1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên Cứu Tác Động Của Trung Quốc Đến Nền Kinh Tế Của Các Quốc Gia Trong Khu Vực Châu Á 6666398.Pdf

54 12 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Tác Động Của Trung Quốc Đến Nền Kinh Tế Của Các Quốc Gia Trong Khu Vực Châu Á
Tác giả Huỳnh Thu Hằng
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế – Tài chính
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU (13)
    • 1.1. Lý do chọn đề tài (13)
    • 1.2. Mục tiêu nghiên cứu (15)
    • 1.3. Nội dung nghiên cứu (15)
    • 1.4. Đóng góp của đề tài (16)
    • 1.5. Bố cục đề tài (17)
  • CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM (18)
    • 2.1. Các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ kinh tế giữa các nước (18)
    • 2.2. Vai trò của Trung Quốc đối với các nước Châu Á (26)
  • CHƯƠNG 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (37)
    • 3.1. Mô hình nghiên cứu (37)
      • 3.1.1. Mối quan hệ kinh tế của Trung Quốc với các nước Châu Á (37)
      • 3.1.2. Mối quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc và Việt Nam (40)
    • 3.2. Mô tả dữ liệu (42)
  • CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (51)
    • 4.1. Mối quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc với các nước Châu Á (51)
      • 4.1.1. Hồi quy tổng thể (51)
      • 4.1.2. Các kênh tác động (0)
        • 4.1.2.1. Các liên kết thương mại (0)
        • 4.1.2.2. Các liên kết tài chính (0)
    • 4.2. Mối quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc và Việt Nam (0)
      • 4.2.1. Tăng trưởng Trung Quốc tác động đến tăng trưởng Việt Nam (0)
      • 4.2.2. Chỉ số giá chứng khoán Trung Quốc và tăng trưởng Việt Nam (0)
  • CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN ........................................................................................ 64 TÀI LIỆU THAM KHẢO (0)
  • PHỤ LỤC (0)

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH HUỲNH THU HẰNG NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA TRUNG QUỐC ĐẾN NỀN KINH TẾ CỦA CÁC QUỐC GIA TRONG KHU VỰC CHÂU Á LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Tp Hồ Chí[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

Tp Hồ Chí Minh - Năm 2015

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng:

Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc

Tp.Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 11 năm 2015

Tác giả luận văn

Huỳnh Thu Hằng

Trang 5

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

DANH MỤC BẢNG

TÓM TẮT 1

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 2

1.1 Lý do chọn đề tài 2

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4

1.3 Nội dung nghiên cứu 4

1.4 Đóng góp của đề tài 5

1.5 Bố cục đề tài 6

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM……….7

2.1 Các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ kinh tế giữa các nước 7

2.2 Vai trò của Trung Quốc đối với các nước Châu Á 15

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

3.1 Mô hình nghiên cứu 26

3.1.1 Mối quan hệ kinh tế của Trung Quốc với các nước Châu Á 26

3.1.2 Mối quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc và Việt Nam 29

3.2 Mô tả dữ liệu 31

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40

4.1 Mối quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc với các nước Châu Á 40

Trang 6

4.1.1 Hồi quy tổng thể 40

4.1.2 Các kênh tác động 44

4.1.2.1 Các liên kết thương mại 44

4.1.2.2 Các liên kết tài chính 47

4.2 Mối quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc và Việt Nam 51

4.2.1 Tăng trưởng Trung Quốc tác động đến tăng trưởng Việt Nam 51

4.2.2 Chỉ số giá chứng khoán Trung Quốc và tăng trưởng Việt Nam 58

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN 64 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

Ký hiệu Diễn giải

CAB Cán cân tài khoản vãng lai

(Current account balance)

GDP Tổng sản phẩm Quốc nội

(Gross Domestic Product)

FEM Mô hình tác động cố định

(Fixed – effects model)

NFA Tài sản nước ngoài ròng

(Net foreign assets)

OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế

(Organization for Economic Cooperation and Development)

REM Mô hình tác động ngẫu nhiên

(Random – effects model)

SC Tiêu chuẩn thông tin Schwarz

(Schwarz information criterion) SSEC Shanghai composite index

VAR Mô hình tự hồ quy vector

(vector autoregression)

Trang 8

VECM Mô hình véc tơ hiệu chỉnh sai số

(Vector Error Correction Model)

VIF Hệ số phóng đại phương sai

(Variance inflation factor)

FPI Đầu tư gián tiếp nước ngoài

(Foreign Portfolio Investment) FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

(Foreign Direct Investment)

Trang 9

DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Biểu đồ 2.1: Tốc độ tăng trưởng GDP của Trung Quốc (từ 2000 – 2014)

Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ tăng trưởng ở một số quốc gia, theo % (Nguồn: World Bank)

Biểu đồ 2.3: Giá trị nhập khẩu của Trung Quốc từ các nước Châu Á, 1996-2014

Biểu đồ 4.1: Hàm phản ứng đẩy: tỷ lệ tăng trưởng của GDP Trung Quốc và Việt Nam

Biểu đồ 4.2: Phân tích phương sai: tỷ lệ tăng trưởng của GDP Trung Quốc và Việt

Nam

Biểu đồ 4.3: Hàm phản ứng đẩy: SSEC và tăng trưởng Việt Nam

Biểu đồ 4.4: Phân tích phương sai: SSEC và tăng trưởng Việt Nam

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: GDP (PPP) của Trung Quốc, các nước OECD và thế giới (Đơn vị: tỷ USD).Bảng 2.2: Giá trị giao dịch hàng hóa và dịch vụ của Trung Quốc với Thế Giới

