Nhận thấy sự cần thiết của vấn đề này và xu hướng phát triển trong tương lại của thương mại điện tử trên thế giới cũng như ở Việt Nam em chọn đề tài này để làm đề tài báo cáo thực tập củ
Trang 1DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
tâm Thương mại Quốc tế
chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
Property Rights: Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ
ban Liên Hiệp Quốc về Luật Thương mại quốc tế
thế giới
Trang 2MỤC LỤC
Phần mở đầu Trang 1 I) Khái niệm về Thương mại điện tử và Thương mại quốc tế và mối quan hệ giữa chúng Trang 3 1.1 Thương mại điện tử là gì? Trang 3
1.1.1 Định nghĩa Trang 3 1.1.2 Phân loại Thương mại điện tử Trang 3 1.1.3 Quá trình hình thành và phát triển Trang 5
1.2 Thương mại quốc tế là gì? Trang 6
1.2.1 Định nghĩa Trang 6 1.2.2 Quá trình hình thành và phát triển Trang 7
1.3 Mối quan hệ và vai trò của Thương mại điện tử với Thương mại quốc tế
……… Trang 8
1.4 Các vấn đề pháp lý và cơ sở pháp lý Trang 10
1.4.1 Các vấn đề pháp lý Trang 10 1.4.2 Cơ sở pháp lý Trang 14
II) Thực tiễn và xu hướng của hoạt động TMĐT trong môi trường thương mại quốc tế Trang 17 2.1 Thực tiễn và xu hướng của hoạt động Thương mại điện tử trong môi trường Thương mại quốc tế Trang 17
2.1.1 Thực tiễn và xu hướng trên thế giới Trang 17 2.1.2 Thực tiễn và xu hướng ở Việt Nam Trang 19
2.2 Kiến nghị, đề xuất hướng giải quyết Trang 21 III) Lời kết Trang 23 Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 3Nhận thấy sự cần thiết của vấn đề này và xu hướng phát triển trong tương lại của thương mại điện tử trên thế giới cũng như ở Việt Nam em chọn đề tài này để làm đề tài báo cáo thực tập của mình;
- Tình hình nghiên cứu đề tài:
Có rất nhiều bài nghiên cứu bằng tiếng Anh và tiếng Việt về đề tài này, trong khả năng và sự cố gắng của mình, em đã cố gắng để sưu tầm, nghiên cứu, học hỏi rồi thực hiện bài báo cáo này;
- Mục đích, đối tượng nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu:
Mục đích của đề tài nghiên cứu này là để nhằm nhìn lại và đánh giá thực tiễn hoạt động thương mại điện tử trong bối cảnh thương mại quốc tế và từ đó đưa ra những định hướng mang tính chủ quan;
Đối tượng nghiên cứu là hoạt động TMĐT trong môi trường thương mại quốc tế;
- Các phương pháp tiến hành nghiên cứu:
Sưu tầm tài liệu, đọc – hiểu, sàng lọc, dịch tài liệu bài giảng, bài viết, từ tiếng Anh sang tiếng Việt;
- Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài:
Đề tài này có ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng, có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo để học tập, nghiên cứu chuyên sâu hơn;
- Bố cục của Báo cáo:
Bố cục của báo cáo gồm có ba phần Phần thứ nhất giới thiệu các khái niệm TMĐT và thương mại quốc tế, sự tương quan, các vấn đề pháp lý và cơ sở pháp lý của
Trang 4chúng Phần thức hai tìm hiểu về thực tiễn và xu hướng của hoạt động TMĐT trong môi trường thương mại quốc tế Phần cuối là lời kết
Trang 5I) Khái niệm về Thương mại điện tử và Thương mại quốc tế và mối quan hệ giữa chúng
