1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu kết quả test nhanh virus dengue và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện e năm 2019 2020

64 5 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu kết quả test nhanh virus dengue và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện E năm 2019-2020
Tác giả Đỗ Thị Thùy
Người hướng dẫn ThS. BS. Đỗ Thị Quỳnh, TS. BS. Bùi Thị Thu Hoài
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội - Trường Đại học Y Dược
Chuyên ngành Y dược
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN (11)
    • 1.1. Tổng quan về bệnh sốt xuất huyết Dengue (11)
      • 1.1.1. Lịch sử và dịch tễ học bệnh sốt xuất huyết (11)
      • 1.1.2. Nguyên nhân gây bệnh (13)
      • 1.1.3. Vector gây bệnh – muỗi Aedes aegypti (14)
      • 1.1.4. Cơ chế bệnh sinh (15)
    • 1.2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng theo giai đoạn bệnh (15)
      • 1.2.1. Giai đoạn sốt (15)
      • 1.2.2. Giai đoạn nguy hiểm (16)
      • 1.2.3. Giai đoạn hồi phục (16)
    • 1.3. Các xét nghiệm nhanh chẩn đoán căn nguyên vi rút (17)
      • 1.3.1. Xét nghiệm nhanh tìm kháng nguyên NS1 (17)
      • 1.3.2. Xét nghiệm nhanh tìm kháng thể IgM, IgG (18)
  • CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (21)
    • 2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu (21)
      • 2.1.1. Đối tượng nghiên cứu (21)
      • 2.1.2. Địa điểm nghiên cứu (21)
      • 2.1.3. Thời gian nghiên cứu (21)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (21)
      • 2.2.1. Thiết kế nghiên cứu (21)
      • 2.2.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu (21)
      • 2.2.3. Nội dung nghiên cứu (21)
    • 2.3. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu (22)
    • 2.4. Đạo đức trong nghiên cứu (22)
  • CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ (23)
    • 3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (23)
      • 3.1.1. Đặc điểm dịch tễ (23)
      • 3.1.2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng (24)
      • 3.2.1. Phân bố kết quả xét nghiệm nhanh và đặc điểm của đối tượng (27)
      • 3.2.2. Phân bố kết quả xét nghiệm nhanh theo thời gian (30)
  • CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN (0)
    • 4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (39)
    • 4.2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng (40)
    • 4.3. Mối liên hệ của kết quả xét nghiệm nhanh NS1, IgM, IgG và các yếu tố liên quan (41)
      • 4.3.1. Mối quan hệ của kết quả NS1, IgM, IgG và các đặc điểm của đối tượng (41)
      • 4.3.2. Mối quan hệ giữa kết quả xét nghiệm nhanh NS1, IgM, IgG và thời (43)
  • KẾT LUẬN (45)

Nội dung

Mối quan hệ giữa kết quả xét nghiệm nhanh NS1, IgM, IgG với các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu .... Hiện nay, chẩn đoán xác định SXHD trong phòng thí nghiệm chủ yếu dựa trên các xét n

TỔNG QUAN

Tổng quan về bệnh sốt xuất huyết Dengue

Sốt xuất huyết Dengue là bệnh truyền nhiễm cấp tính gây dịch do 4 tuýp virus Dengue gây ra, lây truyền qua muỗi Aedes aegypti Bệnh đặc trưng bởi triệu chứng sốt cao, xuất huyết và thoát huyết tương, có thể dẫn đến sốc và tử vong nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời Muỗi Aedes aegypti đóng vai trò trung gian truyền bệnh chính, khiến việc phòng ngừa muỗi đốt là yếu tố quan trọng trong việc kiểm soát dịch bệnh sốt xuất huyết.

1.1.1 Lịch sử và dịch tễ học bệnh sốt xuất huyết

Benjamin Rush đã mô tả ca bệnh sốt xuất huyết đầu tiên vào năm 1780 ở Philadelphia và gọi là “sốt gãy xương” để phản ánh các triệu chứng đau cơ, đau khớp của bệnh nhân Thuật ngữ “sốt xuất huyết” được sử dụng phổ biến sau năm 1828 Vào những năm 1780, các đợt dịch sốt xuất huyết đầu tiên được công nhận là xảy ra gần như đồng thời tại Châu Á, Châu Phi và Bắc Mỹ, sau đó lan rộng ra nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ khác Sự lan truyền nhanh chóng này chủ yếu do sự mở rộng của ngành vận tải biển toàn cầu và sự phát triển của các thành phố cảng trong thế kỷ 18 và 19, khiến muỗi và virus dễ dàng xâm nhập và gây bệnh ở các khu vực mới.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trước năm 1970, chỉ có 9 quốc gia ghi nhận các dịch sốt xuất huyết nghiêm trọng, nhưng tỷ lệ mắc bệnh đã tăng đáng kể trong những thập kỷ gần đây Hiện nay, số ca bệnh SXHD đã lưu hành tại hơn 100 quốc gia thuộc WHO, với ước tính khoảng 390 triệu ca nhiễm Dengue mỗi năm, trong đó 96 triệu là các trường hợp có biểu hiện lâm sàng Năm 2016 nổi bật với các đợt bùng phát lớn diễn ra tại Nam Mỹ, Tây Thái Bình Dương và châu Phi, chứng tỏ sự lan rộng ngày càng nghiêm trọng của dịch bệnh này.

Năm 2017, số ca mắc SXHD tại Châu Mỹ giảm đáng kể 73% sau giai đoạn bùng phát dịch Zika Tuy nhiên, năm 2019 ghi nhận sự trở lại mạnh mẽ của bệnh, với hơn 5,2 triệu ca mắc mới, mức cao nhất từ trước đến nay Theo thông báo ngày 13/8/2020 của WHO, nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới vẫn ghi nhận số ca mắc và tử vong cao, đặc biệt tập trung ở các nước Đông Nam Á như Malaysia (66.199 ca mắc / 109 tử vong) và Philippines (55.160 ca mắc).

200 tử vong) Khu vực châu Mỹ La Tinh, đã ghi nhận tổng số 1.992.477 mắc,

725 tử vong, cao nhất là Brazil (1.330.245/465), Paraway (220.234/73) [10]

Sự gia tăng đáng báo động số ca mắc sốt xuất huyết phản ánh mức độ nghiêm trọng của bệnh này trên toàn cầu, trong đó châu Á chịu tới 70% gánh nặng bệnh tật Đặc biệt, khu vực Đông Nam Á, bao gồm Việt Nam, là điểm nóng của dịch bệnh, cho thấy nhu cầu cấp thiết trong việc kiểm soát và phòng ngừa sốt xuất huyết để giảm thiểu tác động tới sức khỏe cộng đồng.

