1 BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP NAM ĐỊNH GIÁO TRÌNH GIÁO TRÌNH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ NGÀNH/CHUYÊN NGÀNH TIN HỌC VĂN PHÒNG (Lưu hành nội bộ) Dùng cho đào tạo Hệ trung cấp chuyên nghiệp NAM ĐỊ[.]
Trang 1(Lưu hành nội bộ)
Dùng cho đào tạo: Hệ trung cấp chuyên nghiệp
NAM ĐỊNH 2021
Trang 2(Lưu hành nội bộ)
CHỦ BIÊN : NGUYỄN THỊ KHUY
NAM ĐỊNH 2021
Trang 33
LỜI GIỚI THIỆU
Trong những năm gần đây, sự phát triển mạnh mẽ của th ương mại điện tử trên thế giới đã góp phần làm thay đổi cách thức kinh doanh, giao dịch truyền thống v à đem lại những lợi ích to lớn cho xã hội Sự ra đời của thương mại điện
tử đã đánh dấu sự bắt đầu của một hệ thống mới nhằm phát triển kinh tế, một trong những điều kiện c ơ bản và có ý nghĩa quyết định trong việc phát triển thương mại điện tử là việc hoàn thiện các dịch vụ thanh toán điện tử Thực tế đã chứng minh thanh toán điện tử l à một trong những điều kiện cốt lõi để phát triển thương mại điện tử với vai trò là một khâu không thể tách rời của quy trình giao dịch và còn là biện pháp xác thực việc ký kết hợp đồng giữa ng ười bán và người mua Thương mại điện tử giúp giảm thấp chi phí bán h àng và chi phí tiếp thị Bằng Internet/web, một nhân viên bán hàng có thể giao dịch được với rất nhiều khách hàng, catalogue điện tử trên các trang web không những phong phú hơn
mà còn thường xuyên được cập nhật so với các catalogue in ấn khuôn khổ giới hạn và luôn luôn lỗi thời Qua đó thương mại điện tử tạo điều kiện cho việc thiết lập v à củng cố mối quan hệ giữa các nhân tố tham gia v ào quá trình thương mại Thông qua mạng, các đối tượng tham gia có thể giao tiếp trực tiếp v à liên tục với nhau nhờ đó sự hợp tác lẫn sự quản lý đều được tiến hành nhanh chóng và liên tục
Vì những lý do đó, chúng tôi biên soạn giáo trình THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ, sách gồm có 5 bài
Bài 1 Tổng quan thương mại điện tử Bài 2 Thương mại điện tử và cơ sở hạ tầng TMĐT Bài 3 Các mô hình kinh doanh thương mại điện tử Bài 4 Khách hàng trên Internet
Bài 5 E-Marketing, E-payment Nhóm tác giả cũng xin cảm ơn cá cơ quan liên quan, các đơn vị cá nhân đã tham gia góp ý để chúng tôi hoàn thiện
Ngày…….tháng……….năm
Trang 44
MỤC LỤC
Bài 1 Tổng quan thương mại điện tử 7
1.1 Các khái niệm Internet và thương mại điện tử 7
1.2 Tình hình phát triển TMĐT trên thế giới 8
1.3 Lợi ích và hạn chế của thương mại điện tử 9
Bài 2 Thương mại điện tử và cơ sở hạ tầng TMĐT 11
2.1 Thực trạng TMĐT ở Việt Nam 11
2.2 Cơ sở hạ tầng 13
2.2.1 Cơ sở hạ tầng công nghệ 13
2.2.1.1 Hạ tầng công nghệ thông tin 14
2.1.1.2 Cơ sở thanh toán – thanh toán điện tử 15
2.1.1.3 Cơ sở an toàn, bảo mật 16
2.2.2 Cơ sở hạ tầng về pháp lý 18
2.2.2.1 Văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động TMĐT 18
2.2.2.2 Cơ sở pháp lý đối với các lĩnh vực liên quan 19
2.2.2.3 Hợp tác quốc tế về phát triển TMĐT 19
2.2.3 Cơ sở hạn tầng nguồn nhân lực 20
2.2.3.1 Chuyên gia Công nghệ thông tin 20
2.2.3.2 Cộng đồng người dùng 21
2.2.4 Cơ sở hạ tầng văn hóa xã hội 21
2.2.4.1 Hạ tầng kinh tế, chính trị 22
2.2.4.2 Hạ tầng văn hóa, xã hội 22
Bài 3 CÁc mÔ hÌnh kinh doanh thương mại điện tử 24
3.1 Mô hình Catalog trực tuyến (Web Catalog Model) 24
3.2 Mô hình siêu thị trực tuyến (E-store model) 26
3.3 Mô hình đăng ký hay cung cấp nội dung (Digital content Model) 27
3.4 Mô hình hỗ trợ quảng cáo (Advertising-supported Model) 27
3.5 Mô hình phí dịch vụ (fee for service model) 28
3.6 Mô hình đấu giá (Web auction hay online auction model) 30
Bài 4 Khách hàng trên Internet 33
Trang 55
4.1 Định nghĩa khách hàng trên Internet 33
4.2 Đặc tính của khách hàng và cách thức mua sắm của họ 33
4.3 Cách tiếp cận khách hàng trên Internet 34
Bài 5 E-Marketing, E-payment 35
5.1 Giới thiệu về marketing trên mạng 35
5.2 Các bước thiết lập một website hiệu quả 36
5.2.1 Mua tên miền, thuê máy chủ 36
5.2.2 Thiết kế website 36
5.3 Các chiến lược Marketing trên mạng 38
5.3.1 Chiến lược sản phẩm 38
5.3.2 Chiến lược giá 41
5.3.4 Chiến lược phân phối 41
5.3.5 Chiến lược xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh 42
5.4 Quy trình thanh toán qua mạng 42
CÂU HỎI THẢO LUẬN: 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
Trang 66
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ
Hình 4.1 Tiếp cận khách hàng trên internet
Hình 5.1: Một mô hình thanh toán điện tử
Hình 5.2 Một mô hình đảm bảo an ninh trong thanh toán
điện tử Hình 5.3 Mô hình các bên tham gia thanh toán điện tử
Trang 77
Bài 1 Tổng quan thương mại điện tử
1.1 Các khái niệm Internet và thương mại điện tử
Theo quan điểm giao tiếp, thương mại điện tử liên quan đến nhiều hình thức
trao đổi thông tin giữa doanh nghiệp với nhau, giữa khách hàng với doanh nghiệp
và giữa khách hàng với khách hàng
Theo quan điểm quá trình kinh doanh: thương mại điện tử bao gồm các hoạt
động được hỗ trợ trực tiếp bởi liên kết mạng
Theo quan điểm môi trường kinh doanh: thương mại điện tử là một môi
trường cho phép có thể mua bán các sản phẩm, dịch vụ và thông tin trên Internet
Sản phẩm có thể hữu hình hay vô hình
Theo quan điểm cấu trúc: thương mại điện tử liên quan đến các phương tiện
thông tin để truyền: văn bản, trang web, điện thoại Internet, video Internet
Sau đây là một số định nghĩa khác về thương mại điện tử:
Thương mại điện tử là tất cả các hình thức giao dịch được thực hiện thông qua
mạng máy tính có liện quan đến chuyển quyền sở hữu về sản phẩm hay dịch vụ
UNCITAD định nghĩa về thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, phân
phối, marketing, bán hay giao hàng hoá và dịch vụ bằng các phương tiện điện tử
Liên minh châu Âu định nghĩa thương mại điện tử bao gồm các giao dịch
thương mại thông qua các mạng viễn thông và sử dụng các phương tiện điện tử