Bảng 2.3: Giá trị nhập khẩu từ Trung Quốc năm 2014

Bảng 3.1: GDP (PPP) của các nước trong khu vực Đơn vị: Tỷ USD

Bảng 3.2.: Thống kê mô tả

Bảng 3.3: Hiệp phương sai và hệ số tương quan

Bảng 4.1: Hồi quy tổng thể các nhân tố tác động đến tăng trưởng các nước Châu Á: Pool-OLS, 1999-2014

Bảng 4.2: Hồi quy tổng thể các nhân tố tác động đến tăng trưởng các nước Châu Á: FEM, 1999-2014

Bảng 4.3: Thương mại Trung Quốc tác động đến tăng trưởng các nước Châu Á: OLS, 1999-2014

Pool-Bảng 4.4: Thương mại Trung Quốc tác động đến tăng trưởng các nước Châu Á: FEM, 1999-2014

Bảng 4.5: Tài chính Trung Quốc tác động đến tăng trưởng các nước Châu Á: OLS, 1999-2014

Pool-Bảng 4.6: Tài chính Trung Quốc tác động đến tăng trưởng các nước Châu Á: FEM, 1999-2014

Bảng 4.7: Kiểm định đồng liên kết Jonhansen: tỷ lệ tăng trưởng Trung Quốc và Việt Nam, quý I/2000 – quý IV/2014

Bảng 4.8: Kiểm định nhân quả Granger: tỷ lệ tăng trưởng Trung Quốc và Việt Nam, quý I/2000 – quý IV/2014

Bảng 4.9: Hồi quy tỷ lệ tăng trưởng của Việt Nam phụ thuộc vào tăng trưởng Trung Quốc, quý I/2000 – quý IV/2014

Bảng 4.10: Kiểm định đồng liên kết Jonhansen: SSEC và tăng trưởng Việt Nam, quý I/2000 – quý IV/2014

Bảng 4.11: Kiểm định nhân quả Granger: chỉ số giá chứng khoán Trung Quốc và tăng trưởng GDP Việt Nam, I/2000 – IV/2014

Trang 11

Bảng 4.12: Hồi quy tỷ lệ tăng trưởng của Việt Nam phụ thuộc vào chỉ số giá chứng khoán Trung Quốc, quý I/2000 – quý IV/2014

Trang 12

TÓM TẮT

Bài nghiên cứu phám phá mối quan hệ kinh tế của Trung Quốc với tăng trưởng của 25 quốc gia Châu Á được lựa chọn và đánh giá mức độ tác động thông qua các kênh dẫn truyền là thương mại và tài chính Bằng phương pháp Pool-OLS và mô hình tác động

cố định (fixed-effects model), kết hợp với dữ liệu được quan sát theo năm của 25 quốc gia Châu Á từ 1999-2014, chúng ta tìm thấy các mối quan hệ tích cực có ý nghĩa thống

kê cao Kết quả cho thấy vai trò quan trọng của kênh thương mại và tài chính Trung Quốc đến nền kinh tế các nước trong khu vực Châu Á Đồng thời, bài nghiên cứu mối quan hệ kinh tế song phương giữa Trung Quốc và Việt Nam thông qua tỷ lệ tăng trưởng của Trung Quốc và chỉ số giá thị trường chứng khoán SSEC Sử dụng phương pháp kiểm định nhân quả Granger và VECM, kết quả đều cho thấy mối quan hệ nhân quả Granger một chiều từ tỷ lệ tăng trưởng của Trung Quốc và chỉ số SSEC tác động đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam

Trang 13

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU

1.1 Lý do chọn đề tài

Trong những thập niên gần đây, vị thế của Trung Quốc trong nền kinh tế thế giới ngày càng trở nên quan trọng Năm 2010, Trung Quốc vượt qua Nhật Bản và trở thành nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới, chỉ xếp sau Mỹ Đồng thời, Trung Quốc cũng là chủ

nợ lớn nhất của Mỹ, khi mà sở hữu 1300 tỷ USD Trái Phiếu Mỹ

Trung Quốc tăng trưởng cao không có gì khó hiểu Trong 30 năm đầu của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, trung bình Trung Quốc tăng trưởng 4,2% Lúc bấy giờ Trung Quốc dù gặp nhiều trắc trở bởi kế hoạch đại nhảy vọt, Cách mạng Văn hoá nhưng là nền kinh tế có rất nhiều động lực phát triển chưa được phát huy Trung Quốc có sức lao động dồi dào chưa được sử dụng, tài nguyên phong phú chưa được khai thác nhiều Đặc biệt, Trung Quốc thiếu vốn và phương tiện quản lý, điều hành kinh tế tiên tiến Khi Trung Quốc bắt đầu cải cách và mở cửa từ năm 1978, tất cả đều ào ạt Thứ nhất, chính sách mới phát huy những động lực mà trước kia chưa sử dụng được Thứ hai, dòng vốn trung bình mỗi năm 1.000 tỷ USD đổ vào Trung Quốc, trong đó đứng đầu là Hồng Kông (Trung Quốc), tiếp đó là Mỹ, Đài Loan (Trung Quốc), Ma Cao (Trung Quốc), Châu Âu, Nhật Bản Như ruộng lúa hạn hán nứt nẻ, giờ gặp những trận mưa rào, Trung Quốc tăng trưởng rất nhanh chóng Cho nên từ những năm cải cách, Trung Quốc tăng trưởng 7-9% Quy mô nền kinh tế đã tăng gần 20 lần theo USD trong suốt