Tại Việt Nam, SXHD lần đầu tiên được ghi nhận từ những năm 1959-

1960 qua các vụ dịch ở Hà Nội và Cái Bè (Tiền Giang) Tính đến năm 1963,

SXHD đã trở thành vấn đề sức khỏe lớn, là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến nhập viện và tử vong trong nước Trước năm 1999, Việt Nam đã trải qua hai vụ dịch lớn với số ca mắc và tử vong đáng kể; năm 1987, có 354.517 trường hợp mắc theo WHO (1997), và năm 1998, miền Nam ghi nhận 119.429 ca mắc SXHD với 342 trường hợp tử vong, tỷ lệ mắc là 438,98/100.000 dân và tỷ lệ tử vong chiếm 0,29% tổng số ca nhiễm.

Hình 1 1 Số ca mắc và tử vong sốt xuất huyết được báo cáo ở Việt Nam giai đoạn 2007-2016 [12]

Kể từ năm 1999, việc thành lập và thực hiện Chương trình phòng chống sốt xuất huyết quốc gia đã giúp Việt Nam kiểm soát tử vong do sốt xuất huyết gây ra Sau 2005, tỷ lệ tử vong duy trì dưới 1 trên 1000 ca, chứng tỏ hiệu quả của chương trình, nhưng số ca hàng năm vẫn tăng cao, trung bình 90.844 ca từ 2007 đến 2016 Các đợt bùng phát sốt xuất huyết thường lớn hơn và diễn ra thường xuyên hơn ở các tỉnh phía Nam, với tỷ lệ nhiễm cao nhất từ tháng 6 đến tháng 10 hàng năm Năm 2010 ghi nhận số ca mắc và tử vong cao nhất, sau đó giảm dần qua các năm và có xu hướng bùng phát trở lại từ năm 2016.

Dịch sốt xuất huyết năm 2017 diễn ra với quy mô lớn hơn các năm trước về thời gian, địa điểm và số lượng bệnh nhân, với bệnh nhân nhập viện chủ yếu từ tháng 8 đến tháng 12 tại 53 tỉnh thành, tỷ lệ tử vong lên tới 0,8% Theo WHO, tính đến tháng 2 năm 2021, Việt Nam ghi nhận tổng cộng 13.892 trường hợp mắc SXHD, trong đó có 3 trường hợp tử vong, giảm so với 17.443 ca trong cùng kỳ năm 2020 nhưng dịch bệnh vẫn diễn biến rất phức tạp.

Bệnh SXHD vẫn tiếp tục diễn ra phức tạp dù đã lưu hành qua nhiều thập kỷ, với số ca nhiễm hàng năm có xu hướng gia tăng Tình hình dịch bệnh ngày càng trở nên đáng lo ngại, gây áp lực lớn cho nền kinh tế và hệ thống chăm sóc sức khỏe Để kiểm soát và giảm thiểu tác động của bệnh, cần thiết phải triển khai các biện pháp can thiệp hiệu quả và phù hợp.

DENV là thành viên của chi Flavivirus trong họ Flaviviridae

Flavivirus bao gồm các loại vi rút gây bệnh nghiêm trọng cho humans như vi rút sốt vàng da, vi rút West Nile, vi rút viêm não Nhật Bản và vi rút viêm não do ve DENV (vi rút sốt xuất huyết) lần đầu tiên được nghiên cứu và phân lập bởi các nhà vi sinh học Ren Kimura và Susumu Hotta từ mẫu máu bệnh nhân trong trận dịch sốt xuất huyết năm 1943 ở Nagasaki, Nhật Bản Hai nhà khoa học đã xác định thành công vi rút sốt xuất huyết huyết thanh thể 1 (DENV-1), mở ra bước ngoặt quan trọng trong nghiên cứu về bệnh sốt xuất huyết.

DENV có hình dạng cầu với đường kính khoảng 50 nm và bộ gen là một sợi ARN đơn dương, giúp vi rút có khả năng dịch mã trực tiếp thành protein Các sản phẩm của quá trình dịch mã gồm 10 protein, trong đó có 3 protein cấu trúc (capsid (C), màng (M), vỏ (E)) tạo thành cấu trúc chính của virus, cùng với 7 protein phi cấu trúc (NS1, NS2A, NS2B, NS3, NS4A, NS4B và NS5) đóng vai trò quan trọng trong quá trình sao chép và lắp ráp của vi rút.

Vi rút Dengue xâm nhập vào tế bào vật chủ qua quá trình endocytosis, sau đó hợp nhất với màng nội bào tử để giải phóng bộ gen vào tế bào chất RNA của vi rút được dịch mã thành các protein, trong đó bộ gen của vi rút được sao chép để tạo ra các vi rút mới Quá trình lắp ráp và trưởng thành của vi rút diễn ra trên bề mặt lưới nội chất và mạng lưới Golgi, sau đó các vi rút trưởng thành được giải phóng và tiếp tục lây nhiễm sang các tế bào khác, gây dịch bệnh dengue.

DENV được chia thành 4 tuýp huyết thanh là DEN-1, DEN-2, DEN-3 và DEN-4, mỗi loại tương tác khác nhau với kháng thể trong huyết thanh của người bệnh Mức độ giống nhau về cấu trúc, chia sẻ khoảng 65% bộ gen, nhưng mỗi tuýp có sự biến thể di truyền riêng Dù nhiễm bất kỳ tuýp huyết thanh nào của DENV đều gây sốt xuất huyết (SXHD) với các triệu chứng lâm sàng tương tự nhau Trong thập niên 1970, DEN-1 và DEN-2 xuất hiện tại Trung Mỹ và Châu Phi, còn cả 4 tuýp huyết thanh đã có mặt tại Đông Nam Á Đến năm 2004, phân bố địa lý của các tuýp huyết thanh lan rộng, hiện nay, cả 4 loại thường lưu hành đồng thời ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên toàn thế giới.

Tại Việt Nam, cả 4 tuýp huyết thanh DENV lưu hành đồng thời, nhưng sự phân bố của chúng thay đổi qua các vụ dịch, với một tuýp huyết thanh chiếm ưu thế trong từng đợt dịch Ví dụ, năm 2011, nghiên cứu trên 140 bệnh nhân nhập viện chẩn đoán sốt xuất huyết cho thấy chủng DENV2 chiếm tới 88,73% ca, trong khi chủng DENV1 chỉ chiếm 11,27% Trong khi đó, năm 2017, 92% ca nhiễm thuộc chủng DENV1, còn DENV2 chiếm 7,3% và DENV3,4 chỉ chiếm 0,7%.