1.1 Thương mại điện tử là gì?
1.1.1 Định nghĩa
Tổ chức WTO định nghĩa “Thương mại điện tử” là: một khu vực thương mại trong môi trường điện tử mà ở đó xảy ra sự chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa Nói rộng ra, đây
là sự sản xuất, quảng bá, bán và phân phối sản phẩm thông qua các mạng lưới viễn thông
Ví dụ rõ ràng nhất của hàng hóa được phân phối trong môi trường điện tử đó chính là sách, nhạc, video được truyên tải xuống các thiết bị thông qua Internet 1
Đạo luật Thương mại điện tử của Canada năm 2000 định nghĩa “điện tử” bao gồm các nội dung được tạo ra, ghi lại và truyền tải đi hoặc được lưu trữ ở dạng số hoặc dưới các dạng khác bằng phương tiện điện tử, từ, quang hoặc bằng bất cứ phương tiện nào có khả năng tạo, ghi, truyền và lưu tương tự 2Từ đó có thể suy ra TMĐT là hoạt động mua bán diễn ra trên môi trường với các nội dung giao dịch tồn tại ở các dạng nội dung như trên
Có một định nghĩa đơn giản hơn rằng TMĐT là việc tiến hành công việc kinh doanh trên môi trường Internet (trực tuyến) Việc bán hàng hóa theo lối truyền thống hoàn toàn
có thể thực hiện được trên môi trường điện tử nhờ vào việc ngôn ngữ lập trình có thể tạo ra các công cụ giúp trưng bày sản phẩm, đặt hàng, quản lý, lưu kho sản phẩm cho một website TMĐT Việc thanh toán trực tiếp trên các website này cũng có thể được thực hiện được khi website liên kết các hệ thống thanh toán trực tuyến với các ngân hàng hay các trang web
hỗ trợ thanh toán trung gian
1.1.2 Phân loại Thương mại điện tử
Khái niệm TMĐT bao gồm các hoạt động kinh doanh giữa các doanh nghiệp với nhau (business-to-business, viết tắt là B2B), doanh nghiệp với người tiêu dùng (business- to-consumer, viết tắt là B2C), giữa các công ty và chính phủ (business-to-government, viết tắt là B2G), giữa những người tiêu dùng với nhau (consumer-to-consumer, viết tắt là C2C),
1 http://www.wto.org/english/thewto_e/whatis_e/tif_e/bey4_e.htm
2 Đạo luật Thương mại điện tử năm 2000 của Canada, Phần chung, Các định nghĩa - http://www.e-
laws.gov.on.ca/html/statutes/english/elaws_statutes_00e17_e.htm
Trang 6TMĐT trên thiết bị di động (mobile e-commerce) 3 Phổ biến nhất trong các hình thức TMĐT là B2B và B2C
Hình thức TMĐT B2B là hoạt động TMĐT diễn ra, liên quan tới các mối quan hệ giữa các công ty với nhau Khoảng 80% hoạt động TMĐT thuộc loại B2B và được cho là
sẽ còn tiếp tục phát triển Thị trường B2B có hai thành phần chính đó là cơ sở hạ tầng điện
tử (e-frastructure) – các thành phần, chức năng của một website TMĐT cùng các nhà cung cấp các dịch vụ liên quan và các thị trường điện tử (e-markets) – chính là các website TMĐT hoàn chỉnh, có đầy đủ các chức năng, cho phép người bán và người mua tương tác với nhau, tạo ra các giao dịch 4
TMĐT B2C là hoạt động TMĐT giữa các công ty và người tiêu dùng, ở đó diễn ra hoạt động thu thập thông tin, đặt mua sản phẩm (cả sản phẩm bình thường và các phẩm
“số” như ebook, phần mềm máy tính), nhận sản phẩm của người tiêu dùng B2C phổ biến chỉ sau B2B