Nó bao gồm thương mại điện tử gián tiếp (trao đổi hàng hoá hữu hình) và thương mại điện tử trực tiếp (trao đổi hàng hoá vô hình)
Thương mại điện tử cũng được hiểu là hoạt động kinh doanh điện tử, bao gồm: mua bán điện tử hàng hoá, dịch vụ, giao hàng trực tiếp trên mạng với các nội dung số hoá được; chuyển tiền điện tử - EFT (electronic fund transfer); mua bán
cổ phiếu điện tử - EST (electronic share trading);
vận đơn điện tử - E B/L (electronic bill of lading); đấu giá thương mại - Commercial auction; hợp tác thiết kế và sản xuất; tìm kiếm các nguồn lực trực tuyến; mua sắm trực tuyến - Online procurement; marketing trực tiếp, dịch vụ khách hàng sau khi bán
UN đưa ra định nghĩa đầy đủ nhất để các nước có thể tham khảo làm chuẩn, tạo
cơ sở xây dựng chiến lược phát triển thương mại điện tử phù hợp Định nghĩa
này phản ánh các bước thương mại điện tử , theo chiều ngang: “thương mại điện
tử là việc thực hiện toàn bộ hoạt động kinh doanh bao gồm marketing, bán hàng, phân phối và thanh toán (MSDP) thông qua các phương tiện điện tử”
Định nghĩa của WTO Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo,
bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet,
nhưng được giao nhận có thể hữu hình hoặc giao nhận qua Internet dưới dạng số hoá
Trang 88
Định nghĩa của OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế): Thương mại
điện tử là việc làm kinh doanh thông qua mạng Internet, bán những hàng hoá và
dịch vụ có thể được phân phối không thông qua mạng hoặc những hàng hoá có thể mã hoá bằng kỹ thuật số và được phân phối thông qua mạng hoặc không thông qua mạng
Định nghĩa của AEC (Hiệp hội thương mại điện tử): Thương mại điện tử là làm
kinh doanh có sử dụng các công cụ điện tử Định nghĩa này rộng, coi hầu hết các
hoạt động kinh doanh từ đơn giản như một cú điện thoại giao dịch đến những trao đổi thông tin EDI phức tạp đều là thương mại điện tử
Trong Luật mẫu về thương mại điện tử, UNCITRAL (Ủy ban của LHQ về thương mại quốc tế) nêu định nghĩa để các nước tham khảo: Thương mại điện tử
là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các phương tiện điện tử, không cần phải in ra giấy bất cứ công đoạn nào của toàn bộ quá trình giao dịch
Kinh doanh điện tử (ebusiness): cũng có nhiều quan điểm khác nhau, về cơ bản kinh doanh điện tử được hiểu theo góc độ quản trị kinh doanh, đó là việc ứng dụng công nghệ thông tin và Internet vào các quy trình, hoạt động của doanh nghiệp
1.2 Tình hình phát triển TMĐT trên thế giới
“Thương mại” được hiểu theo nghĩa rộng bao quát mọi vấn đề nảy sinh từ mọi mối quan hệ mang tính thương mại, dù có hay không có hợp đồng Các mối quan
hệ mang tính thương mại bao gồm, nhưng không chỉ bao gồm, các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hoá hoặc dịch vụ; đại diện hoặc đại lý thương mại; uỷ thác hoa hồng; cho thuê dài hạn; xây dựng các công trình; tư vấn; kỹ thuật công trình; đầu tư cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm; thoả thuận khai thác hoặc tô nhượng; liên doanh và các hình thức khác về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hoá hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ
Mạng trong thương mại điện tử được hiểu là bao gồm các máy tính, máy fax, điện thoại, TV… được kết nối với nhau để trao đổi thông tin dưới dạng điện tử Mục đích của chính phủ điện tử là của dân, do dân và vì dân, có ảnh hưởng mang tính cách mạng đến sức mạnh và sự sống còn của các Chính phủ và nền dân chủ thực sự ở mỗi quốc gia Việc phát triển Chính phủ điện tử theo lộ trình được hoạch định sẽ mở ra khả năng phát huy sự đóng góp trí tuệ của tất cả người dân tham gia vào quá trình thúc đẩy sự phát triển đất nước Chính phủ điện tử sẽ cải thiện chính phủ theo 4 cách thức quan trọng:
Người dân có thể đóng góp ý kiến một cách dễ dàng hơn đối với Chính phủ Người dân sẽ nhận được các dịch vụ tốt hơn từ các cơ quan tổ chức Chính phủ bất kỳ lúc nào, bất kỳ ở đâu (tại nhà, ở công sở, trạm điện thoại…) và vì bất kỳ lý
do gì
Trang 9Giá cả linh hoạt
Trong tương lai, giá hàng hoá trên các site thương mại điện tử sẽ rất năng động Mỗi một khách hàng sẽ trả một giá khác nhau căn cứ trên nhiều nhân tố: Khách hàng đã mua bao nhiêu sản phẩm của công ty trước đây? Khách hàng đã xem bao nhiêu quảng cáo đặt trên trang web của công ty? Khách hàng đặt hàng từ đâu? Khách hàng có thể giới thiệu trang web của công ty với bao nhiêu người bạn của mình? Mức độ sẵn sàng tiết lộ thông tin cá nhân của khách hàng với công ty? Những điều này không khác lắm với một chuyến bay công tác: Trên chuyến bay này, mọi hành khách đều bay trên cùng một chuyến bay từ New York đến San Francisco nhưng trả các mức giá vé khác nhau Chính sách giá của các công ty như Priceline.com và eBay.com hiện đang đi theo xu hướng này
Đáp ứng tức thời
Các khách hàng thương mại điện tử có thể sẽ nhận được sản phẩm mà họ đặt mua ngay trong ngày Một nhược điểm chính của thương mại điện tử doanh nghiệp người tiêu dùng (B2C) là khách hàng trên mạng phải mất một số ngày mới nhận được hàng đặt mua Các khách hàng đã quen mua hàng ở thế giới vật lý, nghĩa là
họ đi mua hàng và có thể mang luôn hàng về cùng họ Họ xem xét, họ mua và họ mang chúng về nhà Hầu hết những hàng hoá bán qua thương mại điện tử (không
kể những sản phẩm kỹ thuật số như phần mềm) đều không thể cung cấp trực tiếp Trong tương lai, các công ty thương mại điện tử sẽ giải quyết được vấn đề này thông qua các chi nhánh ở các địa phương Sau khi khách hàng chọn sản phẩm, các site thương mại điện tử sẽ gửi yêu cầu của người mua tới những cửa hàng gần nhất với nhà hoặc cơ quan của họ Các site thương mại điện tử khác sẽ giao hàng từ một chi nhánh địa phương ngay trong ngày hôm đó Giải pháp này giải quyết được 2 vấn đề đặt ra đối với khách hàng, đó là: Giá vận chuyển cao và thời gian vận chuyển lâu
Đáp ứng mọi nơi, mọi lúc