1.1.3 Vector gây bệnh – muỗi Aedes aegypti

Vi rút Dengue lây truyền sang người qua vết đốt của muỗi mang bệnh trong chi Aedes, đặc biệt là muỗi Aedes aegypti, được coi là tác nhân chính truyền bệnh sốt xuất huyết tại Việt Nam Muỗi Aedes albopictus cũng tham gia vào quá trình lây truyền các bệnh do virus như sốt vàng, Zika, và Chikungunya Với hơn 950 loài, muỗi Aedes gây ra nhiều phiền hà do hoạt động đốt người và súc vật trên khắp thế giới, đe dọa sức khỏe cộng đồng.

Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng theo giai đoạn bệnh

Bệnh nhân xuất hiện sốt cao đột ngột, liên tục, có thể lên đến 39-40°C kèm các triệu chứng như nhức đầu, chán ăn, buồn nôn, đau cơ, đau khớp và nhức hai hốc mắt Khám thực thể có thể thấy da sung huyết, chấm xuất huyết dạng nốt dưới da, chảy máu chân răng hoặc chảy máu mũi, và nghiệm pháp dây thắt dương tính Trong giai đoạn này, các xét nghiệm thường cho kết quả hematocrit bình thường, số lượng tiểu cầu bình thường hoặc giảm dần nhưng còn trên 100.000/mm³, và số lượng bạch cầu thường giảm.

Trong giai đoạn từ ngày thứ 3 đến 7 của bệnh, người bệnh có thể vẫn còn sốt hoặc đã giảm sốt Triệu chứng chủ yếu tập trung vào đường tiêu hóa như đau bụng nhiều, liên tục và cảm giác đau tăng về mức độ, đặc biệt ở vùng gan, kèm theo hiện tượng nôn ói.

Triệu chứng thực thể phổ biến của bệnh là xuất huyết dưới da (XHDD), có thể kèm theo xuất huyết niêm mạc và nội tạng, thường xuất hiện dưới dạng nốt, rải rác hoặc chấm xuất huyết ở mặt trước hai cẳng chân, mặt trong hai cánh tay, bụng, đùi, mạn sườn hoặc mảng bầm tím Ngoài ra, xuất huyết niêm mạc như chảy máu chân răng, chảy máu mũi, nôn ra máu, đi ngoài phân đen, xuất huyết âm đạo hoặc tiểu máu cũng thường gặp Trường hợp xuất huyết nặng có thể gây chảy máu nhiều như chảy máu mũi cần nhét bấc cầm máu, xuất huyết âm đạo nặng, xuất huyết nội tạng như phổi, não, gan, lách, thận, đi kèm với sốc, giảm tiểu cầu, thiếu oxy mô và toan chuyển hóa, có thể dẫn đến suy đa phủ tạng và đông máu nội mạch nặng Ngoài ra, xuất huyết nặng còn xảy ra ở những người dùng thuốc kháng viêm như aspirin, ibuprofen hoặc corticoid, đặc biệt ở bệnh nhân có tiền sử loét dạ dày-tá tràng và viêm gan mãn.

Bệnh nhân có thể xuất hiện các triệu chứng của thoát huyết tương do tăng tính thấm thành mạch, thường kéo dài 24-48 giờ, như tràn dịch màng phổi, phù mô kẽ có thể gây suy hô hấp Ngoài ra, các biểu hiện khác bao gồm phù nề mi mắt và tràn dịch ổ bụng Trong trường hợp thoát huyết tương nhiều, có thể dẫn đến sốc với các triệu chứng như vật vã, bứt rứt, li bì, lạnh đầu chi, mạch nhanh nhỏ, huyết áp kẹt khi hiệu số huyết áp tối đa và tối thiểu bị giảm.

Trong các trường hợp sốc nặng, có thể xuất hiện các triệu chứng như huyết áp giảm dưới 20mmHg hoặc tụt huyết áp không đo được, mạch không bắt được, da lạnh, nổi vân tím, và tiểu ít Đồng thời, bệnh nhân có thể bị suy tạng như tổn thương gan (viêm gan, suy gan), tổn thương thận cấp, hoặc tổn thương não gây rối loạn ý thức Các biến chứng khác bao gồm viêm cơ tim và suy tim, phản ánh mức độ nghiêm trọng của tình trạng sốc.

Các xét nghiệm cận lâm sàng trong giai đoạn này: Hematocrit tăng trên

Mức giảm số lượng tiểu cầu xuống dưới 100.000/mm3 so với giá trị ban đầu của người bệnh hoặc trung bình của dân số cùng lứa tuổi có thể gây ra các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng Dù vậy, các xét nghiệm chức năng gan thận thường vẫn bình thường ở giai đoạn ban đầu Siêu âm giúp phát hiện các dấu hiệu tràn dịch màng bụng và màng phổi, đặc biệt trong các trường hợp nặng có thể dẫn đến rối loạn đông máu.

Trong giai đoạn này, bệnh nhân bắt đầu từ ngày thứ 7-10 sau khi mắc bệnh, khi các triệu chứng sốt đã khỏi, tình trạng toàn thân trở nên tốt lên, thèm ăn hơn, huyết động ổn định và đi tiểu nhiều hơn Một số người có thể xuất hiện các biểu hiện như phát ban hồi phục hoặc ngứa ngoài da, nhịp tim chậm hoặc không đều, hoặc suy hô hấp do quá tải dịch truyền Về mặt cận lâm sàng, hematocrit trở về bình thường hoặc thấp hơn do hiện tượng pha loãng máu khi dịch được tái hấp thu, còn số lượng bạch cầu thường tăng lên sớm sau giai đoạn hạ sốt Số lượng tiểu cầu dần trở về mức bình thường, nhưng muộn hơn so với bạch cầu, và các chỉ số AST, ALT có xu hướng giảm xuống.

Các xét nghiệm nhanh chẩn đoán căn nguyên vi rút

Chẩn đoán sớm bệnh sốt xuất huyết Dengue (SXHD) đóng vai trò quan trọng trong việc theo dõi và phát hiện những trường hợp có nguy cơ tiến triển nặng Hiện nay, có ba phương pháp chính trong phòng thí nghiệm để xác định mắc SXHD gồm phân lập vi rút, RT-PCR và xét nghiệm Elisa tìm kháng nguyên hoặc kháng thể DENV, đều có độ nhạy và độ đặc hiệu cao nhưng yêu cầu cơ sở vật chất và kỹ thuật viên được đào tạo bài bản, tốn nhiều thời gian Để khắc phục, các bộ xét nghiệm nhanh (RDTs) đã được sản xuất để phát hiện nhiễm DENV nhanh chóng tại hiện trường và các cơ sở y tế hạn chế về nguồn lực, với nhu cầu sử dụng ngày càng tăng trong 5 năm qua.

