương chày
động mạch hình cung
tĩnh mạch xương mác
tĩnh mạch đùi
tĩnh mạch chủ dưới
tĩnh mạch quay tĩnh mạch trụ
tĩnh mạch thận tim
tĩnh mạch nách
tĩnh mạch dưới đòn
tĩnh mạch cánh tay tĩnh mạch chủ trên
tĩnh mạch cổ
tĩnh mạch cột sống
tĩnh mạch chậu chung
Trang 20Hình 11
Các mạch máu
lòng mạch lớp bọc trong lớp bọc giữa lớp bọc ngoài
ĐỘNG MẠCH MAO MẠCH TĨNH MẠCH
Các động mạch mang máu từ tim đi khắp cơ thể, trong khi các tĩnh mạch mang máu từ khắp nơi trở về tim Động mạch và tĩnh mạch được nối nhau bởi các mao mạch là những mạch máu rất nhỏ Nhờ có các mao mạch mà oxy và các chất dinh dưỡng trong động mạch mới đến được với các tế bào, và cũng thông qua các mao mạch mà chất thải của tế bào được đưa vào các tĩnh mạch
Cấu trúc của động mạch và tĩnh mạch đều tương tự như nhau, đều gồm có ba lớp bọc quanh một ống rỗng là lòng mạch Lớp bọc trong cùng được hình thành bởi một loại tế bào đặc biệt cho phép giảm nhẹ tối đa ma sát trong lòng mạch khi máu chảy qua Lớp bọc giữa gồm những tế bào cơ trơn và có độ đàn hồi cao, cho phép lòng mạch có thể giãn ra hoặc co lại tùy theo lượng máu chảy bên trong Lớp bọc ngoài cùng có tác dụng bảo vệ và đồng thời gắn chặt mạch máu với các bộ phận bao quanh nó
Trang 216 Hệ bạch huyết
Hệ bạch huyết là một phần chính yếu trong hệ thống miễn nhiễm của cơ thể, được hình thành bởi một mạng
hạch trên ròng rọc
hạch ngoài
xương chậu
hạch bẹn sâu
mao mạch bạch huyết
hạch bên động mạch chủ ống ngực
Trang 22lưới các mạch bạch huyết chạy khắp cơ thể và các hạch bạch huyết được bố trí như những nốt chặn
Bạch huyết là một dạng chất lỏng với các tế bào màu
trắng (bạch cầu), chảy trong các mạch bạch huyết và có chức năng tiêu diệt các vi sinh vật bị giữ lại nơi các hạch bạch huyết Tế bào bạch cầu được tạo ra trong các tủy xương, khi trưởng thành sản xuất ra một số loại protein
đặc biệt gọi là kháng thể, có khả năng tiêu diệt vi khuẩn xâm nhập cơ thể Tế bào bạch cầu có khả năng ghi nhớ các loại vi khuẩn đã từng xâm nhập cơ thể, vì thế có thể nhanh chóng tiêu diệt những vi khuẩn này nếu chúng lại xâm nhập cơ thể một lần nữa
Như được thấy trong hình vẽ, hệ thống bạch huyết phân bố khắp cơ thể nhưng đặc biệt không có trên bộ não
7 Hệ thần kinh
Hệ thần kinh được cấu thành bởi bộ não, tủy sống và hàng triệu các tế bào thần kinh Đây là trung tâm kiểm soát toàn bộ các hoạt động có ý thức và các chức năng tự nhiên của cơ thể Những dây thần kinh tiếp nhận các cảm giác, chẳng hạn như khi sờ mó, nếm, ngửi, nhìn và nghe
Một cách khái quát, hệ thần kinh chia thành hai phần là hệ thần kinh trung ương và hệ thần kinh ngoại biên Hệ thần kinh trung ương bao gồm bộ não nằm trong hộp sọ và tủy sống nằm trong cột sống Toàn bộ mạng lưới các dây thần kinh nối liền não và tủy sống với các phần còn lại của cơ thể được gọi là thần kinh ngoại biên