Ngoài việc phân loại các hoạt động thương mại điện tử như trên, trong nội hàm hoạt động thương mại điện tử cũng còn rất nhiều những phân loại nhỏ liên quan khác Ví dụ như việc phân loại website liên quan đến hoạt động thương mại điện tử, ở Việt Nam, việc phân loại website chỉ được quy định mới đây trong Nghị định 52/2013/NĐ-CP của Chính phủ
về Thương mại điện tử, theo đó có các loại website sàn giao dịch thương mại điện tử, website đấu giá trực tuyến, website khuyến mại trực tuyến và các loại website khác do Bộ Công thương quy định 5 Trong đó hình thức website khuyến mại trực tuyến (coupon) là loại hình website mới xuất hiện và trở thành một hiện tượng ở Việt Nam những năm gần đây, nhận thức được sự cần thiết phải đặt dưới sự quản lý, giám sát của Nhà nước nên đã được đưa vào văn bản quy phạm pháp luật
TMĐT là việc mua/bán hàng hóa, dịch vụ hoặc các giao dịch tài chính khác thông qua việc sử dụng công nghệ thông tin hay công nghệ số ở các địa điểm khác nhau.6
3 http://www.umsl.edu/~siegelj/Course5890/definitions.html - Bài giảng của nguyên giáo sư Khoa Toán
và Khoa học máy tính, trường Đại học University of Missouri - St Louis, Mỹ
4 Bài nghiên cứu “Thương mại điện tử và Kinh doanh điện tử”, 2003, tác giả Zorayda Ruth Andam, sinh viên Luật trường Đại học Philippines, cử nhân Kinh tế trường Đại học Philippines
5 Khoản 2, Điều 25, Nghị định 52/2013/NĐ-CP của Chính phủ về Thương mại điện tử
6 http://www.cric.ac.uk/cric/compprojects/e-commerce/definition.htm - Công trình của Viện nghiên cứu Sáng tạo và Phát triển Manchester, Anh
Trang 7Quá trình diễn ra một giao dịch TMĐT có thể được chia thành các giai đoạn Các giai đoạn này bao gồm (có thể không theo trình tự này): có ý định mua một món hàng hay sử dụng một dịch vụ, tìm hiểu và tiếp cận thông tin về dịch vụ/hàng hóa đó, lựa chọn giữa các hàng hóa/dịch vụ cùng loại, ra quyết định mua, đặt hàng, nhận hàng và chi trả
Thường trong TMĐT, việc chi trả cũng có thể tiến hành qua các công cụ trực tuyến nhưng cũng có thể được tiến hành thông qua ngân hàng bằng các thông tin cần thiết để giao dịch và xác nhận giao dịch mà các bên cung cấp cho nhau hoặc cả việc chi trả trực tiếp Do đó mà phương thức chi trả không phải là một đặc điểm đặc thù của TMĐT
“Công nghệ thông tinh hay công nghệ số” như trong định nghĩa bao gồm các máy tính
và thiết bị hỗ trợ, các chip vi xử lý được gắn trong các loại thẻ thanh toán, v.v…
Nói “ở địa điểm khác nhau” để phân biệt với các hình thức mua hàng có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin nhưng ở trong phạm vi của một cửa hàng hay siêu thị
1.1.3 Quá trình hình thành và phát triển 7
Những năm gần đây, thuật ngữ “Thương mại điện tử” xuất hiện rất nhiều trên các mặt báo, trong các bài học, xuất hiện môn học và giáo trình môn học về TMĐT, hưng trên thực tế, TMĐT đã xuất hiện từ rất lâu trước đây
Nhu cầu về TMĐT bắt đầu xuất hiện khi trong các hoạt động kinh doanh, hoạt động quản lý kinh doanh cảm thấy sự cần thiết phải áp dụng công nghệ thông tinh, tối ưu việc