Trong tương lai, khách hàng sẽ có thể mua hàng ở mọi nơi, mọi lúc Bỏ qua khả năng dự đoán về những mô hình mua Bỏ qua yếu tố về địa điểm và thời gian Xu hướng này sẽ được thực hiện thông qua các thiết bị truy nhập Internet di động Các thiết bị thương mại điện tử di động như những chiếc điện thoại di động đời mới nhất có khả năng truy nhập được mạng Internet được sử dụng hết sức rộng rãi
Trang 1010
Các “điệp viên thông minh”
Những phần mềm thông minh sẽ giúp khách hàng tìm ra những sản phẩm tốt nhất và giá cả hợp lý nhất Những “điệp viên thông minh” oạt động độc lập này được cá nhân hoá và chạy 24 giờ/ngày Khách hàng sẽ sử dụng những “điệp viên” này để tìm ra giá cả hợp lý nhất cho một chiếc máy tính hoặc một chiếc máy in Các công ty sử dụng các “điệp viên” này thay cho các hoạt động mua sắm của con người Ví dụ, một công ty có thể sử dụng một “điệp viên thông minh” để giám sát khối lượng và mức độ sử dụng hàng trong kho và tự động đặt hàng khi lượng hàng trong kho đã giảm xuống ở mức tới hạn “Điệp viên thông minh” sẽ tự động tập hợp các thông tin về các sản phẩn và đại lý phù hợp với nhu cầu của công ty, quyết định tìm nhà cung cấp nào và sản phẩm, chuyển những điều khoản giao dịch tới những người cung cấp này, và cuối cùng là gửi đơn đặt hàng và đưa ra những phương pháp thanh toán tự động
Trang 11Năm 2006 có ý nghĩa đặc biệt đối với thương mại điện tử Việt Nam, là năm đầu tiên thương mại điện tử được pháp luật thừa nhận chính thức khi Luật Giao dịch điện tử, Luật Thương mại (sửa đổi), Bộ luật Dân sự (sửa đổi) và Nghị định Thương mại điện tử có hiệu lực Năm 2006 cũng là năm đầu tiên triển khai Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2006-2010 theo Quyết định số 222/2005/QĐ-TTg ngày 15 tháng 9 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ
Sự phát triển khá ngoạn mục của thương mại điện tử trong năm 2006 gắn chặt với thành tựu phát triển kinh tế nhanh và ổn định Thương mại tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ và là một nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Năm
2006 đánh dấu sự hội nhập kinh tế quốc tế sâu sắc và toàn diện của Việt Nam Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
Việt Nam cũng đã thực hiện tốt vai trò nước chủ nhà của Diễn đàn Hợp tác kinh
tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC), thể hiện cam kết tiếp tục mở cửa nền kinh
tế với thế giới Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi các doanh nghiệp phải quan tâm thực sự đến việc nâng cao khả năng cạnh tranh Trong bối cảnh đó, thương mại điện tử là một công cụ quan trọng được nhiều doanh nghiệp quan tâm ứng dụng
Sự quan tâm của doanh nghiệp đối với thương mại điện tử trước hết được thể hiện qua hoạt động giao dịch mua bán tại các sàn thương mại điện tử (e-Marketplace) sôi động hơn, dịch vụ kinh doanh trực tuyến phong phú và doanh thu tăng mạnh Đồng thời, số lượng các website doanh nghiệp, đặc biệt là website mang tên miền Việt Nam (.vn) tăng nhanh, số lượng cán bộ từ các doanh nghiệp tham gia các khóa đào tạo kỹ năng thương mại điện tử lớn hơn so với năm trước Đông đảo doanh nghiệp đã nhận thấy những lợi ích thiết thực của thương mại điện tử thông qua việc cắt giảm được chi phí giao dịch, tìm được nhiều bạn hàng mới từ thị trường trong nước và nước ngoài, số lượng khách hàng giao dịch qua thư điện tử nhiều hơn Nhiều doanh nghiệp đã ký được hợp đồng với các đối tác thông qua sàn giao dịch thương mại điện tử
Có thể nhận thấy năm nét nổi bật của thương mại điện tử năm 2006 tại Việt Nam như sau
Trang 1212
Thương mại điện tử đã trở nên khá phổ biến
Những hình thức kinh doanh mới trên các phương tiện điện tử liên tục xuất hiện, đặc biệt là dịch vụ kinh doanh nội dung số Mặc dù mới hình thành, nhưng các hoạt động trong lĩnh vực này đã được triển khai rộng khắp và đem lại doanh thu đáng kể Kinh doanh các dịch vụ giá trị gia tăng qua thiết bị di động tăng nhanh, như dịch vụ cung cấp nhạc chuông, hình nền, tra cứu thông tin Kinh doanh trong các lĩnh vực đào tạo trực tuyến, báo điện tử, cơ sở dữ liệu trực tuyến, trò chơi trực tuyến, trò chơi tương tác qua truyền hình, bình chọn kết quả thể thao, xem phim, nghe nhạc trực tuyến cũng tăng trưởng mạnh
Cùng với lượng người sử dụng Internet và thẻ tín dụng tăng nhanh, số lượng người tiêu dùng mua sắm qua mạng tăng lên nhanh chóng, đặc biệt trong giới trẻ
ở khu vực đô thị Tâm lý và thói quen mua bán bắt đầu thay đổi từ phương thức truyền thống sang phương thức mới của thương mại điện tử
Loại hình giao dịch thương mại điện tử doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B) phát triển khá nhanh
Việc tiếp cận Internet qua kết nối băng thông rộng, đặc biệt là ADSL, ngày càng
dễ dàng với chi phí hợp lý và yêu cầu cấp bách phải nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp khi Việt Nam thực sự bước vào sân chơi toàn cầu là hai yếu tố quan trọng thúc đẩy các doanh nghiệp quan tâm tới thương mại điện tử Kết quả điều tra cho thấy có tới 92% doanh nghiệp đã kết nối Internet, trong đó
tỷ lệ kết nối băng thông rộng ADSL lên tới 81% Số doanh nghiệp tham gia các sàn thương mại điện tử B2B của Việt Nam cũng như của nước ngoài tăng rất nhanh Nhiều doanh nghiệp đã tìm được đối tác mới, hợp đồng mới qua các chợ
“ảo” này Việc sử dụng thư điện tử (email) trong giao dịch kinh doanh đã trở nên phổ
Cung cấp trực tuyến dịch vụ công đã khởi sắc
Nhà nước cũng phải thay đổi để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia thông qua quyết tâm hiện đại hoá nền hành chính, xây dựng chính phủ điện tử Các cơ quan nhà nước trong thời gian qua đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giao tiếp với doanh nghiệp và công dân Hầu hết các Bộ ngành và địa phương đã