30 năm Từ 1992 Trung Quốc chuyển sang kinh tế thị trường, đặc biệt là 10 năm đầu của thế kỷ XXI, kinh tế Trung Quốc tăng trưởng 9,8% - tốc độ đó là bình thường Tốc

độ phát triển này còn nhanh hơn Châu Âu trong suốt cuộc Cách Mạng Công Nghiệp hoặc ở Mỹ sau khi mở cửa Tây Mỹ trong thế kỷ 19 Summer (2007) chỉ ra rằng, thực tế

sự phát triển nhanh chóng của Trung Quốc – quốc gia chiếm 1/5 dân số thế giới – là một trong những sự kiện phát triển kinh tế quan trọng trong thời đại chúng ta

Trang 14

Ngoài tác động trong nước, tăng trưởng nhanh của Trung Quốc trong các thập niên gần

đây đã có tác động đến nền kinh tế toàn cầu Thông qua việc mở cửa, hội nhập toàn

cầu, Trung Quốc càng gia tăng mối quan hệ với phần còn lại của thế giới thông qua

giao thương quốc tế, thị trường hàng hóa toàn cầu, dòng vốn, và qua việc sử dụng tiền

tệ của Trung Quốc ở các nước, và trong mối tương quan chặt chẽ của tình hình thị

trường Trung Quốc và các nước Châu Á (kể cả thế giới) Sau 2008, Trung Quốc tiến

hành quốc tế hóa đồng Nhân Dân Tệ Cuối năm 2014, Trung Quốc ký 29 thỏa thuận

hóa đổi tiền tệ song phương và đến tháng 10/2014, đồng Nhân Dân Tệ đã vượt qua

đồng đô-la Úc và đô-la Canada để trở thành đồng tiền được sử dụng thanh toán nhiều

thứ 5 trên thế giới, gần tiếp cận với đồng Yên Nhật Mức độ sử dụng đồng Nhân Dân

Tệ trong thanh toán quốc tế trong 2 năm 2012-2014 đã tăng trên 321% Riêng năm

2014, mức tăng trên đạt 102% so với mức tăng chung 4,4% của tất cả các loại tiền tệ

khác trong thanh toán quốc tế

Tuy nhiên, từ quý III/2015 nền kinh tế bị rơi vào tình trạng suy giảm Trung Quốc đã

phá giá đồng Nhân Dân Tệ, chứng khoán Trung Quốc tiếp tục lao đốc Hãng Reuters

dẫn lời nhà kinh tế Tim Condon thuộc Hãng ING Group đánh giá: "Không ai biết điều

gì sẽ xảy ra với nền kinh tế lớn thứ hai thế giới Sự mù mờ về tăng trưởng của Trung

Quốc hiện là nguyên nhân chính khiến các thị trường chao đảo” Nếu tăng trưởng của

nền kinh tế lớn thứ hai thế giới sụt giảm mạnh, sẽ kéo theo các nước khác sụt theo

Đánh giá được những biến động lên xuống của nền kinh tế Trung Quốc, thực sự có ảnh

hưởng như thế nào đến các quốc gia trong khu vực châu Á trong thời gian qua Và xem

xét các tác động kinh tế này thông qua các kênh dẫn truyền Chúng ta có thể đo lường

mối quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc và các nước trong khu vực Châu Á, đặc biệt là

Việt Nam Đồng thời, dự đoán được xu hướng tác động của mối quan hệ kinh tế này

trong thời gian tới Vì vậy, tôi chọn đề tài “nghiên cứu tác động của Trung Quốc đến

nền kinh tế của các quốc gia trong khu vực Châu Á” để làm rõ các vấn đề trên

Trang 15

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài nhằm nghiên cứu thực nghiệm mối quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc với các nước trong khu vực Châu Á và xem xét mối quan hệ này thông qua các kênh dẫn truyền Kênh thương mại được nghiên cứu thông qua các chỉ số xuất nhập khẩu và kênh tài chỉnh được nghiên cứu thông qua các chỉ số đại diện cho dòng tài chính và biến động trên thị trường tài chính Trung Quốc

Đặc biệt, bài nghiên cứu khám phá mối quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc với Việt Nam trong dài hạn và ngắn hạn Xem xét giữa Trung Quốc và Việt Nam có mối quan hệ nhân quả một chiều hay hai chiều Đồng thời, đánh giá sự tác động của biến này lên biến kia khi có một sự thay đổi, một cú sốc xảy ra

1.3 Nội dung nghiên cứu

Bài nghiên cứu được phân thành hai vấn đề lớn:

Một là, nghiên cứu mối quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc và tăng trưởng các nước trong khu vực bằng hồi quy Pool-OLS và mô hình tác động cố định (FEM)

 Hồi quy tăng trưởng của Trung Quốc, OECD và thế giới với tăng trưởng của các nước trong khu vực để đánh giá tác động tổng thể

 Kiểm định tác động của kênh Thương Mại Trung Quốc (thông qua hoạt động xuất nhập khẩu) đối với tăng trưởng các nước

 Kiểm định tác động của dòng Tài Chính Trung Quốc đối với tăng trưởng các nước Dòng tài chính – đại diện cho tiết kiệm quốc gia được đo lường bởi chỉ số Cán cân tài khoản vãng lai và Tài sản nước ngoài ròng Thêm vào đó, đánh giá tác động của thị trường Tài chính Trung Quốc đối với các nước Biến động thị trường tài chính được đo lường bởi lãi suất ngắn hạn (tín phiếu kho bạc Trung