sử dụng máy tính để cải thiện các khâu trong kinh doanh, tương tác với khách hàng và để trao đổi thông tin giữa các bên trong kinh doanh, giữa người tiêu dùng với nhau, v.v
Vào những năm 1970, phương thức chuyển tiền thông qua mạng điện tử có bảo mất giữa các ngân hàng ra đời và làm thay đổi thị trường tài chính trên toàn thế giới Cũng từ phương thức chuyển tiền qua mạng đã mà sinh ra các hình thức thanh toán trực tuyến dựa vào thông tin của người tiêu dùng cung cấp, ví dụ như thanh toán bằng thẻ tín dụng
Cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980, TMĐT trở nên phổ biến trong nội
bộ các công ty dưới các hình thức thư điện tử hay trao đổi thông tin điện tử (Electronic Data Exchange - EDI) Chúng giúp giảm bớt các khâu trao đổi thông tin trực tiếp, khâu
7 Tham khảo tài liệu Electronic Commerce: A Manager's Guide (1997) của tác giả Ravi Kalakota và Andrew B Whinston, nhà xuất bản Addison-Wesley Professional Trang 5
Trang 8giấy tờ giữa bên bán và bên mua trong kinh doanh cũng như giữa các bộ phận trong một công ty như đặt lệnh mua/bán, các văn bản liên quan đến chuyển/nhận tiền hay hàng hóa,
từ là trên giấy thông thường chuyển thành trên máy tính, dưới dạng văn bản điện tử, có thể gửi/nhận trong vài giây và từ đó giúp nâng cao tính chủ động, tăng đáng kể hiệu quả công việc
Cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990, các công nghệ hỗ trợ tin nhắn điện
tử trở thành một phần không thể thiếu của các hệ thống máy tính trong các công ty
Giữa những năm 1980, một công cụ hỗ trợ TMĐT mới xuất hiện giúp cho việc tương tác xã hội (như các chat room) và chia sẻ thông tin (như các website tổng hợp tin tức) Tương tác xã hội nhen nhóm cho việc hình thành các cộng động ảo giữa những người trên không gian số và tạo thành khái niệm về việc "kết nối toàn cầu" Cũng trong thời điểm này, việc tiếp cận và trao đổi thông tin dần trở nên dễ dàng hơn, thông qua Internet, con người có thể liên lạc với nhau trên phạm vi toàn cầu và với chi phí phải bỏ ra ngày càng giảm Mặc dù trên thực tế, Internet và các mạng lưới nói trên đã xuất hiện nhưng một yếu
tố then chốt lúc đó đối với chúng chính là tính hữu dụng và tính dễ sử dụng
Trong những năm 1990, World Wide Web phát triển và nhanh chóng lan rộng ra toàn cầu, giúp tạo ra một bước ngoặt trong TMĐT khi là nền tảng giúp đơn giản hóa rất nhiều việc đăng tải và truyền thông tin Nó khiến nhiều người sử dụng TMĐT với mục đích kinh doanh hơn khi giúp tiết kiệm được nhiều chi phí, và từ đó cũng phát sinh ra thêm nhiều loại hình hoạt động kinh doanh hơn Người tiêu dùng khắp nơi trên thế giới có thể tham gia vào việc mua bán bằng cách truy cập vào các trang web TMĐT chỉ với một chiếc máy tính, modem để kết nối Internet, tài khoản để kết nối Internet (vào thời điểm đó), vì vậy đây là một môi trường cạnh tranh công bằng với các công ty dù lớn hay nhỏ và những ai không muốn đi sau thời đại phải nhanh chóng bắt kịp xu hướng này