có website, trên đó cung cấp nhiều thông tin đa dạng và cần thiết cho doanh nghiệp Một số cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương đã bắt đầu cung cấp trực tuyến dịch vụ công ở mức đơn giản như cấp đăng ký kinh doanh điện tử, khai hải quan điện tử, đấu thầu mua sắm công, cấp chứng nhận xuất xứ điện tử Việc ban hành các văn bản thi hành luật giao dịch điện tử diễn ra chậm
Nhiều vấn đề cản trở sự phát triển thương mại điện tử còn tồn tại
Việc rà soát các văn bản pháp luật liên quan tới thương mại điện tử chưa được tiến hành Một số quy định bất hợp lý cho thương mại điện tử đã được doanh nghiệp nhắc tới từ những năm trước vẫn chưa được khắc phục Những quy định
về cấp phép thành lập website hay mua bán tên miền chưa phù hợp với thực tiễn
1 Hiệu quả ứng dụng TMĐT tại các doanh nghiệp đã rõ ràng và có xu hướng ngày càng tăng
Trang 1313
Mảng sáng nhất trong năm 2007 là hiệu quả đầu tư cho thương mại điện tử khá cao và có xu hướng tiếp tục tăng Kết quả điều tra cho thấy trên một phần ba doanh nghiệp có doanh thu nhờ các đơn đặt hàng qua phương tiện điện tử ở mức 15% trở lên so với tổng doanh thu Nếu so sánh tỷ lệ này với tỷ lệ tương ứng 8% của năm 2005 thì có thể thấy rõ các doanh nghiệp đã thực sự quan tâm tới thương mại điện tử và đã biết cách biến những lợi ích tiềm tàng của nó thành hiện thực Tín hiệu lạc quan nhất là có tới 63% doanh nghiệp tin tưởng rằng doanh thu có được từ các đơn đặt hàng sử dụng phương tiện điện tử sẽ tiếp tục tăng
Kết quả trên có mối tương quan mật thiết với tỷ trọng cũng như cơ cấu đầu tư cho thương mại điện tử Một mặt, chi phí đầu tư cho thương mại điện tử tăng mạnh, năm 2007 có tới 50% số doanh nghiệp tham gia điều tra (cao gấp ba lần tỷ
lệ 18% của năm 2005) cho biết đã dành trên 5% tổng chi phí hoạt động để đầu tư cho thương mại điện tử Mặt khác, cơ cấu đầu tư trở nên hợp lý hơn với khoảng một nửa chi phí dành cho phần cứng và một phần năm dành cho đào tạo Cơ cấu đầu tư này cho thấy đã có sự chuyển biến mạnh mẽ từ nhận thức tới triển khai thương mại thương điện tử nếu so sánh với các tỷ lệ tương ứng của năm 2005 Tuy nhiên, tỷ lệ đầu tư cho phần mềm và giải pháp hầu như không thay đổi trong
ba năm qua và chỉ dừng ở mức 23% Rõ ràng, cần phải có sự nỗ lực rất lớn từ nhiều phía để nâng cao tỷ lệ này
Các ứng dụng khác như là Intershop (các ứng dụng này được cung cấp cho một loạt các đối tác đăng cai của Intershop) cho phép bạn thay đổi các mẫu chuẩn thường đi kèm với phần mềm tổng thể, nhờ đó mà bạn có thể tùy biến bộ mặt cửa hàng của bạn Các giải pháp này còn giúp bạn mở rộng các tính năng và hành vi
có sẵn trong mẫu giống như là bạn có thể “nói” được ngôn ngữ ứng dụng của chúng
Trang 1414
Cũng có các giải pháp khác vận hành giống như nền tảng ứng dụng thương mại
điện tử hơn Những giải pháp này bao gồm Site Server Enterprise của Microsoft,
dựa trên công nghệ ASP (Active Server Page) của Microsoft, hay engine ứng dụng Coldfusion với CFML (Coldfusion markup language) của Macromedia, giải
pháp WebSphere của IBM và các
Mở rộng thị trường: Với chi phí đầu tư nhỏ hơn nhiều so với thương mại truyền thống, các công ty có thể mở rộng thị trường, tìm kiếm, tiếp cận người cung cấp, khách hàng và đối tác trên khắp thế giới Việc mở rộng mạng lưới nhà cung cấp, khách hàng cũng cho phép các tổ chức có thể mua với giá thấp hơn và bán được nhiêu sản phẩm hơn
- Giảm chi phí sản xuất: Giảm chi phí giấy tờ, giảm chi phí chia xẻ thông tin, chi phí in ấn, gửi văn bản truyền thống
- Cải thiện hệ thống phân phối: Giảm lượng hàng lưu kho và độ trễ trong phân phối hàng Hệ thống cửa hàng giới thiệu sản phẩm được thay thế hoặc hỗ trợ bởi các showroom trên mạng, ví dụ ngành sản xuất ô tô (Ví dụ như Ford Motor) tiết kiệm được chi phí hàng tỷ USD từ giảm chi phí lưu kho
- Vượt giới hạn về thời gian: Việc tự động hóa các giao dịch thông qua Web và Internet giúp hoạt động kinh doanh được thực hiện 24/7/365 mà không mất thêm nhiều chi phí biến đổi
- Sản xuất hàng theo yêu cầu: Còn được biết đến dưới tên gọi “Chiến lược kéo”, lôi kéo khách hàng đến với doanh nghiệp bằng khả năng đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng Một ví dụ thành công điển hình là Dell Computer Corp
- Mô hình kinh doanh mới: Các mô hình kinh doanh mới với những lợi thế và giá trị mới cho khách hàng Mô hình của Amazon.com, mua hàng theo nhóm hay đấu giá nông sản qua mạng đến các sàn giao dịch B2B là điển hình của những thành công này
- Tăng tốc độ tung sản phẩm ra thị trường: Với lợi thế về thông tin và khả năng phối hợp giữa các doanh nghiệp làm tăng hiệu quả sản xuất và giảm thời gian tung sản phẩm ra thị trường
- Giảm chi phí thông tin liên lạc:
- Giảm chi phí mua sắm: Thông qua giảm các chi phí quản lý hành chính
(80%); giảm giá mua hàng (5-15%)
- Củng cố quan hệ khách hàng: Thông qua việc giao tiếp thuận tiện qua mạng, quan hệ với trung gian và khách hàng được củng cố dễ dàng hơn Đồng thời việc
cá biệt hóa sản phẩm và dịch vụ cũng góp phần thắt chặt quan hệ với khách hàng
Trang 1515
Các phần cứng máy tính và mạng máy tính đang càng ngày càng rẻ, và có tính năng cao Để xây dựng hệ thống TMĐT cần một máy tính có cấu hình mạnh Cần kết nối Internet băng thông rộng Các thiết bị hỗ trợ kết nối Internet như modem, router
Lựa chọn phần mềm:
Chương trình phần mềm cần có các modul tính toán thuế, chọn phương thức vận chuyển, tính toán và lựa chọn các hình thức thanh toán (shopping cart) Sử dụng FTP để upload trang web lên Internet
Telnet để truy cập một máy tính từ xa Các phần mềm hỗ trợ lập trình mạng (PHP, ASP, Java, )
Các phần mềm hỗ trợ tạo đồ họa (flash, photo shop, gifanimation )
2.1.1.2 Cơ sở thanh toán – thanh toán điện tử
Theo báo cáo quốc gia về kỹ thuật Thương mại điện tử của Bộ thương mại,
“thanh toán điện tử theo nghĩa rộng được định nghĩa là việc thanh toán tiền thông
qua các thông điệp điện tử thay cho việc trao tay tiền mặt.”