Trang 16

Quốc 3 tháng), lãi suất dài hạn (trái phiếu 10 năm) và chỉ số giá chứng khoán

(Shanghai Composite Index)

Hai là, bằng phương pháp đồng liên kết Jonhansen kết hợp với VECM và kiểm định

nhân quả Granger nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng Trung Quốc, chỉ số giá

chứng khoán và tăng trưởng của Việt Nam

 Kiểm định tính dừng của các chuỗi dữ liệu thời gian bằng phương pháp

Augmented Dickey-Fuller (ADF) Nếu chuỗi dừng ở sai phân bậc 1, kiểm định

Bài nghiên cứu có một số đóng góp so với các tài liệu hiện có Đầu tiên, đề tài nghiên

cứu sâu hơn về từng kênh tác động cụ thể chứ không chỉ đánh giá tổng thể như các

nghiên cứu trước Thứ hai, Trung Quốc và hầu hết các nước Châu Á mới mở cửa giao

thương trong vài thập niên gần đây nên mốc thời gian được nghiên cứu trong mẫu từ

1999 – 2014 có tính cập nhật hơn Thứ ba, bài nghiên cứu rõ ràng hơn sự tác động của

Trung Quốc đối với Việt Nam thông qua tăng trưởng và Thị trường chứng khoán

Ngoài ra, đề tài giúp chúng ta khám phá và đo lường mức độ tác động của các kênh

dẫn truyền từ Trung Quốc đến các nước trong khu vực để giúp các nước trong khu vực

có thể phần nào xây dựng kế hoạch nhằm duy trì tăng trưởng, ổn định nền kinh tế khi

đối mặt với các cuộc khủng hoảng và tình hình biến động kinh tế đến từ Trung Quốc và

tìm kiếm lợi ích đa dạng hóa vốn quốc tế khi tìm kiếm thị trường ít tương quan

Trang 18

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ

BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM

2.1 Các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ kinh tế giữa các nước

Đã có những nghiên cứu trước đây về mối tương quan tăng trưởng giữa các nước Nghiên cứu các liên kết tăng trưởng xuyên quốc gia thường tập trung vào sự lan truyền của tăng trưởng các nước (hoặc nhóm nước) phát triển đến các nước, các nhóm nước nhỏ khác trong khu vực hoặc trên toàn thế giới Các kết quả đều ít nhiều đều đưa ra được những mối liên kết, tương quan có ý nghĩa Ví dụ như: Hyun-Hoon Lee và cộng

sự (2000) nghiên cứu sự tác động của chu kỳ kinh doanh của Mỹ và Nhật lên nền kinh

tế Úc theo hai kênh truyền dẫn là xuất khẩu và thị trường tài chính Kết quả cho thấy khi tỷ giá thả nổi, Mỹ tác động lên Úc mạnh hơn trong cả ngắn hạn và dài hạn, còn của Nhật yếu đi và chỉ tác động trong ngắn hạn Callen và McKibbin (2001) cho thấy trong khi củng cố tài chính ở Nhật, ban đầu sẽ giảm tăng trưởng trong nước, trung hạn sẽ tác động dương lên cả kinh tế trong nước và các nước trong khu vực (các nước Châu Á-Thái Bình Dương) Nới lỏng tiền tệ làm tăng hoạt động trong nước ở ngắn hạn, tác động lên các nước khu vực trong trung hạn

Sự lan tỏa tăng trưởng từ các nước khu vực lớn đến các nước láng giềng nhỏ hơn thu hút sự chú ý ngày càng tăng

 Arora và Vamvakidis (2001, 2005) tập trung nghiên cứu mối quan hệ tăng trưởng giữa các nước lớn và các nước trong trong vực cũng như toàn thế giới Năm

2001, tác giả nghiên cứu tác động của tăng trưởng kinh tế Mỹ đến các nước trên thế giới và tác động theo từng khu vực Thay vì thập trung ước lượng tác động của sự biến động quốc tế (các cú sốc) lên chu kỳ kinh doanh trong nước như Ahmed và Loungani (1999, 2001) sử dụng mô hình hiệu chỉnh sai số (a vector error-correction) để ước

Trang 19

lượng tác động của các cú sốc sản lượng quốc tế lên sản lượng nội địa của vài nhóm nước trong các nền kinh tế thị trường mới nổi ở Châu Á và Mỹ Latinh Arora và Vamvakidis (2001) sử dụng mô hình tác động cố định (Fixed-effects) để mục đích phân tích tăng trưởng trong dài hạn Tác giả hồi quy các nhân tố tăng trưởng và các các biến kiểm soát qua một thời gian dài Mô hình hồi quy tỷ lệ tăng trưởng thực GDP bình quân đầu người của các nước trên thế giới (không bao gồm Mỹ) theo một loạt các biến độc lập bao gồm nhóm các yếu tố trong nước: biến trễ của GDP bình quân, phát triển nhân khẩu học (tăng trưởng dân số), tổng đầu tư trong nước, vốn con người, tỷ lệ xúc tiến thương mại; và nhóm các yếu tố nước ngoài: tỷ lệ tăng trưởng thực GDP bình quân đầu người ở Mỹ và phần còn lại của thế giới, trung bình tỷ trọng xuất khẩu trên GDP bình quân đầu người thực của các bạn hàng với mỗi quốc gia Dữ liệu được lấy từ 1980 đến 1989 cho tất cả các nước công nghiệp và các nước đang phát triển Trong đó, mỗi quan sát được tính trung bình theo 5 năm, trừ biến trễ GDP bình quân đầu người lấy dữ liệu năm đầu tiên trong từng giai đoạn 5 năm Kết quả cho thấy tỷ lệ tăng trưởng ở Mỹ

có tác động dương và có ý nghĩa thống kê lên tăng trưởng các nước khác, đặc biệt là các nước đang phát triển Tác giả tìm thấy một sự giảm sút trong tăng trưởng của Mỹ đối với các nước đạt mức 1-1 Hơn thế, các kết quả còn ám chỉ tác động của tăng trưởng Mỹ lên các nước khác có thể được giải thích bởi vai trò của nó trong quá trình giao thương