1.2 Thương mại quốc tế là gì?
1.2.1 Định nghĩa
Lý thuyết kinh tế cho rằng lợi thế so sánh chính là động cơ của thương mại quốc tế Lợi thế so sánh chỉ khả năng sản xuất của một sản phẩm với chi phí thấp hơn so với sản xuất các sản phẩm khác, là cơ sở để các nước buôn bán với nhau và là cơ sở để thực hiện phân công lao động quốc tế Lợi thế so sánh của một quốc gia về sản xuất một sản phẩm nếu như việc sản xuất ra sản phẩm đó có năng suất lao động tương đối cao hơn hay chi phí
Trang 9cơ hội thấp hơn so với quốc gia khác 8 Có thể hiểu phạm trù tạo nên lợi thế so sánh chính
là giá trị mà giá trị đó được xác định bằng nhu cầu đối với loại một loại hàng hóa của quốc gia
Vậy có thể nói rằng thương mại quốc tế hình thành khi các quốc gia dư thừa một loại hàng hóa khi nó là thứ mà các quốc gia khác đang cần hay thiếu 9
Xét về mặt ngữ nghĩa, “Quốc tế” được định nghĩa là: bao gồm các giao dịch hoặc các mối quan hệ giữa các quốc gia Còn “Thương mại” là: trao đổi, mua bán hàng hóa, dịch
vụ, tài sản, v.v… giữa các cá nhân hoặc tổ chức với cá nhân hoặc tổ chức khác; là xuất khẩu và/hoặc nhập khẩu; là khối lượng hoặc giá trị của hoạt động xuất khẩu/nhập khẩu 10
Từ đó ta có thể hiểu thương mại quốc tế là việc các cá nhân, tổ chức tại một quốc gia thực hiện trao đổi, mua bán hàng hóa, dịch vụ, v.v với một cá nhân, tổ chức của một quốc gia khác
1.2.2 Quá trình hình thành và phát triển
Thương mại quốc tế trên thực tế đã xuất hiện từ rất lâu đời, trải qua các thời kì
cổ đại, trung đại, cận đại, hiện đại, v.v… cho đến ngày hôm nay Lịch sử có ghi lại một nhóm người Assyrian ở Kanesh, Cappadocia được coi là thương gia, những người buôn bán từ quốc gia này qua quốc gia khác, chính là thương mại quốc tế, từ thời kì cổ đại, vào khoảng thế kỷ thứ 19 trước Công nguyên Dần dần qua thời gian, khi ngày càng có nhiều món đồ có giá trị xuất hiện và con người cũng dần ý thức được giá trị của đồng tiền, thương mại quốc tế cũng theo đó phát triển lên 11
Từ những mối thương lái buôn bán xuyên quốc gia, phục vụ cho mục đích cá nhân, cho đến ngày hôm nay, ở nhiều nước, thương mại quốc tế đã đóng góp một phần lớn vào tổng sản phẩm nội địa (GDP) Năm 2010, giá trị mà thương mại quốc tế tạo ra khoảng 19 nghìn tỷ USD chiếm khoảng 30% GDP của toàn thế giới Điều này cũng có
8 Bài tham luận “Lý thuyết lợi thế so sánh và gợi ý đối với Việt Nam trong bối cảnh phát triển hiện nay” của PGS.TS Nguyễn Xuân Thiên tại Hội thảo quốc gia Các lý thuyết kinh tế trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu và thực tiễn ở Việt Nam
9 Essential International Trade Law (2002), tác giả Michelle Sanson, nhà xuất bản Cavendish,
Trang 10nghĩa là khoảng 1/3 lượng hàng hóa và dịch vụ sản xuất ra được trên toàn thế giới là đối tượng của hoạt động thương mại quốc tế
Theo tổ chức Global Policy Forum thì đến năm 2030, 60% của nền kinh tế toàn cầu sẽ tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế Dự đoán này hoàn toàn có cơ sở khi hiện nay mỗi quốc gia trên thế giới đều là thành viên của ít nhất là một hiệp ước thương mại thế giới Theo chiều hướng này, kinh tế của mỗi quốc gia sẽ ngày càng chịu ảnh hưởng của kinh tế toàn cầu Những tác động đó là mức lương, thu nhập, việc làm, tốc