Theo nghĩa hẹp, thanh toán trong Thương mại điện tử có thể hiểu là việc trả tiền
và nhận tiền hàng cho các hàng hoá, dịch vụ được mua bán trên Internet
Hoàn thiện và phát triển thương mại điện tử
Xét trên nhiều phương diện, thanh toán trực tuyến là nền tảng của các hệ thống thương mại điện tử Sự khác biệt cơ bản giữa thương mại điện tử với các ứng dụng khác cung cấp trên Internet chính là nhờ khả năng thanh toán trực tuyến này Do vậy, việc phát triển thanh toán trực tuyến sẽ hoàn thiện hóa thương mại điện tử, để thương mại điện tử được theo đúng nghĩa của nó – các giao dịch hoàn toàn qua mạng, người mua chỉ cần thao tác trên máy tính cá nhân của mình để mua hàng, các doanh nghiệp có những hệ thống xử lý tiền số tự động Một khi thanh toán trong thương mại điện tử an toàn, tiện lợi, việc phát triển thương mại điện tử trên toàn cầu là một điều tất yếu với dân số đông đảo và không ngừng tăng của mạng Internet
Tăng quá trình lưu thông tiền tệ và hàng hóa
Thanh toán trong thương mại điện tử với ưu điểm đẩy mạnh quá trình lưu thông tiền tệ và hàng hóa Người bán hàng có thể nhận tiền thanh toán qua mạng tức thì, do đó có thể yên tâm tiến hành giao hàng một cách sớm nhất, sớm thu hồi vốn để đầu tư tiếp tục sản xuất
- Nhanh, an toàn
Thanh toán điện tử giúp thực hiện thanh toán nhanh, an toàn, đảm bảo quyền lợi cho các bên tham gia thanh toán, hạn chế rủi ro so với thanh toán bằng tiền mặt,
mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt, tạo lập thói quen mới trong dân chúng
về thanh toán hiện đại
Hiện đại hoá hệ thống thanh toán
Tiến cao hơn một bước, thanh toán điện tử tạo ra một loại tiền mới, tiền số hóa, không chỉ thỏa mãn các tài khoản tại ngân hàng mà hoàn toàn có thể dùng để
Trang 1616
mua hàng hóa thông thường Quá trình giao dịch được đơn giản và nhanh chóng, chi phí giao dịch giảm bớt đáng kể và giao dịch sẽ trở nên an toàn hơn Tiền số hóa không chiếm một không gian hữu hình nào mà có thể chuyển một nửa vòng trái đất chỉ trong chớp mắt bằng thời gian của ánh sáng Đây sẽ là một cơ cấu tiền
tệ mới, một mạng tài chính hiện đại gắn liền với mạng Internet
2.1.1.3 Cơ sở an toàn, bảo mật
- Giảm chi phí tăng hiệu quả kinh doanh
Giảm chi phí văn phòng: Giao dịch qua mạng giúp rút ngắn thời gian tác nghiệp, chuẩn hóa các thủ tục, quy trình, nâng cao hiệu quả tìm kiếm và xử lý chứng từ Giảm chi phí nhân viên: Một máy rút tiền tự động có thể làm việc 24 trên 24 giờ
và tương đương một chi nhánh ngân hàng truyền thống
Cung cấp dịch vụ thuận tiện cho khách hàng: Thông qua Internet/Web Ngân hàng có khả năng cung cấp dịch vụ mới (Internet banking) và thu hút thêm nhiều khách hàng giao dịch thường xuyên hơn, giảm chi phí bán hàng và tiếp thị
Mở rộng thị trường thông qua Internet, ngân hàng thay vì mở nhiều chi nhánh ở các nước khác nhau có thể cung cấp dịch vụ Internet banking để mở rộng phạm
vi cung cấp dịch vụ
- Đa dạng hoá dịch vụ và sản phẩm
Ngày nay, dịch vụ ngân hàng đang vươn tới từng người dân Đó là dịch vụ ngân hàng tiêu dùng và bán lẻ "Ngân hàng điện tử", với sự trợ giúp của công nghệ thông tin cho phép tiến hành các giao dịch bán lẻ với tốc độc cao và liên tục Các ngân hàng có thể cung cấp thêm các dịch vụ mới cho khách hàng như "phone banking", “home banking”, “Internet banking", chuyển, rút tiền, thanh toán tự động
- Nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo nét riêng trong kinh doanh
"Ngân hàng điện tử" giúp các ngân hàng tạo và duy trì một hệ thống khách hàng rộng rãi và bền vững Thay vì phải xếp hàng rất lâu chờ rút tiền tại chi nhánh một ngân khách hàng có thể đi tới một máy rút tiền tự động của một ngân hàng khác
và thực hiện giao dịch trong vài phút Thế mạnh về dịch vụ ngân hàng điện tử cũng là một đặc điểm để các ngân hàng hiện đại tạo dựng nét riêng của mình
- Thực hiện chiến lược toàn cầu hóa
Hạn chế của thanh toán điện tử
*Gian lận thẻ tín dụng
Rủi ro đối với chủ thẻ:
Do tính chất của thẻ tín dụng là không biết được người rút tiền có phải là chủ thẻ hay không mà chủ yếu dựa vào việc kiểm tra số PIN ở trên thẻ nên các chủ thẻ dễ
bị lừa ăn cắp thẻ cùng với số PIN Việc để lộ số PIN có thể là do chủ thẻ vô tình
để lộ hoặc bị ăn cắp một cách tinh vi Bên cạnh đó chủ thẻ còn gặp phải tình trạng làm giả thẻ tín dụng ngày càng tinh vi Việc làm giả thẻ có thể tiến hành theo hai hình thức Đối tượng làm giả thẻ có thể mua chuộc nhân viên tại các cơ
sở chấp nhận thẻ để các nhân viên này sau khi quét thẻ tính tiền sẽ bí mật quét thẻ thêm một lần vào một thiết bị đặc biệt có thể đọc được toàn bộ thông tin về thẻ Sau khi có đầy đủ các thông tin đó chúng sẽ nhanh chóng làm một chiếc thẻ
Trang 1717
tương tự và tiến hành mua bán hàng hoá như bình thường Hình thức thứ hai tinh
vi hơn là chúng sẽ cài thẳng những chip điện tử tinh vi vào trong máy tính tiền hoặc máy rút tiền tự động Sau đó chúng sẽ quay trở lại các địa điểm trên để lấy các con chip đã chứa những thông tin về các thẻ đã giao dịch và tiến hành làm thẻ giả với những thông tin đã lấy cắp được