Dựa trên nghiên cứu trên, năm 2005, các tác giả này cũng xem xét tác động tăng trưởng kinh tế Nam Phi đến các nước Châu Phi còn lại Trong bài, tác giả bổ sung thêm các biến như lạm phát, tỷ lệ viện trợ, tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh, biến giả cho các nước nằm giáp biển, và đa dạng sắc tộc Các mối quan hệ được đo lường bằng phương pháp hồi quy Pool-OLS và mô hình tác động cố định tương tự như nghiên cứu năm 2001 Kết quả cho thấy rằng tăng trưởng kinh tế Nam Phi có tác động tích cực đến tăng trưởng ở các nước Châu Phi còn lại, ngay cả sau khi kiểm soát các yếu tố tăng trưởng khác Tác động của các cú sốc khu vực và toàn cầu, sự thay đổi trong mô hình và thời

Trang 20

kỳ mẫu có ý nghĩa mạnh 1% tăng lên trong tăng trưởng của Nam Phi tương ứng 1/2 – 3/4% tăng lên của tăng trưởng các nước Châu Phi còn lại Tác giả phân tích dựa trên tỷ

lệ tăng trưởng trung bình của các nước theo từng thời kỳ nhỏ 5 năm để tránh tác động

vĩ mô ngắn hạn bị ảnh hưởng bởi các cú sốc tạm thời và chu kỳ kinh doanh Trong bài

có đề cập tác động của FDI và đầu tư danh mục đến dòng vốn của một số nước thông qua kênh liên kết tài chính Đồng thời, đề cập quy mô và và vai trò dẫn đầu của quốc gia Nam Phi trong các chính sách đa quốc gia và sáng kiến kinh tế Tuy nhiên, trong các nghiên cứu của tác giả, không khuyến khích cô lập theo từng kênh tác động mà tập trung thay thế tác động tổng hợp Vì vậy, tác giả có đề xuất cho các nghiên cứu tương lai có thể đánh giá tầm quan trọng của các kênh thay thế qua đó tăng trưởng được truyền dẫn

 Frank và cộng sự (2003) nghiên cứu tác động của Mỹ đến khu vực Châu Á – Thái bình Dương và khám phá mối liên kết thông qua kênh Thương Mại, Đầu Tư và liên kết Tài Chính thông qua thị trường chứng khoán liên quan đến cuộc cách mạng IT Các nước khu vực Châu Á – Thái Bình Dương được lựa chọn trong 2 nhóm của các nước Châu Á gồm các nước Châu Á phát triển (ADCs) như Nam Hàn, Đài Loan, Singapore, Nhật Bản và Trung Quốc cùng với 4 nước ASEAN: Indonesia, Philippin, Thái Lan Trước tiên, tác giả kiểm tra nhân quả của chuỗi thời gian GDP, và sau đó kiểm tra chuỗi thời gian chỉ số giá chứng khoán Đầu tiên, tác giả kiểm tra nhân quả của Mỹ với các nước ADCs chính gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và Đài Loan Trung Quốc được lựa chọn từ các nước ASEAN+ vì quy mô nền kinh tế và tầm quan trọng tăng trưởng của Trung Quốc trong nền kinh kế khu vực Châu Á – Thái Bình Dương Sau khi sử dụng kiểm định nghiệm đơn vị và kiểm định đồng liên kết, mô hình

tự hồi quy vector (VAR) được sử dụng để kiểm định mối quan hệ giữa 5 chuỗi tỷ lệ tăng trưởng GDP Đối với chỉ số giá chứng khoán cũng tiến hành tương tự theo tiến trình: kiểm định quan hệ nhân quả Granger theo cặp, và kiểm định quan hệ nhân quả VAR Dữ liệu chỉ số giá chứng khoán được thu thập theo ngày ở mức giá đóng cửa cho

Trang 21

mỗi 5 nước gồm Trung Quốc (Shanghai Composite, SSEC), Hàn Quốc (Seoul Composite, KS11), Nhật Bản (Nikkei 225), Đài Loan (Taiwan Weighted, TWII) và Mỹ (S&P 500, GSPC Kết quả được tìm thấy là các liên kết được tăng cường kể từ cuộc cách mạng IT Không có quan hệ nhân quả một chiều có ý nghĩa từ GDP Mỹ đến Nhật, Đài Loan, Hàn Quốc và Trung Quốc Nhưng sự sụt giảm trong chỉ số giá chứng khoán

Mỹ sẽ là nguyên nhân suy thoái thị trường chứng khoán ở Nhật, Hàn, và Đài Loan, nhưng không ảnh hưởng Trung Quốc Không có ý nghĩa của quan hệ nhân quả một chiều từ GDP Mỹ đến Nhật, Đài Loan, Hàn Quốc và Trung Quốc Nhưng sự sụt giảm trong chỉ số giá chứng khoán Mỹ sẽ gây nên sự suy thoái trong thị trường chứng khoán