độ phát triển, được quyết định bởi cả chính sách của quốc gia và vị trí của quốc gia đó trong nền kinh tế toàn cầu 12
1.3 Mối quan hệ và vai trò của Thương mại điện tử với Thương mại quốc
tế
Nền kinh tế thế giới hiện nay chịu tác động của sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin, nhiều người còn gọi đó là một cuộc cách mạng, và sự mở rộng của hoạt động thương mại quốc tế Internet đang dần tạo ra các mô hình kinh doanh mới trên toàn cầu và tạo ra các khái niệm, phạm trù hoàn toàn mới, khác xa truyền thống.13
TMĐT với hình thức mua bán, giao dịch thông qua các thiết bị điện tử, viễn thông và môi trường mạng máy tính Internet có thể phá bỏ được rào cản về không gian, thời gian và khoảng cách địa lý, giúp đẩy nhanh quá trình giao thương vì các khâu chọn mặt hàng, đặt hàng, thanh toán … có thể diễn ra chi trong một thời gian rất ngắn nhờ vào sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và Internet, từ đó tạo điều kiện cho hoạt động thương mại quốc tế được diễn ra liên tục và suôn sẻ, tạo đà phát triển không ngừng về
số lượng và chất giao dịch
Các thiết bị điện tử và Internet có thể làm các bước của một giao dịch trở nên dễ dàng hơn, nhanh hơn và bớt tốn kém hơn Việc thu thập thông tin từ người tiêu dùng trong nước, và đặc biệt là ngoài nước được xem là việc làm hết sức tốn kém và là một rào cản trong kinh doanh của nhiều doanh nghiệp Bên cạnh đó việc lựa chọn nhà cung cấp, xác định chất lượng và yêu cầu của sản phẩm, thương thuyết giá, quản cáo sản
12 “The Concept Foreign Investor in International Trade Law”, tác giả Alireza Hasani & Elnaz
Shahbazzdeh, in trong Journal of Social Issues & Humanities, Tập 1, Quyển 7, tháng 12/2013, ISSN 2345-2633
13 Federal Commission on Internet Taxation (1999), nguyên Thống đốc bang Virginia, Mỹ James S Gilmore, III
Trang 11phẩm cũng là những công đoạn cần thiết và khá tốn kém Nhưng nhờ vào Internet và các thiết bị điện tử, các ứng dụng, phần mềm hỗ trợ hoạt động TMĐT như đã đề cập ở phần 1.1 các hoạt động trên sẽ có thể được diễn ra giữa người bán và người mua mà không cần tương tác trực tiếp Các chuyên gia cho rằng tác động tích cực của TMĐT lên thương mại quốc tế cũng giống như việc các quốc gia tháo dỡ bớt các hàng rào thương mại khi giao thương với quốc gia khác
Sử dụng TMĐT trong thương mại quốc tế sẽ giúp tiết kiệm được rất nhiều thời gian và chi phí khi mỗi bên có thể chỉ ngồi ở một chỗ để thực hiện các giao dịch hoàn chỉnh, hoặc các bước của giao dịch như xem hàng, đặt hàng, đàm phán trước khi giao kết, v.v… thông qua thiết bị có kết nối Internet Ví dụ về một việc có nhiều loại chi phi được giảm một cách triệt để, thâm chí không tốn là những loại hàng hóa của TMĐT như sách, báo, tạp chí điện tử, các bài hát, album nhạc, v.v… chỉ tồn tại ở dạng “số” và
do đó sẽ không tốn chi phí vận chuyển
Các nước đang phát triển có tốc độ lan rộng của Internet cao thì có mức xuất khẩu hàng hóa đến các nước phát triển cao hơn những nước đang phát triển khác, những nước có Internet ít phổ biến hơn Ở những nước đang phát triển đó, việc kinh doanh kết hợp TMĐT sẽ tạo điều kiện cạnh tranh và thu lợi nhuận hơn hẳn khi chỉ sử dụng hình thức kinh doanh truyền thống, nó cũng giúp tạo ra các cơ hội giao thương với cả các doanh nghiệp, cá nhân nước ngoài, tạo ra nguồn thu lớn và đa dạng hơn