Các nghiên cứu đánh giá RTDs chứng minh rằng chúng có nhiều ưu điểm như nhanh chóng, dễ áp dụng, cùng với độ nhạy và đặc hiệu cao, giúp chẩn đoán nhanh chóng các trường hợp mắc DENV Các xét nghiệm nhanh này đều dựa trên công nghệ sắc ký miễn dịch để xác định chính xác nhiễm DENV Trên thị trường có nhiều bộ dụng cụ RDTs được phân thành hai nhóm chính, phù hợp với các nhu cầu chẩn đoán khác nhau.

1.3.1 Xét nghiệm nhanh tìm kháng nguyên NS1

NS1 là protein phi cấu trúc dạng glycoprotein, đóng vai trò quan trọng trong phản ứng miễn dịch khi nhiễm virus, đặc biệt trong giai đoạn sớm của bệnh Kháng nguyên NS1 lưu hành trong huyết thanh bệnh nhân từ ngày đầu tiên đến ngày thứ 9 sau khi sốt xuất hiện, có thể phát hiện trước khi xuất hiện kháng thể Dengue IgM và IgG, kể cả khi Dengue-RNA còn âm tính Đáp ứng miễn dịch tạo ra kháng thể IgM và IgG kháng DENV, giúp xác định nhiễm virus sớm và chính xác Các xét nghiệm NS1 RDTs có độ nhạy và độ đặc hiệu lần lượt khoảng 83%, cho phép phát hiện cả 4 tuýp DENV, đặc biệt hiệu quả khi mẫu bệnh phẩm lấy vào ngày thứ 2 sau khởi phát bệnh, đạt độ tương đồng cao đến 90,7% so với kỹ thuật RT-PCR Ngoài ra, giá trị dự đoán dương tính và âm tính của thử nghiệm nhanh NS1 lần lượt là 69,4% và 74,6%, cho thấy độ chính xác trung bình khoảng 72,2%.

1.3.2 Xét nghiệm nhanh tìm kháng thể IgM, IgG

Globulin miễn dịch, hay còn gọi là Immunoglobulin (Ig), là các phân tử glycoprotein chịu trách nhiệm chống lại bệnh truyền nhiễm và tác nhân lạ xâm nhập cơ thể Có năm loại immunoglobulin chính trong huyết thanh là IgG, IgM, IgA, IgE và IgD Kháng thể IgM phản ứng nhanh nhất khi cơ thể đối diện với nhiễm khuẩn mới hoặc kháng nguyên lạ, cung cấp sự bảo vệ tạm thời trong thời gian ngắn IgM bắt đầu xuất hiện từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 5 sau khi nhiễm bệnh và tồn tại trong khoảng thời gian nhất định để giúp bảo vệ cơ thể.

Kháng thể IgG đặc hiệu thường xuất hiện sau 30 đến 60 ngày, được tạo ra trong quá trình nhiễm trùng ban đầu hoặc qua tiếp xúc với các kháng nguyên khác Trong SXHD, IgG bắt đầu xuất hiện vào ngày thứ 6 của bệnh, tăng lên sau vài tuần và đạt đỉnh ở tuần thứ 2 đến tuần thứ 3, sau đó tồn tại suốt đời Nhiễm DENV lần đầu làm tăng nồng độ IgG trong vòng 2 ngày kể từ khi có triệu chứng, giúp nhận biết các trường hợp nhiễm trùng lặp lại.

Hình 1 3 Sự xuất hiện và động học của kháng nguyên, kháng thể

Dengue vi rút trong máu [7]

Phương pháp xét nghiệm nhanh giúp đánh giá gián tiếp sự nhiễm vi rút Dengue thông qua việc phát hiện kháng thể IgM và IgG, với thời điểm xuất hiện trong máu muộn hơn so với kháng thể NS1 Các bộ xét nghiệm RDTs IgM/IgG được chỉ định từ ngày thứ 3-4 sau khi bắt đầu sốt, trong đó bộ IgM RDTs có thể phát hiện IgM sớm nhất từ 3-5 ngày và muộn nhất từ 2-3 tháng, phù hợp chẩn đoán nhiễm sốt xuất huyết nguyên phát Bộ IgG RDTs có khả năng phát hiện bệnh sau ngày thứ 10 sau khi nhiễm Đặc biệt, đối với các trường hợp nhiễm trùng lần thứ hai trở đi, tất cả các bộ dụng cụ IgM và IgG RDT đều có thể phát hiện DENV trong vòng 1-2 ngày sau khi triệu chứng xuất hiện, giúp chẩn đoán nhanh chóng và chính xác hơn.

Hình 1 4 Thời điểm phát hiện kháng nguyên, kháng thể Dengue vi rút trong máu [7]

IgM ELISA được xem là tiêu chuẩn vàng để phát hiện nhiễm DENV trong giai đoạn hồi phục, vì kết quả dương tính của nó đạt 100% So sánh giữa xét nghiệm nhanh IgM (RDTs) và IgM ELISA cho thấy, IgM RDTs có độ nhạy là 75,6% và độ đặc hiệu là 97,1%, phản ánh mức độ chính xác của các phương pháp xét nghiệm này Nghiên cứu của Woong Sik Jang tại Myanmar cho thấy tầm quan trọng của kiểm tra IgM trong chẩn đoán lâm sàng bệnh dengue.

(2019) đánh giá độ nhạy và đặc hiệu của 3 bộ RDTs thương mại của Humasis,

Bộ xét nghiệm SD Bioline và CareUS của SD Biolin đều có độ đặc hiệu lên tới 100%, mang lại khả năng chính xác cao trong chẩn đoán Độ nhạy của các xét nghiệm này dao động từ 63% đến 96%, đảm bảo độ nhạy phù hợp để phát hiện bệnh ở các giai đoạn khác nhau Trong đó, xét nghiệm NS1/IgM của SD Bioline và CareUS thể hiện giá trị chẩn đoán cao nhất, hỗ trợ đắc lực trong việc xác định chính xác bệnh nhanh chóng và tin cậy.

Bảng 1 1 Đánh giá độ nhạy độ đặc hiệu của 3 bộ xét nghiệm nhanh của một số bộ test thương mại [21]

Công ty Test Độ nhạy Độ đặc hiệu

Hiện nay, người ta sử dụng kết hợp các bộ xét nghiệm nhanh (RDTs) phát hiện NS1, IgM, IgG hoặc phối hợp cả IgM và IgG trong cùng một bộ thử để loại bỏ nhược điểm về thời gian phát hiện kháng nguyên và kháng thể trong máu cũng như nâng cao độ chính xác Sự kết hợp này đã được chứng minh có ưu điểm vượt trội so với việc sử dụng riêng lẻ từng loại RDTs Đặc biệt, việc kết hợp giữa NS1, IgM và IgG trong cùng một bộ xét nghiệm có thể làm tăng độ nhạy của xét nghiệm lên tới 82,4%, giúp phát hiện bệnh hiệu quả và nhanh chóng hơn.