ở Nhật, Hàn, Đài Loan, nhưng không ảnh hưởng đến Trung Quốc

 Swiston và Bayoumi (2008) đã kiểm tra mức độ và các kênh lan truyền từ các khu vực chính của thế giới – Mỹ, khu vực Châu Âu, Nhật Bản và phần còn lại của thế giới - lên Canada và Mexico Tác giả nghiên cứu tác động thông qua ba kênh thương mại, giá cả hàng hóa và kênh tài chính Sử dụng mô hình VAR kết hợp với phương pháp quasi-Bayesian (được đưa ra bởi Bayoumi và Swiston, 2007) để ước lượng mối quan hệ tăng trưởng giữa các nước khi xuất hiện các cú sốc Phương pháp phân tách Cholesky không được sử dụng trực tiếp ở đây vì các mối liên kết không được sắp xếp thứ tự rõ ràng Để đo lường mức độ tác động của liên kết tài chính, tác giả sử dụng ba công cụ, cũng đại diện cho chính sách tiền tệ của các nước: lãi suất ngắn hạn (chứng khoán chính phủ 3 tháng), lãi suất dài hạn (chứng khoán chính phủ 10 năm) và giá cổ phiếu của Mỹ, khu vực Châu Âu và Nhật Kết quả chỉ ra với Canada, 1% cú sốc trong GDP thực của Mỹ chuyển dịch đến 3/4 % sang cho Canada – trong đó lan truyền tài chính quan trọng hơn thương mại trong các thập niên gần đây

Klyuev (2008) cũng khám phá mức độ liên kết tài chính giữa Canada và Mỹ, nhằm đo lường tác động trong thay đổi điều kiện tài chính ở Mỹ lên điều kiện tài chính và hoạt động kinh tế thực của Canada Ông cho rằng những biến động liên tục trên thị trường tài chính toàn cầu càng cho thấy vai trò của các liên kết tài chính giữa các nước, cũng

Trang 22

như tác động của điều kiện tài chính lên hoạt động kinh tế thực Trong bài sử dụng mô hình tự hồi quy vector cấu trúc (SVAR) 6 biến bao gồm tỷ lệ lạm phát CPI, tỷ lệ tăng trưởng GDP thực, và lãi suất T-bill 3 tháng cho mỗi quốc gia Lãi suất đại diện cho điều kiện tài chính Tỷ lệ tăng trưởng và tỷ lệ lạm phát đo lường hoạt động kinh tế thực Dữ liệu được thu thập theo quý từ quý I/1983 đến quý I/2007 Số quan sát khá lớn nhưng xét ở vĩ mô các số liệu biến động không nhiều trong thời kỳ trước đó Với

dữ liệu theo quý, độ trễ được sử dụng là 4 Nghiên cứu cho thấy sự thắt chặt trong điều kiện tài chính của Mỹ tác động có ý nghĩa lên hoạt động thực ở Canada Ví dụ 1% tăng lên trong lãi suất T-bill 3 tháng (các yếu tố khác không đổi) dẫn tới giảm hơn 1% trong tăng trưởng GDP thực ở Canada sau 3 quý Điều này có thể giải thích bởi ba cách thức tác động: kênh tài chính trực tiếp, sự suy giảm là do chi phí sử dụng vốn tăng khi các công ty Canada tăng vốn ở Mỹ; kênh tài chính gián tiếp, sự tăng trưởng bị cản trở bởi các điều kiện tài chính ở Canada bị thắt chặt do phản ứng với sự thắt chặt ở Mỹ; và kênh thương mại, thông qua sự chậm lại của nền kinh tế Mỹ, và tương ứng với nhu cầu giảm trong xuất khẩu Canada

 Ilahi và Shendy (2008) tìm thấy tỷ lệ tăng trưởng của GDP thực, tiêu dùng tư nhân và đầu tư tư nhân ở khu vực Trung Đông và Bắc Phi (bao gồm Pakistan) được liên kết mạnh mẽ với dòng Kiều hối và tích lũy thặng dư tài chính trong các nước GCC – Hội đồng hợp tác vùng vịnh Sử dụng phương pháp VAR, tác giả nghiên cứu các mối liên kết thông qua hai kênh là tài chính và kiều hối Khác với định nghĩa kênh tài chính như bài nghiên cứu của Swiston và Bayoumi (2008) – đại diện cho điều kiện tài chính – trong bài, Ilahi và Shendy sử dụng khái niệm kênh tài chính với ý nghĩa tích lũy dòng tài chính Vì không có dữ liệu dòng tài chính song phương giữa GCC và các nước trong khu vực cho nên tác giả sử dụng chỉ số cán cân tài khoản vãng lai được tích lũy của các nước GCC đại diện cho quy mô dòng tài chính của các nước này Dữ liệu kiều hối song phương từ các nước GCC đến các nước khác là không có sẵn hoặc không đầy

đủ Cho nên, tác giả sử dụng nguồn kiều hối từ Saudi Arabia như một đại diện dòng

Trang 23

kiều hối GCC Tất nhiên mô hình được đưa vào thêm biến giá dầu, đây là động lực chính của liên kết giữa GCC và các nước trong khu vực Ngoài ra, tác giả còn sử dụng thêm các biến kiểm soát tăng trưởng gồm tỷ lệ xúc tiến thương mại, đầu tư, chi tiêu chính phủ, dân số, lạm phát và độ trễ của GDP bình quân đầu người Dữ liệu theo năm được thu thập từ 1972 – 2006 (35 năm), và để tránh các cú sốc ngắn hạn, dữ liệu được lấy trung bình theo 3 năm