Trang 23Hình 13
Hệ thần kinh
bộ não
thùy trán thùy đỉnh thùy thái dương thùy chẩm tiểu não
dây thần kinh cánh tay dây thần kinh xương trụ dây thần kinh giữa dây thần kinh quay dây thần kinh đùi dây thần kinh hông
dây thần kinh ngón tay
dây thần kinh chày sau
dây thần kinh xương mác dây thần kinh tĩnh mạch hiển
tủy sống dây thần kinh gian sườn
dây thần kinh nách
hạch tủy sống
Trang 248 Hệ sinh dục - tiết niệu
a Hệ sinh dục nữ
Hệ sinh dục nữ gồm có 2 buồng trứng, tử cung và các
ống dẫn khác nhau, tạo ra các hormone, và đến tuổi dậy
thì hằng tháng sẽ tạo ra trứng
Hình 14
Hệ sinh dục nữ
mô mỡ quầng vú
thùy
núm vú
bầu vú
tai vòi buồng trứng
vòi trứng
thân tử cung
cổ tử cung âm đạo
Khác với hệ sinh dục nam, hệ sinh dục nữ có phần phức tạp hơn vì ngoài chức năng tạo ra bào thai, cơ thể người phụ nữ còn phải bảo vệ và nuôi dưỡng bào thai cho đến khi phát triển đủ để có thể tồn tại trong môi trường bên ngoài Ngoài ra, sau khi sinh con, người phụ nữ còn tiếp tục nuôi dưỡng con bằng sữa mẹ nên hai bầu vú phát triển lớn với các tuyến sữa
Trang 25Hai buồng trứng là cơ quan sinh sản chính của phụ nữ, có kích thước dài khoảng 3cm, rộng 2cm Khi mới sinh
ra, buồng trứng có đến khoảng 1 triệu trứng non, đến tuổi dậy thì có khoảng 400.000 trứng, nhưng suốt thời gian sinh sản chỉ có khoảng 200 trứng chín rụng mà thôi.Khi trứng rụng gặp đúng thời điểm có giao hợp và tiếp xúc được với tinh trùng của người đàn ông, sự thụ tinh có thể xảy ra Trứng thụ tinh sẽ đi vào tử cung, bám vào vách tử cung và phát triển thành bào thai ở đó Nếu không thụ tinh, trứng sẽ bị đưa ra ngoài vào chu kỳ kinh nguyệt kế tiếp
b Hệ sinh dục nam
Chức năng chính của hệ sinh dục nam là tạo ra tinh trùng và đưa vào cơ thể người phụ nữ để đảm bảo việc sinh sản, duy trì nòi giống Trong khi hệ sinh dục nữ nằm trọn vẹn bên trong cơ thể, thì các bộ phận của hệ sinh
Trang 26dục nam lại hầu như nằm ngoài, đặc biệt là cơ quan sản xuất tinh trùng cũng nằm bên ngoài dương vật Điều này giúp cho tinh trùng được giữ ở một nhiệt độ lúc nào cũng thấp hơn nhiệt độ cơ thể (thân nhiệt), và đây là điều cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của tinh trùng.
Hình 16
Hệ sinh dục nam
túi tinh tuyến tiền liệt
niệu đạo dương vật
ống dẫn tinh
Tinh trùng bắt đầu được tạo ra khi đến tuổi dậy thì
Cơ quan có chức năng tạo ra tinh trùng là hai tinh hoàn, nằm bên trong một bọc gọi là bìu Mỗi tinh hoàn có một ống dẫn tinh Tinh trùng sau khi được các tinh hoàn tạo
ra sẽ đi vào mào tinh và có thể ở đó từ 1 đến 3 tuần lễ để
trưởng thành Mỗi lần giao hợp, có khoảng từ 200 – 300 triệu tinh trùng được đưa vào cơ thể người nữ qua dương vật Mặc dù vậy, khi giao hợp thành công thì trong số này
Trang 27cũng chỉ có một tinh trùng duy nhất đủ may mắn để kết hợp và làm trứng thụ tinh và hình thành bào thai.