Rủi ro đối với ngân hàng phát hành:
Rủi ro thứ nhất là việc chủ thẻ lừa dối sử dụng thẻ tại nhiều điểm thanh toán thẻ khác nhau với mức thanh toán thấp hơn hạn mức thanh toán nhưng tổng số tiền thanh toán lại cao hơn hạn mức thanh toán trong thẻ Việc thanh toán quá mức chỉ được biết khi ngân hàng nhận được các hoá đơn thanh toán của các đơn vị chấp nhận thẻ Và khi chủ thẻ không có khả năng thanh toán thì rủi ro này sẽ do ngân hàng tự chịu
Một hình thức lừa dối khác từ phía chủ thẻ là do việc lợi dụng tính chất thanh toán quốc tế của thẻ để thông đồng với người khác chuyển thẻ ra nước khác để thanh toán ngoài quốc gia chủ thẻ cư trú Khi ngân hàng tiến hành đòi tiền từ chủ thẻ cho việc thanh toán ở quốc gia khác thì chủ thẻ căn cứ vào việc mình không
có thị thực xuất nhập cảnh hoặc căn cứ vào xác nhận của cơ quan để từ chối thanh toán Trong khi đó, các đơn vị chấp nhận thẻ cũng không phải chịu trách nhiệm do việc thanh toán bằng thẻ được tiến hành mà không cần biết chủ thẻ là
ai Bằng chứng duy nhất có thể so sánh là căn cứ vào chữ ký trên thẻ và trên hoá đơn nhưng do thông đồng từ trước nên việc giả mạo chữ ký trong các hoá đơn là điều rất dễ dàng
Rủi ro đối với ngân hàng thanh toán:
Tuy chỉ là đơn vị trung gian trong hoạt động thanh toán thẻ song các ngân hàng thanh toán cũng có thể gặp rủi ro nếu họ có sai sót trong việc cấp phép cho các khoản thanh toán có giá trị lớn hơn hạn mức qui định Bên cạnh đó, nếu không kịp thời cung cấp cho các đơn vị chấp nhận thẻ danh sách các thẻ bị mất hoặc bị
vô hiệu mà trong thời gian đó các thẻ này vẫn được sử dụng thì các ngân hàng phát hành sẽ từ chối thanh toán cho những khoản này
Rủi ro cho các đơn vị chấp nhận thẻ:
Rủi ro cho các đơn vị chấp nhận thẻ chủ yếu là bị từ chối thanh toán cho số hàng hoá cung ứng ra vì các lý do liên quan đến thẻ Đó là việc thẻ bị hết hiệu lực nhưng các đơn vị chấp nhận thẻ không phát hiện ra mặc dù đã được thông báo
Tự ý sửa đổi các hoá đơn (vô tình hoặc cố ý) và bị các ngân hàng phát hiện ra thì cũng sẽ không được thanh toán
* Vấn đề bảo mật thông tin
Việc đảm bảo an toàn thông tin tiền gửi và tài sản gửi của khách hàng là nghĩa vụ của các ngân hàng thương mại Việc cung cấp thông tin của khách hàng chỉ được phép diễn ra trong các trường hợp sau: khách hàng yêu cầu hoặc có uỷ quyền cho người khác, phục vụ hoạt động nội bộ của ngân hàng, theo yêu cầu của giám đốc ngân hàng và theo yêu cầu của pháp luật để phục vụ cho quá trình kiểm tra Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, với trình độ khoa học rất phát triển, số lượng các
vụ xâm nhập trái phép vào hệ thống ngân hàng qua mạng Internet ngày càng phát triển và tinh vi thì việc lưu chuyển thông tin của khách hàng qua mạng Internet không còn thực sự an toàn Các ngân hàng có được quyền cung cấp các thông tin
Trang 18Thông tin bị truy cập trái phép trên đường truyền Internet
Bất cẩn của các nhân viên ngân hàng khi thực hiện các yêu cầu bảo mật Bất cẩn
từ chính khách hàng để lộ thông tin trong các giao dịch ngân hàng
Hệ thống máy tính của ngân hàng hoạt động kém hiệu quả hoặc lỗi từ các phần
mềm
2.2.2 Cơ sở hạ tầng về pháp lý
UNCITRAL - Ủy ban của LHQ về Luật Thương mại Quốc tế: đưa ra Luật mẫu
về Thương mại điện tử vào năm 1996 làm khung hướng dẫn cho các nước xây
dựng các đạo luật về thương mại điện tử
OECD - Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế: nghiên cứu, điều tra một số lĩnh
vực của Thương mại điện tử như thuế, bảo vệ người tiêu dùng và riêng tư cá
nhân, tác động của ICT đến tăng trưởng kinh tế
WIPO - Tổ chức Bảo vệ Sở hữu trí tuệ: về các lĩnh vực bản quyền, nhãn hiệu
thương mại và các vấn đề liên quan đến tên miền
ICANN - giải quyết các tranh chấp về tên miền quốc tế WTO - Giải quyết các
vấn đề liên quan đến rào cản thương mại điện tử quốc tế
2.2.2.1 Văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động TMĐT
Tên miền là tên địa chỉ chính của website Một website nhất thiết phải có tên miền (như là địa chỉ nhà, hoặc số điện thoại của công ty) Các doanh nghiệp thương mại điện tử thường đăng kí một tên miền COM hoặc BIZ Vì vậy mà xuất hiện thuật ngữ các công ty dotcom
Nên chọn tên miền dễ nhớ, mô tả được dịch vụ, tính chất kinh doanh của công ty Cũng nên chọn tên miền ngắn gọn, dễ nhớ, không quá khó viết, đặc biệt là với người nước ngoài Một tên miền tưởng như đơn giản với người Việt nam nhưng khó nhớ và khó viết đối với người nước ngoài
Thuê máy chủ (hosting) là thuê dịch vụ lưu trữ website, có nghĩa là một nơi để lưu nội dung website nhằm làm cho bất kỳ ai cũng có thể truy cập vào những nội dung này bất kỳ lúc nào, bất kỳ nơi nào Máy tính lưu những nội dung website này, được gọi là máy chủ (server), phải hoạt động 24/24 Một website nhất định phải có hosting thì mới hoạt động được
Khi mua hosting, cần lưu ý chất lượng hosting như: tỷ lệ % cam kết hoạt động liên tục, không bị sự cố (bởi vì nếu server lưu trữ nội dung website bị sự cố phải ngưng hoạt động thì vào thời điểm đó không ai truy cập được website); hosting