Hiện nay, các xét nghiệm nhanh (RDTs) ngày càng phổ biến trong chẩn đoán SXHD nhờ tính tiện lợi và hiệu quả Việc hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả RDTs là hết sức cần thiết để nâng cao độ chính xác trong chẩn đoán Tuy nhiên, tại Việt Nam cũng như trên thế giới, nghiên cứu về đặc điểm bệnh nhân và kết quả của các xét nghiệm nhanh như NS1, IgM, IgG còn hạn chế Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm khám phá mối liên hệ giữa đặc điểm của bệnh nhân và kết quả của các xét nghiệm nhanh nhằm nâng cao hiệu quả chẩn đoán SXHD.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Tiêu chuẩn lựa chọn: Bệnh nhân được chẩn đoán sốt xuất huyết theo tiêu chuẩn của bộ y tế 2019 [2] và tự nguyện tham gia vào nghiên cứu

- Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân không đủ sức khỏe để tham gia trả lời các câu hỏi trong nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại khoa Bệnh nhiệt đới, bệnh viện E

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 7/2019 đến tháng 7/2020

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang

2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

Chúng tôi sử dụng phương pháp chọn mẫu không xác xuất và thuận tiện để đảm bảo phù hợp với mục tiêu nghiên cứu Cụ thể, mẫu nghiên cứu bao gồm tất cả các bệnh nhân đáp ứng các tiêu chuẩn chọn mẫu đã đề ra Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, chúng tôi đã tuyển chọn thành công tổng cộng 312 bệnh nhân tham gia vào nghiên cứu của mình.

2.2.3 Nội dung nghiên cứu a Các bước tiến hành:

Bệnh nhân được chẩn đoán SXHD thông qua việc thu thập tiền sử, bệnh sử và khám lâm sàng để xác định triệu chứng đặc trưng Đồng thời, các xét nghiệm cận lâm sàng như công thức máu, xét nghiệm nhanh NS1, IgM, IgG được thực hiện để hỗ trợ chẩn đoán chính xác Chúng tôi sử dụng bộ test thương mại SD Bioline để đảm bảo độ chính xác và độ tin cậy trong kết quả xét nghiệm.

Các số liệu được thu thập từ khi bệnh nhân nhập viện cho đến khi ra viện, sau đó được phân thành ba nhóm dựa trên thời điểm nhập viện Nhóm 1 gồm các bệnh nhân nhập viện trong 1-3 ngày đầu sau khi xuất hiện sốt, nhóm 2 từ ngày thứ 4 đến ngày thứ 6, và nhóm 3 từ ngày thứ 7 trở đi sau khi có biểu hiện sốt Tất cả thông tin đều được ghi nhận trong hồ sơ bệnh án để phục vụ nghiên cứu Các biến số nghiên cứu tập trung vào đặc điểm dịch tễ của bệnh nhân, nhằm phân tích và so sánh các yếu tố liên quan đến thời điểm nhập viện sau khi mắc sốt.

- Bệnh nhân được chia làm các nhóm tuổi: dưới 40 tuổi, từ 40-60 tuổi, và trên 60 tuổi

- Giới tính: Chia nhóm bệnh nhân nam và nữ

- Tiền sử bệnh tật: tiền sử mắc SXHD lần đầu tiên hoặc đã mắc từ lần thứ

2 trở đi Đặc điểm lâm sàng:

- Triệu chứng cơ năng: Sốt> 38.5 0 C, mệt mỏi, đau cơ, chán ăn, buồn nôn, đau bụng

- Triệu chứng thực thể: xuất huyết dưới da, xuất huyết niêm mạc, xuất huyết nội tạng

- Chỉ số BMI: chúng tôi sử dụng phân loại BMI theo WHO đối với người châu Á: Gầy ≤ 18,5 kg/m 2 ; trung bình 18,5- 25 kg/m 2 ; Thừa cân béo phì

≥ 25 kg/m 2 và chia làm hai nhóm đối tượng có thừa cân béo phì (BMI >

25 kg/m 2 ) và không thừa cân béo phì (BMI < 25 kg/m 2 ) Đặc điểm cận lâm sàng:

Công thức máu cho thấy số lượng tiểu cầu được phân thành hai nhóm: dưới 150.10⁹/L và trên 150.10⁹/L Chỉ số bạch cầu đa nhân chia thành hai mức rõ rệt: trên 65% và dưới 65% Test nhanh gồm các loại như NS1-Ag, IgM, IgG, với kết quả có thể âm tính hoặc dương tính, giúp chẩn đoán chính xác Phương pháp thu thập số liệu được thực hiện theo quy trình chuẩn, đảm bảo độ chính xác và tin cậy của kết quả nghiên cứu.

Chúng tôi thu thập toàn diện các thông tin của bệnh nhân đang điều trị tại khoa từ khi nhập viện đến khi xuất viện, bao gồm dữ liệu lâm sàng, tiền sử bệnh qua hỏi bệnh và khám lâm sàng Các kết quả cận lâm sàng từ bệnh án tại khoa được ghi nhận đầy đủ để đảm bảo tính chính xác và toàn diện của bệnh án nghiên cứu Thông tin thu thập được giúp xây dựng hồ sơ bệnh án nghiên cứu chi tiết, hỗ trợ phân tích và đưa ra các kết luận chính xác về quá trình điều trị và diễn biến bệnh của bệnh nhân.

Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

Sau khi thu thập dữ liệu, chúng tôi đã nhập và làm sạch dữ liệu bằng phần mềm Excel 2010 để đảm bảo độ chính xác và nhất quán Tiếp theo, dữ liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS 22.0 sử dụng các phương pháp thống kê phù hợp nhằm đưa ra các kết quả đáng tin cậy và rõ ràng.

Phương pháp thống kê tỷ lệ phần trăm (%) được sử dụng để phân tích các biến số định tính, giúp xác định tỷ lệ phần trăm xuất hiện của từng giá trị trong tập dữ liệu Trong khi đó, giá trị trung bình và độ lệch chuẩn là các công cụ thống kê quan trọng dành cho các biến số định lượng, giúp mô tả trung tâm của dữ liệu và mức độ phân tán xung quanh trung tâm đó Việc áp dụng đúng các phương pháp này sẽ nâng cao độ chính xác và hiệu quả trong quá trình phân tích dữ liệu nghiên cứu.