Các tinh hoàn cũng tạo ra những hormone có tác dụng
tạo thành các tính cách của nam giới, được bộc lộ kể từ tuổi dậy thì
Trang 28Hình 18
Tinh trùng trong cơ quan sinh dục nam
ống sinh tinh
tinh trùng chưa trưởng thành tinh hoàn
mào tinh
c Hệ tiết niệu
Hệ tiết niệu giống nhau ở cả nam và nữ, bao gồm thận, niệu quản và bàng quang, có chức năng lọc bỏ các chất thải, lượng nước thừa và muối thừa trong máu
Ở nữ giới thì niệu đạo được dẫn ra ngoài cơ thể qua âm đạo Ở nam giới, nước tiểu được đưa ra khỏi cơ thể qua dương vật
Thận có 2 quả hình hạt đậu, gọi là thận phải và thận trái Mỗi quả thận có kích thước dài khoảng 10 – 12,5
cm, cân nặng chừng 170 gram nhưng được tạo thành bởi
khoảng 1 triệu đơn vị thận, gọi là nephron Mỗi nephron
gồm có cầu thận và ống thận Thận được nối với một ống dài mảnh gọi là niệu quản, thông đến bàng quang là nơi chứa nước tiểu Từ bàng quang lại có niệu đạo để dẫn nước tiểu thông ra bên ngoài cơ thể qua dương vật hoặc âm đạo
Trang 309 Hệ nội tiết
Các tuyến nội tiết sản xuất ra những hormone, những tín hiệu hóa học của cơ thể Các hormone được máu mang
đến tất cả các phần của cơ thể và giúp điều hòa các tiến trình trong cơ thể, chẳng hạn như sự tăng trưởng Một số các tuyến nội tiết, chẳng hạn như tinh hoàn và buồng trứng, chỉ hoạt động khi đến tuổi dậy thì
Tuyến yên là tuyến nội tiết quan trọng nhất, giữ chức
năng tiết ra nhiều loại hormone đặc biệt có tác dụng
kiểm soát hoạt động của các tuyến nội tiết khác và điều hòa nhiều tiến trình sinh học khác nhau của cơ thể
Các hormone quan trọng nhất là hormone tăng trưởng, hormone kích thích tuyến giáp, hormone kháng lợi niệu
(làm cho thận thải ra nước tiểu ít nước hơn), hormone kích thích phụ nữ tạo sữa sau khi sinh Tuyến yên chịu sự kiểm soát của vùng hạ đồi trong não qua các xung động thần kinh cũng như qua các yếu tố điều tiết bằng
hormone.
Hình 21
Vị trí của tuyến yên
vùng đồi não
vùng hạ đồi tuyến yên tiểu não
cuống não
vị trí tuyến yên
Trang 31Hình 22
Hệ nội tiết
vùng hạ đồi
tuyến cận giáp tuyến giáp
tuyến tùng
tuyến yên
tuyến tụy tuyến thượng thận
Trang 32II SỰ PHÁT TRIỂN CỦA BỘ XƯƠNG
hình thành, nhưng một số phần trong đó được cấu tạo bằng sụn và sẽ không hóa xương cho đến những năm cuối của tuổi thanh niên, dễ thấy nhất là những phần cuối của xương tay, xương chân, xương bàn tay, xương bàn chân Các phần sụn liên tục phát triển trước khi hóa xương, và điều này cho phép tiến trình phát triển của trẻ diễn ra Tiến trình được tiếp tục qua suốt thời niên thiếu cho đến khi đạt đến kích thước trưởng thành Số lượng các xương riêng rẽ trong cơ thể giảm bớt đi khi đến tuổi trưởng thành Đứa trẻ vừa sinh ra có khoảng 300 xương khác nhau, nhưng một số trong các xương này sẽ nhập lại cùng nhau trong quá trình lớn lên, để cuối cùng khi đến tuổi trưởng thành thì một bộ xương hoàn chỉnh sẽ có 206 xương
1 Sự phát triển của xương sọ
Vào lúc mới sinh ra, hộp sọ của một đứa bé không hoàn toàn cấu tạo bằng xương Các xương riêng rẽ tạo thành hộp sọ được nối kết với nhau bởi các mô sợi rất mềm dẻo Những khu vực liên kết này cho phép hộp sọ thay đổi kích thước trong lúc sinh và có thể phát triển nhanh chóng trong một hoặc hai năm đầu đời Vị trí thóp trước của hộp sọ là phần mô sợi lớn nhất và có thể sờ thấy dễ dàng bên trong lớp da
Các xương ở mặt lớn lên cùng một tỷ lệ với phần còn lại của hộp sọ, để khi quá trình tăng trưởng hoàn tất thì đầu có tỷ lệ cân đối với phần còn lại của cơ thể
Trang 33Hộp sọ của trẻ sơ sinh
Tiến trình hóa xương của hộp sọ bắt đầu khá lâu trước khi trẻ được sinh ra, nhưng phần thóp trước được cấu tạo bởi các mô sợi vẫn tồn tại ở giữa các xương, cho phép hộp sọ có thể đủ chỗ cho một bộ não ngày càng lớn lên Những xương mặt của trẻ mới sinh rất nhỏ và răng chưa mọc lên
Khi trẻ lên 6 tuổi, thóp trước đã hóa xương và không còn nhìn thấy được nữa Tất cả răng sữa đều đã mọc Răng trưởng thành chỉ vừa mới bắt đầu mọc lên Xương hàm trước hạ thấp xuống và nhô về phía trước nhiều hơn
so với hộp sọ của trẻ mới sinh Các hốc mắt và vùng mũi cũng mở rộng hơn Xương hàm dưới phát triển về phía dưới và hơi nhô ra trước
Hình 23: Hộp sọ nhìn thẳng
Hình 24: Hộp sọ nhìn nghiêng
Trang 34Hình 25
So sánh hộp sọ trẻ sơ sinh và người lớn
Các phần chưa hóa xương cho
phép hộp sọ tiếp tục phát triển Khi phát triển hoàn toàn, những kẽ hở không còn nữa.