Theo xu hướng phát triển không ngừng của công nghệ thông tin trong thập niên vừa qua ta có thể nói rằng TMĐT đã, đang và sẽ là một phần và đồng thời là một công
cụ, phương tiện không thể thiếu để thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển
Nhìn chung, TMĐT có ảnh hưởng nhiều mặt đến thương mại quốc tế, đó là đầu
ra của sản phẩm, giá của sản phẩm, lợi nhuận của các công ty, xuất khẩu và nhập khẩu của quốc gia và toàn thế giới, v.v… Với sự phát triển và ảnh hưởng ngày càng sâu rộng của TMĐT tới các thị trường trên thế giới, lượng sản phẩm được bán ở trong nước và ngoài nước, lượng hàng xuất khẩu và nhập khẩu, tổng số đầu ra của sản phẩm cũng
Trang 12được tăng kên đáng kể; các con số về lợi nhuận có sự tăng lên đáng kể qua mỗi thời kì phát triển của TMĐT.14
1.4 Các vấn đề pháp lý và cơ sở pháp lý
1.4.1 Các vấn đề pháp lý 15
Lừa đảo trong TMĐT nhất là trong bối cảnh thương mại quốc tế, khi người mua
và người bán ở hai nước khác nhau là điều hoàn toàn có thể xảy ra Các tổ chức WTO
và EU đã sớm tiên đoán về sự phát triển của TMĐT và đã bắt đầu nghiên cứu tiềm năng cũng như các vấn đề TMĐT có thể gặp phải 16
Họ đưa ra một vài ví dụ:
- Tính bảo mật của dữ liệu, tính bảo mật của giao dịch
- Sự riêng tư của khách hàng
- Quyền sở hữu trí tuệ
- Luật và hệ thống luật điều chỉnh
- Quy định về chuẩn mực; v.v…
Cũng như một hợp đồng hay các vấn đề dân sự thương ngày, TMĐT và thương mại quốc tế cũng cần có khung pháp lý để điều chỉnh vì bản thân mỗi hoạt động này luôn tiềm ẩn các vấn đề pháp lý cần được chuẩn bị để giải quyết
Vấn đề đầu tiên cần được nói đến là liệu một giao dịch có phải là đối tượng điều chỉnh của luật pháp hay không bởi trên thực tế trong TMĐT và thương mại quốc tế có đa dạng các loại giao dịch, hay là một giao dịch bị vô hiệu Tiếp đến, nếu giao dịch đó là hợp pháp và được pháp luật điều chỉnh thì ta xét đến việc giao dịch đó có thể là đối tượng điều chỉnh của nhiều hệ thống pháp luật và văn bản pháp luật khác nhau, điều này dễ dẫn đến sự không chắc chắn và bối rối khi có bất kì bất đề pháp lý nào phát sinh, họ phải xác định xem liệu hệ thống pháp luật nào được áp dụng và văn bản pháp luật nào
14 Impact of e-Commerce on International Trade—Based on a Iceberg Cost Model của các tác giả HE Yong, LI Jun-yang, WU Xue-pin và JIANG Jiao-jiao, in trong International Journal of Trade,
Economics and Finance, Vol 2, No 3, Tháng 6, 2011
15 Tham khảo bài giảng INTERNET COMMERCE & TRADE POLICY: International Initiatives for E-Trade của Giáo sư Stuart S Malawer, chuyên ngành Luật và Thương mại quốc tế trường Đại học George Mason
16 http://www1.american.edu/ted/class/karin/karin1.htm - The Growth of E-Commerce in International Trade and its Possible Effects on the Environment, tác giả Eric Letvin, America University,
Washington DC
Trang 13được áp dụng là đúng giữa rất nhiều những sự lựa chọn, đòi hỏi phải có kiến thức chuyên môn, khả năng phân tích