hỗ trợ ngôn ngữ, phần mềm nào; hosting cho phép dung lượng (để chứa dữ liệu)
là bao nhiêu MB hay GB; dung lượng truyền (băng thông) là bao nhiêu MB hay
Trang 1919
GB mỗi tháng (càng nhiều người truy cập website thì dung lượng truyền càng nhiều) Những vấn đề này đôi khi hơi khó hiểu đối với doanh nghiệp, nên cách tốt nhất là doanh nghiệp nên “chọn mặt gửi vàng” nhờ một đơn vị uy tín, chuyên nghiệp để lưu trữ website của mình
2.2.2.2 Cơ sở pháp lý đối với các lĩnh vực liên quan
Nhằm tạo khung pháp lý cho phát triển thương mại điện tử, năm 1996 Uỷ ban Luật Thương mại quốc tế của Liên hợp quốc (UNCITRAL) đã soạn thảo một luật mẫu về thương mại điện tử, hình thành những quy định mẫu về thừa nhận giá trị pháp lý của các thông điệp dữ liệu nhằm bảo vệ về mặt pháp lý cho những tổ chức, cá nhân mong muốn tham gia thương mại điện tử Luật mẫu có thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo cho các nước trong quá trình xây dựng pháp luật
về thương mại điện tử của mình Tinh thần của Luật mẫu là bảo đảm những giao dịch thương mại điện tử được thừa nhận giá trị pháp lý và nếu cần thiết thì sẽ có những hành động thích hợp để tăng cường khả năng thi hành cho những giao dịch bằng phương tiện điện tử Luật mẫu được soạn thảo dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau:
Tài liệu điện tử có thể được coi là có giá trị pháp lý như tài liệu ở dạng văn bản nếu thoả mãn các yêu cầu kỹ thuật nhất định; Tự do thoả thuận hợp đồng; Tôn trọng việc sử dụng tự nguyện phương thức truyền thông điện tử; Giá trị pháp lý của hợp đồng và tính ưu việt của những quy định pháp lý về hình thức hợp đồng; những đòi hỏi đối với hợp đồng để có giá trị pháp lý và khả năng được thi hành phải được tôn trọng; Áp dụng về mặt hình thức hơn là quan tâm tới nội dung : luật chỉ áp dụng đối với hình thức hợp đồng mà không đề cập nội dung, trên cơ
sở phải thoả mãn những đòi hỏi pháp lý nhất định; Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng phải đi trước Nhiều quốc gia đã thể hiện các nguyên tắc và nội dung của luật mẫu UNCITRAL vào hệ thống pháp luật quốc gia của nước mình
số (Bộ Công Thương) phát hành cho thấy, tăng trưởng của thị trường TMĐT Việt Nam đang ở mức cao nhất trong 3 năm trở lại đây
Đặc biệt, vai trò của TMĐT cũng trở nên quan trọng hơn khi tỷ trọng doanh thu
từ TMĐT trên tổng mức bán lẻ hàng hóa cả nước năm 2019 đạt 4,2%, tăng 0,6%
so với năm 2018 Số lượng người tham gia mua sắm trực tuyến trên các nền tảng TMĐT tăng vọt Năm 2019, cả nước có 39,9 triệu người tham gia mua sắm trực tuyến, tăng 11,8% so với năm 2018 và tăng gần gấp đôi chỉ sau 3 năm Giá trị
Trang 202.2.3 Cơ sở hạn tầng nguồn nhân lực
Chương trình phổ biến truyên truyền và đào tạo về thương mại điện tử;
Chương trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật cho thương mại điện tử;
Chương trình cung cấp các dịch vụ công hỗ trợ thương mại điện tử và ứng dụng thương mại điện tử trong mua sắm của chính phủ;
Chương trình phát triển công nghệ hỗ trợ thương mại điện tử;
Chương trình thực thi pháp luật liên quan đến thương mại điện tử;
Chương trình hợp tác quốc tế về thương mại điện tử
2.2.3.1 Chuyên gia Công nghệ thông tin
Doanh nghiệp cũng phải vạch ra sơ đồ nội dung website (còn gọi là sitemap), tức là những thông tin gì mình muốn đưa lên website Cần lựa chọn các dịch vụ được cung cấp trên hệ thống thương mại điện tử Trang chủ (home page) cần phải được tải nhanh, thiết kế đơn giản, hấp dẫn nhưng với đồ họa và văn bản hợp lí Mức tiếp phải có khả năng để nhập thông tin về khách hàng (tên, mật khẩu, số thẻ tín dụng…)
Người duyệt web phải có khả năng kiểm soát hoạt động của trang (ví dụ liên kế với các trang khác, có khả năng undo khi nhập thông tin sai…) Khách hàng cần
dễ dàng tìm thấy sản phẩm trên trang web Trang web phải xử lí được đơn hàng
và gửi yêu cầu về bộ phận đóng gói và vận chuyển một cách nhanh chóng Trang web phải có khả năng tóm tắt các mặt hàng đã đặt mua và phải trình bày được dưới dạng báo cáo có thể in ra được cho khách và có thể in được biên nhận Trang web phải có tính thống nhất và tiêu chuẩn Các thuật ngữ trong các trang khác nhau của một hệ thống phải được hiểu như nhau Các biểu tượng phải trực
Trang 2121
quan, dễ nhớ và không cần giải thích nhiều Các hội thoại cần chứa các thông tin liên quan trực tiếp Tránh các thông tin không cần thiết Các thông báo lỗi phải viết bằng ngôn ngữ dễ hiểu Cần chỉ rõ nguyên nhân gây lỗi và cách khắc phục Cần có mục trợ giúp để khách hàng tìm hiểu cách thức mua hàng, tìm hiểu các điều kiện đăng kí thành viên
Cần phải có khả năng gửi email xác nhận tới khách hàng Máy chủ cơ sở dữ liệu phải cung cấp truy cập an toàn cho các máy trạm Người quản trị hệ thống phải quyết định các vấn đề như hình thức, nội dung trang web, cách quản lí thông tin Người thiết kế catalog phải trình bày các thông tin sao cho thu hút được khách hàng Giỏ hàng (shopping cart) phải có khả năng lưu trữ hàng hóa trong khi khách hàng đang dạo trên cửa hàng ảo Giỏ hàng có thể dễ dàng thêm hàng hóa vào hay bỏ bớt ra khi khách yêu cầu