Kiểm định χ² là phương pháp thống kê dùng để xác định sự khác biệt giữa các tỉ lệ của các biến số khi so sánh từ hai nhóm trở lên Phương pháp này giúp xác định xem sự khác nhau đó có ý nghĩa thống kê hay không, với ngưỡng ý nghĩa là p < 0,05 Sử dụng kiểm định χ² giúp các nhà nghiên cứu đưa ra kết luận chính xác về mối liên hệ giữa các biến số trong các nghiên cứu xã hội và y học.

Đạo đức trong nghiên cứu

Bệnh nhân đã được giải thích rõ về mục đích của nghiên cứu và đồng ý tự nguyện tham gia trước khi bắt đầu quá trình hỏi bệnh và thăm khám Việc này đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc đạo đức nghiên cứu, thể hiện sự minh bạch và tôn trọng quyền của bệnh nhân Quy trình này giúp đảm bảo rằng khi tham gia nghiên cứu, bệnh nhân hiểu rõ mục đích và các bước thực hiện, từ đó nâng cao tính tự nguyện và hợp tác của họ.

- Các thông tin cá nhân của bệnh nhân được bảo mật và chỉ dùng cho mục đích nghiên cứu

- Kết quả nghiên cứu đảm bảo tính khoa học, chính xác.

KẾT QUẢ

Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Từ tháng 7/2019 đến tháng 7/2020, chúng tôi đã nghiên cứu 312 bệnh nhân mắc bệnh Dengue, trong đó có yếu tố dịch tễ như tuổi, giới tính, chỉ số khối cơ thể và tiền sử mắc SXHD Độ tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân SXHD là 43,64 ± 19,59, với mức tuổi thấp nhất 8 và cao nhất 94 Phân tích theo nhóm tuổi cho thấy có sự khác biệt đáng kể trong các yếu tố liên quan đến bệnh SXHD, giúp hiểu rõ hơn về đặc điểm lứa tuổi của bệnh nhân.

Hình 3 1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi

Dựa trên hình 3.1, tỷ lệ bệnh nhân mắc sốt xuất huyết dengue (SXHD) trong độ tuổi dưới 40 là cao nhất, chiếm 49,6% với 158 bệnh nhân Trong khi đó, tỷ lệ bệnh nhân ở nhóm tuổi từ 40-60 và trên 60 tuổi tương đương nhau lần lượt là 24,5% và 25,0% Điều này cho thấy nhóm tuổi dưới 40 là đối tượng trẻ chiếm ưu thế trong các ca bệnh SXHD, nhưng các nhóm tuổi trên vẫn có tỷ lệ mắc tương đối cao.

Tiếp tục phân tích các đặc điểm dịch tễ về giới tính, chỉ số khối cơ thể và tiền sử mắc SXHD ta được kết quả như Hình 3.2

Hình 3 2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới tính, chỉ số khối và tiền sử mắc sốt xuất huyết

Trong phân tích về giới tính, tỷ lệ mắc Suy Giáp Nội Tiết (SXHD) trong nhóm nghiên cứu là 1:1,2 nam/nữ, với 145 bệnh nhân nam (chiếm 46,5%) và 167 bệnh nhân nữ (chiếm 53,5%) Điều này cho thấy số bệnh nhân nữ mắc SXHD cao hơn nam giới trong khảo sát của chúng tôi.

Phân tích các yếu tố dịch tễ cho thấy, đa số đối tượng không bị thừa cân, béo phì chiếm 89,1%, trong khi chỉ có 10,9% với chỉ số khối cơ thể trên 25 kg/m² Các bệnh nhân mắc SXHD lần đầu chiếm tỷ lệ cao với 82,1% (256 người), còn những người mắc bệnh nhiều lần chỉ chiếm 8,1% (25 người).

3.1.2 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng

Các bệnh nhân tham gia nghiên cứu được tiến hành khám lâm sàng và làm xét nghiệm số lượng tiểu cầu Kết quả được thể hiện trong Bảng 3.1

Bảng 3 1 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng chung của nhóm bệnh nhân mắc sốt xuất huyểt Đặc điểm Số lượng (người) Tỷ lệ (%)

XHDD: xuất huyết dưới da, TC: tiểu cầu

Triệu chứng lâm sàng phổ biến nhất là sốt cao trên 38,5°C, xảy ra ở 99% bệnh nhân Các triệu chứng khác như mệt mỏi (67,3%), đau cơ (44,9%), chán ăn (43,3%) và buồn nôn (36,5%) cũng thường gặp nhưng tỷ lệ thấp hơn so với sốt Trong khi đó, các triệu chứng đau bụng và xuất huyết dịch truyền (XHDD) ít gặp hơn, lần lượt là 7,7% và 3,2% Về cận lâm sàng, phần lớn bệnh nhân (76,3%) có số lượng tiểu cầu giảm dưới 150×10^9/L, thể hiện tình trạng giảm tiểu cầu phổ biến trong nhóm nghiên cứu.

Dựa trên kết quả phân tích, chúng tôi xác định các xu hướng của triệu chứng lâm sàng theo từng giai đoạn sau khi bệnh nhân xuất hiện sốt trên 38,5°C Trong đó, pha 1 diễn ra từ ngày thứ 1-3 sau khi sốt bắt đầu, pha 2 kéo dài từ ngày thứ 4-6, và pha 3 diễn ra từ ngày thứ 7 Các kết quả này được thể hiện rõ ràng trong Hình 3.3, giúp hiểu rõ quá trình diễn biến lâm sàng của bệnh nhân qua các giai đoạn khác nhau. -**Sponsor**Bạn muốn tối ưu hóa bài viết của mình theo chuẩn SEO? Hãy để [Soku AI](https://pollinations.ai/redirect-nexad/AuUWxg2C?user_id=983577) giúp bạn! Dựa trên kết quả nghiên cứu, chúng tôi phân tích xu hướng triệu chứng lâm sàng theo thời gian kể từ khi bệnh nhân sốt trên 38,5 độ C, chia thành ba pha: ngày 1-3, ngày 4-6 và từ ngày thứ 7 Kết quả chi tiết được thể hiện ở Hình 3.3, giúp bạn truyền tải thông tin một cách mạch lạc và hiệu quả.