Hình 26: Hộp sọ trẻ sơ sinh
xương đỉnh thóp trước
xương trán
hốc mắt
xương chẩm xương thái dương xương hàm dưới
xương hàm trên
Trang 352 Sự phát triển của hàm răng
Khi mới sinh ra, những răng sữa đã phát triển bên trong hàm Răng đầu tiên thường sẽ bắt đầu mọc ra bên ngoài vào khoảng 6 tháng tuổi, và khi bé được 3 tuổi thì toàn bộ 20 răng sữa đều đã mọc ra Trong khi đó, 32 răng trưởng thành bắt đầu phát triển bên trong hàm và sẽ mọc ra trong độ tuổi từ 6 đến 16 Khi các răng này mọc, răng sữa bị thay thế, rơi rụng Những răng hàm thứ ba, hay răng khôn, thường mọc ra ở tuổi 16 hoặc lớn hơn nữa, nhưng cũng có đôi khi chúng chẳng bao giờ mọc ra cả
Răng sữa
Trong hình 28, chúng ta thấy các răng sữa mọc lên trong khoảng thời gian từ 6 tháng tuổi đến 3 năm tuổi, theo thứ tự như các số đặt trong ngoặc đơn Như có thể
Hình 27: Hộp sọ trẻ lên 6 tuổi
đường khớp
xương hàm trên
các răng sữa
răng trưởng
thành đang mọc
xương đỉnh xương trán
hốc mắt
xương hàm dưới
xương thái dương
xương chẩm
Trang 36thấy được trong hình, hàm trên và hàm dưới đều theo một kiểu như nhau.
Hình 28: Các răng sữa
răng cửa giữa (1) răng cửa bên (2)
răng hàm thứ nhất (3)
răng hàm thứ hai (5)
răng nanh (4)
răng cửa giữa (1) răng cửa bên (2)
răng hàm thứ nhất (3)
HÀM TRÊN
HÀM DƯỚI
răng nanh (4) răng hàm thứ hai (5)
Hình 29: Các răng trưởng thành
răng nanh (4) răng nanh (4)
răng cửa giữa (2)
răng cửa bên (3)
răng hàm thứ nhất (1)
răng hàm thứ ba (7)
các răng cối (5) răng hàm thứ hai (6)
HÀM TRÊN
HÀM DƯỚI
răng hàm thứ hai (6)
các răng cối (5)
răng cửa giữa (2) răng cửa bên (3)
răng nanh (4) răng hàm thứ nhất (1) răng hàm thứ ba (7)
Trang 37Răng trưởng thành
Trong hình 29, chúng ta thấy các răng trưởng thành hay răng vĩnh viễn mọc lên trong khoảng thời gian từ
6 cho đến 16 tuổi, theo thứ tự như các số đặt trong dấu ngoặc đơn Các răng cối, răng nanh và răng cửa sẽ trực tiếp thay thế cho những răng sữa trước đó
Cấu trúc của răng
Lớp trong cùng của răng là các dây thần kinh nhạy cảm và mạch máu, được bảo vệ bởi nhiều cấu trúc bao quanh Ngoài cùng là men răng, là chất có độ cứng nhất trong cơ thể Bên dưới men răng là một lớp có cấu tạo tương tự như xương gọi là ngà răng, bao quanh phần tủy răng từ thân răng xuống tận chân răng Quanh chân răng
Hình 30: Các răng khác nhau
răng cửa răng nanh
răng cối
răng hàm
Trang 38còn có một lớp cứng gọi là xương răng (cementum) nằm
ngăn giữa chân răng với dây chằng quanh răng Phần dây chằng quanh răng có tác dụng giữ chặt răng và đồng thời làm một lớp đệm giữa lợi và xương hàm khi răng hoạt động như nhai, nghiến
Hình 31: Cấu trúc của răng
ngà răng tủy răng lợi