Hệ thống xử lí đơn hàng phải có khả năng kiểm soát và hoàn thành tất cả các công việc liên quan đến số lượng hàng được đặt, tính toán thuế, chi phí vận chuyển và đưa ra các phương thức thanh toán
2.2.3.2 Cộng đồng người dùng
Internet chính thức xuất hiện tại Việt Nam từ năm 1997 Sau 15 năm, Internet đã thâm nhập sâu sắc và toàn diện vào mọi lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội Trên nền tảng công nghệ Internet, thương mại điện tử ở Việt Nam đã hình thành và phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây
Kết quả điều tra sơ bộ tình hình ứng dụng thương mại điện tử tại các doanh nghiệp phục vụ Chương trình Chỉ số thương mại điện tử 2012 cho thấy hầu hết các doanh nghiệp đã sử dụng email trong hoạt động kinh doanh với các mục tiêu chủ yếu là quảng bá, giới thiệu doanh nghiệp, trao đổi thông tin kinh doanh và chăm sóc khách hàng Trên 90% doanh nghiệp tham gia điều tra có website và 40% doanh nghiệp tham gia các sàn thương mại điện tử Hoạt động kinh doanh trên các website liên tục tăng về chất lượng với 36% các website cho phép đặt hàng trực tuyến, 60% doanh nghiệp cho biết tham gia các sàn thương mại điện tử mang lại hiệu quả cao
2.2.4 Cơ sở hạ tầng văn hóa xã hội
Tuy nhiên, các hạ tầng dịch vụ hỗ trợ cho TMĐT hiện nay như hạ tầng hóa đơn và chứng từ điện tử, hạ tầng thanh toán, hạ tầng logistics còn thiếu đồng bộ
và thiếu tính kết nối Đặc biệt, hạ tầng logistics chưa hoàn thiện, thiếu vắng các nhà cung cấp chuyên nghiệp dịch vụ chuyển phát, hoàn tất đơn hàng cho TMĐT, giá thành dịch vụ cao chưa đáp ứng nhu cầu người sử dụng Kết quả khảo sát của
Bộ Công Thương cho thấy, 40% khách hàng tham gia TMĐT trả lời khâu vận chuyển và giao hàng còn chậm, không chuyên nghiệp
Để đáp ứng xu thế phát triển của TMĐT, Bộ Công Thương cho rằng, các hạ tầng phụ trợ liên quan cần phải được phát triển song song, tương xứng Trong đó,
hạ tầng pháp lý về TMĐT cần liên tục cập nhật để điều chỉnh một cách toàn diện, theo kịp thực tiễn các mô hình và hoạt động TMĐT khác nhau Hệ thống thanh
Trang 2222
toán TMĐT quốc gia cần hoàn thiện, tích hợp các giải pháp thanh toán đảm bảo
sử dụng rộng rãi cho các mô hình TMĐT doanh nghiệp - người tiêu dùng (B2C), doanh nghiệp - doanh nghiệp (B2B), Chính phủ - người dân (G2C), Chính phủ - doanh nghiệp (G2B)
2.2.4.1 Hạ tầng kinh tế, chính trị
Khái niệm của cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội trong hoạt động thương mại điện tử Hạ tầng cơ sở của thương mại điện tử là một tổng hoà nhiều vấn đề có liên quan tiếp đến thương mại điện tử như: chuẩn mực về thanh toán,
về vận chuyển, Nghĩa là chi phí trang bị các phương tiện công nghệ thông tin
và chi phí dịch
Hạ tầng chứng từ điện tử là một yếu tố còn thiếu của nền tảng TMĐT hiện nay, vì vậy cần xây dựng để hỗ trợ việc trao đổi, lưu trữ, tra soát trên phạm vi toàn quốc với sự tham gia của lực lượng quản lý thị trường và các cơ quan quản
lý, thanh tra liên ngành khác nhằm thuận lợi hóa hoạt động lưu thông hàng hóa Đối với hạ tầng chuyển phát/logistic, do TMĐT có những đặc thù riêng, các doanh nghiệp chuyển phát phải giải quyết bài toán tối ưu hóa khác rất nhiều so với mô hình logistic truyền thống Trong đó, bao gồm việc ứng dụng công nghệ
và giải quyết tính cá thể hóa của các đơn hàng nhỏ lẻ chứ không chỉ là độ phủ hoặc khả năng lưu chuyển khối lượng hàng hóa lớn Hạ tầng chuyển phát cho TMĐT phải chú trọng giải quyết được yếu tố thời gian, quy trình đóng gói, bảo đảm mẫu mã và chất lượng sản phẩm, đặc biệt là khả năng giải quyết khâu hậu cần hoàn tất đơn hàng cho các nhà sản xuất với xu hướng nhà sản xuất sẽ trực tiếp bán và phân phối sản phẩm đến người tiêu dùng
Ngoài ra, hạ tầng an toàn, an ninh cho TMĐT cũng cần củng cố với việc thiết lập các hệ thống quản lý, giám sát giao dịch TMĐT; đánh giá tín nhiệm các website TMĐT và chứng thực chứng từ điện tử; các cơ chế giải quyết tranh chấp
và xử lý vi phạm trong TMĐT…/
2.2.4.2 Hạ tầng văn hóa, xã hội
TMĐT liên quan đến công nghệ thông tin, công nghệ viễn thông, mạng internet; công nghệ điện tử, điện lực cùng với hệ thống đào tạo, tiêu chuẩn công nghệ, nên kết cấu hạ tầng cho TMĐT gắn với kết cấu hạ tầng cho các lĩnh vực nói trên
Kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin, công nghệ viễn thông và mạng internet là
ba điều kiện tiên quyết bảo đảm các dịch vụ thích hợp để phát triển TMĐT Đồng thời, cần kết cấu hạ tầng công nghệ điện tử để tạo ra các thiết bị điện tử - tin học
- viễn thông và điện lực cung cấp điện năng đầy đủ, ổn định, rộng khắp cho các phương tiện trên hoạt động
Kiến thức về TMĐT; tạo môi trường pháp lý; xây dựng kết cấu hạ tầng cho TMĐTvà quản lý các giao dịch TMĐT để bảo vệ lợi ích của người tham gia
mà còn phải phát triển các dịch vụ công nhằm thúc đẩy sự phát triển của TMĐT
Đẩy mạnh cung cấp các dịch vụ công như hải quan điện tử; kê khai thuế
và nộp thuế, làm các thủ tục xuất, nhập khẩu; đăng ký kinh doanh và các loại