Hình 3 3 Phân bố các triệu chứng lâm sàng theo thời gian nhập viện sau sốt

XHDD: xuất huyết dưới da

Pha 1: 1-3 ngày sau sốt, pha 2: 4-6 ngày sau sốt, pha 3: sau 7 ngày sau sốt

Phân tích kết quả từ Hình 3.3 cho thấy rằng triệu chứng sốt cao trên 38,5°C xuất hiện ở 100% bệnh nhân trong pha 1, giảm xuống còn 77,9% ở pha 2 và thấp nhất là 16,7% ở pha 3, thể hiện xu hướng giảm rõ ràng theo thời gian Các triệu chứng cơ năng như mệt mỏi, đau cơ, chán ăn, buồn nôn và đau bụng cũng theo hướng giảm dần, cao nhất ở pha 1 rồi giảm dần ở các pha tiếp theo Triệu chứng sốt và mệt mỏi vẫn chiếm tỷ lệ cao ở pha 2 lần lượt là 77,9% và 51,9%, trong khi ở pha 3, các triệu chứng này có xu hướng giảm mạnh, đặc biệt là sốt giảm còn 16,7% Triệu chứng XHDD đạt tỷ lệ cao nhất ở pha 2 (28%), thấp nhất ở pha 1 (8%), rồi giảm xuống còn 24% ở pha 3, cho thấy các triệu chứng cơ năng giảm dần theo thời gian trong khi các triệu chứng thực thể như XHDD có xu hướng nặng nhất ở pha 2.

Tương tự, chúng tôi phân tích diễn biến cận lâm sàng theo 3 pha như các biểu hiện lâm sàng thu được kết quả như sau:

> 38.50C Chán ăn Mệt mỏi Đau cổ Buồn nôn Đau bụng

Hình 3 4 Phân bố kết quả số lượng tiểu cầu và bạch cầu trung tính theo thời gian vào viện sau sốt

BCTT: Bạch cầu đa nhân trung tính

Pha 1: 1-3 ngày sau sốt, pha 2: 4-6 ngày sau sốt, pha 3: sau 7 ngày sau sốt

Phân tích biểu đồ cho thấy tỷ lệ tiểu cầu giảm dưới 150.10^9/L đạt 69,6% cao nhất ở pha 2, trong khi các pha 1 và 3 lần lượt là 33,7% và 22,8%, cho thấy mức giảm tiểu cầu đáng kể nhất trong pha 2 Tỷ lệ giảm bạch cầu đa nhân trung tính dưới 65% cao nhất ở pha 2 với 62,8%, còn ở pha 1 và pha 3 lần lượt là 17,3% và 27,2%, phản ánh xu hướng giảm bạch cầu rõ rệt khi bệnh nhân vào viện từ ngày thứ 4 đến 6 sau khi xuất hiện sốt Các triệu chứng cận lâm sàng bao gồm giảm tiểu cầu và giảm bạch cầu đa nhân trung tính thể hiện xu hướng rõ rệt nhất trong giai đoạn này.

3.2 Mối quan hệ giữa kết quả xét nghiệm nhanh NS1, IgM, IgG với các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

3.2.1 Phân bố kết quả xét nghiệm nhanh và đặc điểm của đối tượng

Sau khi được thu nhận vào nghiên cứu, các bệnh nhân được khám lâm sàng và ghi nhận các triệu chứng liên quan Tất cả mẫu máu toàn phần và huyết thanh đều được kiểm tra nhanh bằng các xét nghiệm Dengue NS1, IgM, IgG định tính Phân tích tỷ lệ dương tính và âm tính của xét nghiệm NS1 dựa trên các đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân, với các dữ liệu chi tiết được trình bày trong Bảng 3.2.

Bảng 3 2 Phân bố kết quả NS1 theo một số đặc điểm của đối tượng Đặc điểm Âm tính n (%)

Mắc lần đầu 17 (6,6) 239 (93,4) 0,607 Mắc > 1 lần 1 (4,0) 24 (96,0)

BMI: Chỉ số khối cơ thể (đơn vị kg/m 2 ); XHDD: xuất huyết dưới da; TC: Tiểu cầu; BCTT: bạch cầu trung tính (%)

Phân tích kết quả tại Bảng 3.2, chúng tôi nhận thấy số bệnh nhân nhóm

Trong nghiên cứu, tỷ lệ dương tính ở nhóm người tuổi 60 là 93,6%, gần bằng với nhóm dưới 60 tuổi với tỷ lệ 92,6%, và sự khác biệt này không mang ý nghĩa thống kê Ngoài ra, đối với chỉ số khối cơ thể (BMI), kết quả xét nghiệm NS1 ở hai nhóm có BMI >25 kg/m² cho tỷ lệ âm và dương tính tương đương nhau, cho thấy không có sự khác biệt đáng kể liên quan đến chỉ số BMI trong kết quả xét nghiệm này.

Trong nghiên cứu, tỷ lệ dương tính với xét nghiệm NS1 ở nhóm BMI >25 kg/m² là 94,1%, cao hơn so với nhóm BMI 150 có tỷ lệ kết quả NS1 dương tính tương đương với nhóm bệnh nhân có số lượng tiểu cầu thấp hơn.

< 150 Xét nghiệm bạch cầu trung tính 65% cũng không có ý nghĩa thống kê với p>0,05 Ngoài ra, chúng tôi đã phân tích kết quả xét nghiệm IgM, IgG và các chỉ số RDTs dựa trên các yếu tố dịch tễ, lâm sàng và cận lâm sàng, kết quả trình bày trong Bảng 3.3.

Bảng 3 3 Phân bố kết quả xét nghiệm IgM, IgG theo một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Xét nghiệm IgM IgG Đặc điểm Âm tính n (%)

Mắc lần đầu 188 (73,4) 68 (26,6) 0,559 196 (76,6) 60 (23,4) 0,95 Mắc > 1 lần 17 (68,0) 8 (32,0) 19 (76,0) 6 (24,0)

BMI: Chỉ số khối cơ thể (đơn vị kg/m 2 ); XHDD: xuất huyết dưới da; TC: Tiểu cầu; BCTT: bạch cầu trung tính (%)

Kết quả xét nghiệm IgM và IgG cho thấy tỷ lệ dương tính và âm tính không có sự khác biệt đáng kể giữa nhóm trên 40 tuổi và nhóm dưới 40 tuổi Cụ thể, tỷ lệ IgM dương tính ở nhóm trên 40 tuổi là 27,8%, trong khi ở nhóm dưới 40 tuổi là 26,5%; tỷ lệ IgG dương tính lần lượt là 23,4% và 23,8%, cho thấy sự chênh lệch này không có ý nghĩa thống kê.

Các kết quả xét nghiệm IgG và IgM ở nhóm từ 60 tuổi trở xuống cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ âm và dương tính giữa các nhóm tuổi Đối với chỉ số khối cơ thể, tỷ lệ dương tính của IgM và IgG ở nhóm BMI >25 kg/m² tương tự như nhóm BMI thấp hơn, với tỷ lệ lần lượt là 32,4% và 26,0%, cũng như 26,5% và 23,4%, và sự khác biệt này không mang ý nghĩa thống kê Ngoài ra, nhóm bệnh nhân có số lượng tiểu cầu >150 cũng có kết quả dương tính IgM, IgG tương đương với nhóm có số lượng tiểu cầu 65%.