Dựa trên nghiên cứu này, Alturki và cộng sự (2010) cũng tiến hành nghiên cứu mức độ tác động của tăng trưởng ở Nga với 11 nước CIS (trừ Nga) thông qua các kênh Thương Mại, Tài Chính và Kiều Hối Dữ liệu được lấy theo năm từ 1997 – 2008 Kết quả cho thấy tồn tại mối liên kết kinh tế giữa Nga và CIS và mối liên kết này bị ảnh hưởng từ cuộc khủng khoảng kinh tế Nga 1998

Hiện có rất ít nghiên cứu thực nghiệp được thực hiện để đánh giá tác động của tăng trưởng kinh tế Trung Quốc đến các nước còn lại trên thế giới Trong đó, kể tới nghiên cứu của Arora và Vamvakidis (2010)1 cho thấy vai trò của Trung Quốc trong nền kinh

tế thế giới và đo lường tác động của tăng trưởng kinh tế Trung Quốc đến các nước trên thế giới trong ngắn hạn và dài hạn Tác giả ước tính ngắn hạn dựa trên mô hình tự hồi quy vector và mô hình hiệu chỉnh sai số, kết quả cho thấy hiệu ứng lan tỏa của tăng trưởng Trung Quốc đến các nước đã tăng lên trong những thập kỷ gần đây Trong các tác động lan tỏa dài hạn, tác giả ước lượng dựa trên hồi quy dữ liệu bảng, cũng cho kết quả có ý nghĩa và mức độ tăng lên trong những thập kỷ gần đây vượt ra khỏi Châu Á Tuy nhiên, những nghiên cứu của các tác giả này đều đánh giá kết quả tác động tổng hợp chứ không tập trung xem xét trên từng kênh tác động

Có một số phương pháp để kiểm tra mối liên kết giữa nền kinh tế các nước với nhau Arora và Vamvadidis (2001) áp dụng hồi quy tăng trưởng thông thường để nghiên cứu

1 Arora và Vamvakidis nghiên cứu Paper China’s economic growth: International Spillovers năm 2010 trên IMF working paper Năm 2011, chỉnh sửa và ấn bản trên tạp chí China & World Economy

Trang 24

tác động của tăng trưởng kinh tế của Mỹ đến các nước còn lại trên thế giới, mà không quan tâm đến các kênh liên kết cụ thể như tài chính, đầu tư,… và áp dụng phương pháp này cho các nghiên cứu tương tự sau đó Callen và McKibbin (2001) sử dụng G-Cubed

để nghiên cứu tác động của thay đổi chính sách Nhật lên các nước Châu Á – TBD Watanabe (1996) nghiên cứu tác động của giá chứng khoán Mỹ và biến động lên các nước Châu Á – TBD, sử dụng mô hình EGARCH (an exponential autoregressive conditionally heteroskedastic) Frank và cộng sự (2003) sử dụng Granger kiểm tra quan

hệ nhân quả của các liên kết, và sau khi tìm ra nguyên nhân và ảnh hưởng, sử dụng phân tích “phản ứng đẩy” Tác giả kiểm tra quan hệ nhân quả và các động lực của chuỗi thời gian GDP, sau đó, kiểm tra chuỗi thời gian của chỉ số giá chứng khoán Alain và Elsabé (2007) sử dụng mô hình a novel dynamic factor2 để điều tra mối quan

hệ giữa chu kỳ kinh doanh của Nam Phi với 11 nước Cộng đồng Phát triển Miền nam Châu Phi (SADC)

Các kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước đều cho thấy mối quan hệ phụ thuộc giữa các nước nhỏ và các nước lớn, do đó, chúng ta kỳ vọng một mối tương giữa các quốc gia Châu Á với Trung Quốc thông qua nhiều lĩnh vực, nhiều kênh tác động

Trong bài này, chúng ta sẽ tiến hành nghiên cứu theo hai phần lớn Một là xét mối quan

hệ giữa nền kinh tế Trung Quốc và tăng trưởng của các nước trong khu vực Châu Á (25 nước được xét trong mẫu) bằng cách hồi quy dữ liệu bảng Pool-OLS và FEM cho

25 nước như phương pháp trong bài nghiên cứu của Arora và Vamvadidis (2005) Sau

đó, đánh giá tác động riêng lẻ của từng kênh Thương Mại và Tài Chính Hai là xét mối quan hệ song phương giữa Trung Quốc và Việt Nam theo phương pháp được trình bày trong nghiên cứu của Frank và cộng sự (2003) Chúng ta tiến hành kiểm định tính dừng, hiện tượng đồng liên kết, kiểm định quan hệ nhân quả Granger và ước lượng mô

2 Forni, M., Hallin, M.,Lippi, M., Reichlin, L.,2003 Mô hình a Generalized Factor: ước lượng và dự báo

ECARES-ULB Working Paper www.dynfactors.org

Trang 25

hình VECM cho mối liên hệ giữa tăng trưởng của hai nước và mối liên hệ của thị trường tài chính Trung Quốc (chỉ số giá chứng khoán SSEC) với tăng trưởng Việt Nam