Khác biệt về hệ thống pháp luật điều chỉnh do khác biệt vị trí địa lý còn có thể dẫn đến việc khi một tranh chấp xảy ra thì pháp luật của một bên không thể điều chỉnh được vì thiếu quy định điều chỉnh hoặc không thể bắt buộc chủ thể của nước khác thực hiện vì không đủ thẩm quyền
Sự khác biệt ở các quy định liên quan đến TMĐT và thương mại quốc tế và một
số quy định mang tính chất gây khó khăn cho các giao dịch dẫn đến tình trạng pháp luật quốc gia sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng và cả số lượng của các giao dịch Đây là một vấn đề cần được các nhà làm luật ở các nước hay ở các tổ chức, hiệp hội kinh tế của các quốc gia cần ngồi lại để bàn bạc và đưa ra giải pháp, tránh làm ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế lâu dài của thế giới
Trước khi một giao dịch bắt đầu, vấn đề được quan tâm nhất chính là hợp đồng,
và trong TMĐT thì đó chính là hợp đồng điện tử Khi bạn đưa ra quyết định mua sản phẩm và thanh toán, đó chính là thời điểm mà hợp đồng được chính thức có hiệu lực
Có rất nhiều người không chú ý đến các điều khoản phía trang web đưa ra hoặc thường
bỏ qua chúng và không ý thức rằng đây chính là các điều khoản của hợp đồng, làm căn
cứ để xác định trách nhiệm và nghĩa vụ của hai bên mua và bán Cũng có trường hợp phía bên bán, tức bên cung cấp dịch vụ TMĐT, chủ của website TMĐT đó cố tình giấu
đi hoặc “quên” một số điều khoản và chỉ cho bên mua biết khi họ đã hoàn thành các bước giao dịch nhằm mục đích ràng buộc khách hàng
Ở cấp độ cao hơn của giao dịch điện tử, khi người mua không chỉ đơn thuần là một cá nhân mua hàng và các đơn hàng có tính chất quan trọng hơn là mua hàng hóa thông thường thì chữ ký điện tử (electronic signature) trở thành một công cụ không thể thiếu Chữ ký điện tử được dùng trong các hợp đồng kí kết trên môi trường Internet, trong TMĐT, có giá trị như một chữ ký như trên giấy tờ
Các tổ chức quốc tế và quốc gia đã ban hành các văn bản pháp luật nhằm mục địch công nhận giá trị pháp lý và điều chỉnh các vấn đề liên quan đến chữ ký điện tử như Luật mẫu về chữ ký điện tử năm 2001 và văn bản hướng dẫn thi hành của UNCITRAL; Chỉ thị về chữ ký điện tử của Hội đồng châu Âu (1999/93/EC); Luật Chữ
Trang 14ký điện tử và chứng thực số của Mỹ, v.v… tuy nhiên chúng lại có những điểm khác nhau vì vậy vẫn chưa có một văn bản
pháp luật nào có thể được sử dụng để làm cơ sở pháp lý chung cho các vấn đề liên quan đến chữ ký điện tử 17
Hình 1: Minh họa mhững điểm khác nhau giữa các quy định của các văn bản
pháp luật Nguồn: Legal aspects of electronic signatures, tác giả G.C Parry, M James- Moore, A.P Graves, O Altinok, trường Đại học Bath, tháng 02, 2008
Ở Việt Nam, giá trị pháp lý của chữ ký điện tử được quy định tại điều 24 Mục 1 Chương III của Luật Giao dịch điện tử 2005 Việc ra đời của văn bản luật giúp công nhận giá trị pháp lý và điều chỉnh các vấn điều liên quan giúp cho các doanh nghiệp mạnh dạn trong việc sử dụng chữ ký điện tử trong các hoạt động thương mại điện tử
17 Legal aspects of electronic signatures, tác giả G.C Parry, M James-Moore, A.P Graves, O
Altinok, trường Đại học Bath, tháng 02, 2008