xương hàm chân răng mạch máu xương răng dây thần kinh dây chằng quanh răng
3 Những vùng chính trong sự phát triển xương
Trong thời thơ ấu, hầu hết các xương dài đều có chứa một phần sụn, cho phép xương có thể phát triển được
Phần sụn ở các vùng này lớn lên và hấp thụ calcium
để phát triển thành xương Các xương chân, xương tay, xương bàn tay, xương bàn chân là những vùng phát triển nhiều nhất, được tạo thành bởi một phần chính là thân xương cùng với phần đầu xương có thể phát triển lớn lên
ở một hoặc cả hai đầu Trong suốt thời gian lớn lên của trẻ, những phần đầu xương dần dần hóa xương, chỉ còn lại một phiến sụn để có thể tiếp tục phát triển cho đến
Trang 39khi đạt kích thước, chiều cao trưởng thành vào cuối độ tuổi thanh niên.
Các vùng xương và sụn đang hóa xương được nhìn thấy rõ khi chụp quang tuyến X, các phần sụn sẽ hiện lên không rõ bằng phần xương Vì thế, bác sĩ có thể sử dụng
phương pháp X-quang để xác định tuổi của một đứa bé
và xác định xem sự phát triển của bé có bình thường hay không Phương pháp này dựa trên cơ sở là các vùng hóa xương xuất hiện theo một trình tự giống nhau ở hết thảy mọi đứa trẻ Chẳng hạn như, khi được 1 tuổi trẻ sẽ phát triển những vùng hóa xương ở vai, bàn tay, bên hông và bàn chân Từ 2 tuổi, sẽ có thêm các vùng hóa xương ở vai, khuỷu tay, bàn tay, bên hông, đầu gối và xương bàn chân Các vùng hóa xương được tạo thành vào mỗi năm và sự phát triển diễn ra liên tục ở cả các vùng cũ cũng như trong những vùng mới
Hình 32: Những vùng sụn hóa xương mới
TRẺ 6 TUỔI TRẺ 30 THÁNG TUỔI
Trang 40Những vùng hóa xương mới bao gồm các xương ở vai, khuỷu tay, cổ tay, bàn tay, bàn chân và mắt cá Các vùng hóa xương đã có từ trước vẫn tiếp tục phát triển Hình
ảnh X-quang của bàn tay cho thấy các phần thân xương
(những chỗ mờ đục) đã hóa xương, nhưng những phần đầu xương (những chỗ trong suốt) vẫn còn đang phát triển
Hình 33: Hình ảnh X-quang cho thấy sự phát triển xương
ở bàn tay
TRẺ 30 THÁNG TUỔI TRẺ 6 TUỔI
vùng phát triển
ở đầu xương
vùng phát triển
ở đầu xương ngón tay
vùng phát triển ở đầu xương bàn tay
vùng đã hóa xương của xương bàn tay
vùng đã hóa xương của xương cổ tay
Cho đến năm trẻ được 6 tuổi, các vùng hóa xương ở khuỷu tay, bàn tay và cổ tay đã hình thành, và một vùng
hóa xương mới xuất hiện ở đầu gối Hình ảnh X-quang
cho thấy nhiều vùng ở cổ tay đã hóa xương hoàn toàn (những vùng mờ đục), nhưng vẫn còn những vùng đang phát triển ở các đầu xương bàn tay (những vùng trong suốt)
4 Sự hồi phục xương
Bản chất tự nhiên của hầu hết trẻ con là tò mò và liều lĩnh Kết quả là chúng rất thường bị té ngã, có thể