Ngoài ra, quan tâm đến dòng kiều hối giữa các nước tác động với nhau như nghiên cứu của Ilahi và Shendy Các tài liệu trước đây về tác động tăng trưởng của Kiều hối lên các nước nhận là khá mơ hồ Theo lý thuyết, kiều hối có thể hỗ trợ tăng trưởng thông qua tăng cường đầu tư vào vốn vật chất, tạo điều kiện hình thành nguồn vốn nhân lực

và đào sâu hệ thống tài chính của nền kinh tế nước nhận Nhưng nguồn kiều hối có thể còn làm giảm tăng trưởng thông qua hiệu ứng căn bệnh Hà Lan trên tỷ giá hối đoái thực (Chami và cộng sự, 2008) Bằng chứng thực nghiệm không ủng hộ mạnh mẽ quan điểm rằng Kiều hối thúc đẩy đầu tư và tăng trưởng (Chami và cộng sự, 2008; Lucas, 2005) Bằng chứng từ những nước gửi lao động đến GCC chỉ ra rằng các dòng kiều hối chủ yếu dẫn tới các cuộc bùng nổ tiêu dùng, và chủ yếu chuyển thành xây dựng nhà ở

và mua đồ dùng lâu bền (Taylor và cộng sự, 1996) Mặc khác cũng có một vài bằng chứng của tác động tích cực gián tiếp lên tăng trưởng tài chính ở các nước nhận (ở các nước Trung Đông) (Billmeier và Massa, 2007) Tuy nhiên, theo dữ liệu từ World Bank dòng kiều hối từ Trung Quốc đến các nước không đáng kể, nên chúng ta sẽ bỏ qua yếu

tố này khi xem xét mối tác động của Trung Quốc đến các nước trong khu vực

Trang 26

2.2 Vai trò của Trung Quốc đối với các nước Châu Á

Sau Nhật Bản và những con hổ Châu Á (Nam Hàn Quốc, Singapo, Đài Loan, và HongKong), Trung Quốc được chú ý như một trong những nền kinh tế mới nổi của Châu Á đang trên đường phát triển nhanh chóng, và sắp tới là Ấn Độ Sự trỗi dậy của Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng với sự tăng trưởng của Hoa Kỳ từ thế kỷ trước

Sự tăng trưởng bền vững và mạnh mẽ của một cường quốc thế giới trong tương lai là những gì chúng ta đang chứng kiến Tác động của một Trung Quốc đang trên đà bùng

nổ đến các nước phát triển và đang phát triển được kỳ vọng rất lớn

Theo dữ liệu thống kê của Eropean Commission3, Trung Quốc hiện nay vẫn là quốc gia

có dân số đông nhất thế giới (chiếm gần 1/5 dân số thế giới), tỷ lệ tăng trưởng GDP luôn được duy trì ở mức cao, tỷ lệ lạm phát duy trì ổn định ở một con số Những điều này cho thấy sự lớn mạnh của Trung Quốc không chỉ có ở Quy mô quốc gia mà còn ở

sự tăng trưởng ổn định qua các năm

Trung Quốc hiện nay đã trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới (từ đầu 2007), mức

độ tăng trưởng nhanh hơn bất kỳ các nước lớn nào khác và đang trong quá trình để vượt qua Hoa Kỳ - nền kinh tế lớn nhất thế giới trong vòng hai thập kỷ qua Năm 2014, tốc độ tăng trưởng GDP Hoa Kỳ đạt 2.39% (tổng GDP (PPP) là 17,419 tỷ USD) trong khi tốc độ tăng trưởng GDP Trung Quốc đạt 7.35% (tổng GDP (PPP) là 18,030 tỷ USD) (nguồn: World Bank) Nhiều nhà kinh tế quốc tế tin rằng tốc độ tăng trưởng kinh

tế của Trung Quốc trên thực tế đã bị báo cáo giảm so với số liệu thực trong giai đoạn từ thập niên 1990 đến thập niên 2000, không phản ánh đủ sự đóng góp của các doanh nghiệp tư nhân vào sự tăng trưởng này Các quan sát khác dựa trên các tiêu chí như tiêu thụ năng lượng, cho tằng tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc thực sự cao hơn so với con số công bố chính thức Tuy nhiên, cũng có nhiều chuyên gia cho rằng phương

3

Website: http://ec.europa.eu/trade/

Trang 27

pháp thống kê tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc là lạc hậu và làm cho con số tốc độ tăng trưởng cao hơn thực tế Dù mức độ tăng trưởng kinh tế Trung Quốc tạm được điều chỉnh lại nhưng con số tỷ lệ tăng trưởng trung bình 7-8% GDP của Trung Quốc vẫn là con số ấn tượng qua mỗi năm Biểu đồ 2.1 và bảng 2.1 cho thấy tốc độ tăng trưởng nền kinh tế của Trung Quốc vượt qua khối các nước OECD cũng như trung bình toàn thế giới.

Biểu đồ 2.1: Tốc độ tăng trưởng GDP của Trung Quốc (từ 2000 – 2014)

Nguồn: World Bank

Ở biểu đồ 2.1, ta thấy tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc đều vượt trội so với OECD

và thế giới Ta thấy rằng tốc độ tăng trưởng của OECD và thế giới khá tương đồng với nhau Đỉnh tăng trưởng của Trung Quốc đạt 14.19% (năm 2007) trong khi thế giới và OECD chỉ đạt gần 4% Cùng với khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008, tỷ lệ tăng trưởng GDP của thế giới và OECD giảm trầm trọng Tốc độ tăng trưởng của OECD giảm xuống -3.56% (năm 2009), còn ở Trung Quốc nền kinh tế có suy giảm hơn nhưng vẫn ở mức tăng trưởng cao đạt 9.23% trong cùng năm

Ngày đăng: 03/02/2023, 18:12

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w