Kết quả xét nghiệm IgM cho thấy tỷ lệ dương tính cao hơn ở nhóm có XHDD (60%) so với nhóm không có XHDD (23,2%), trong khi tỷ lệ âm tính lại cao hơn ở nhóm không XHDD (76,8%) so với nhóm có XHDD (40%), với sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p=0,008) Đối với kết quả xét nghiệm IgG, xu hướng tương tự cũng xuất hiện khi tỷ lệ âm và dương tính cao hơn ở nhóm không có XHDD, và sự khác biệt này cũng đạt ý nghĩa thống kê với p=0,01, cho thấy mối liên hệ rõ ràng giữa XHDD và kết quả xét nghiệm miễn dịch.

BÀN LUẬN

Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 312 bệnh nhân sốt xuất huyết

Trong giai đoạn từ tháng 7/2019 đến tháng 7/2020, Bệnh viện E Hà Nội đã tiến hành nghiên cứu về điều trị sốt xuất huyết tại Khoa Truyền nhiễm Đối tượng tham gia nghiên cứu có độ tuổi từ 8 đến 94 tuổi, với tuổi trung bình là 43,6 ± 19,6 tuổi, phù hợp với các nghiên cứu trước đó tại Thái Lan.

Các nghiên cứu trước đây cho thấy bệnh chuyển hóa sương khớp dạng phân bổ chủ yếu ở trẻ lớn, với tỷ lệ mắc ở người cao tuổi khá thấp do hệ thống miễn dịch được củng cố theo lứa tuổi [23] Tuy nhiên, trong nghiên cứu của chúng tôi, nhóm tuổi dưới 40 chiếm tỷ lệ cao nhất (49,6%), trong khi các nhóm 40-60 tuổi và trên 60 tuổi có tỷ lệ mắc gần như bằng nhau (25,4% và 25,0%), phản ánh xu hướng thay đổi về tỷ lệ mắc ở người trưởng thành theo các nghiên cứu gần đây [14, 33] Tại Ấn Độ năm 2019, nhóm dưới 40 tuổi cũng gặp phải tỷ lệ cao nhất, trong khi các nhóm 40-60 và trên 60 lần lượt chiếm 14,5% và 18,8% [24].

Trong các nghiên cứu về giới tính trên bệnh nhân mắc SXHD, kết quả cho thấy nữ giới thường chiếm tỷ lệ trên 50%, với tỷ lệ của chúng tôi là 53,5%, trong khi nam là 46,5% Những số liệu này phù hợp với nhiều nghiên cứu quốc tế như ở Ấn Độ (2018) với nữ chiếm 53%, Thái Lan (2019) với nữ chiếm 53,7%, và Ả Rập (2012) với tỷ lệ nam/nữ là 3/4 Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác lại ghi nhận tỷ lệ nam cao hơn nữ, như Đoàn Văn Quyền (2019) với nam chiếm 57,7%, Nguyễn Ngọc Rạng (2021) với tỷ lệ 56,7% nam Tỷ lệ mắc SXHD có thể phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giai đoạn, lứa tuổi, lãnh thổ và nhu cầu sử dụng dịch vụ y tế, nhưng nhìn chung, tỷ lệ bệnh phân bố khá đồng đều giữa hai giới.

Các nghiên cứu về mối liên quan giữa BMI và tình trạng mắc sốt xuất huyết đều cho thấy hầu hết các trường hợp nhiễm bệnh đều thuộc nhóm BMI bình thường, mặc dù tỷ lệ béo phì mắc bệnh chiếm từ 13,5% đến 17,1% Theo Võ Duy Minh và cộng sự (2020), tỷ lệ béo phì chiếm 17,1%, trong khi nghiên cứu của Kurniati Annelin tại Indonesia (2021) ghi nhận tỷ lệ thừa cân là 27% và béo phì là 13,5% Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bệnh nhân béo phì/thừa cân là 10,9%, cho thấy sự chênh lệch đáng kể so với các nghiên cứu trước đó, có thể do sự khác biệt về tình trạng dinh dưỡng và độ tuổi trong các nhóm cộng đồng.

Tỷ lệ mắc SXHD trên 1 lần trong nghiên cứu của chúng tôi là 8,1% Tương đương với kết quả của các tác giả Trịnh Xuân Huy (2018) là 5,04% [30], tại Nigeria (2019) là 6% [31].

Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng

Các triệu chứng cơ năng phổ biến nhất của bệnh bao gồm sốt cao trên 38,5°C (99%), mệt mỏi (67,3%), đau cơ (44,9%), chán ăn (43,3%) và buồn nôn (36,5%), phù hợp với các nghiên cứu trước đó tại Việt Nam Đa số các nghiên cứu đã chỉ ra rằng sốt là triệu chứng gặp ở gần như tất cả các bệnh nhân, chiếm tỷ lệ 100%.

Các nghiên cứu về triệu chứng của bệnh cho thấy mức độ mệt mỏi và buồn nôn cao phổ biến Theo Đoàn Văn Quyền (2014), có đến 100% bệnh nhân mệt mỏi và 36,3% gặp phải nôn buồn nôn, trong khi chỉ 8,2% bị đau cơ khớp Đặng Thị Thúy (2014) ghi nhận tỷ lệ cao các triệu chứng như đau đầu và buồn nôn lên tới 98,7%, cùng với đó là đau mỏi người và cơ khớp ở mức 96,1% Các nghiên cứu quốc tế, như tại Trung Quốc năm 2018, cũng thể hiện các triệu chứng tương tự với sốt (100%), đau cơ (34,77%), và nhức đầu (25,65%), cho thấy sự phổ biến của các triệu chứng này ở các bệnh nhân mắc bệnh.

Triệu chứng đau bụng trong nghiên cứu của chúng tôi khá hiếm gặp, chiếm 3,2%, tương đồng với một nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đăng Mạnh

Trong năm 2018, tỷ lệ đau bụng ở bệnh nhân đạt 3,8%, trong khi triệu chứng thực thể XHDD chiếm tỷ lệ thấp hơn, chỉ khoảng 7,7% Các nghiên cứu từ Việt Nam và quốc tế cho thấy tỷ lệ XHDD rất khác nhau, Lê Duy Cương (2020) ghi nhận tỷ lệ 16,7%, trong khi nghiên cứu tại Việt Nam (2016-2017) cho thấy tỷ lệ này lần lượt là 88,6% và 79,2% qua các năm Nguyễn Đăng Mạnh (2018) báo cáo tỷ lệ XHDD là 49,4%, còn ở Trung Quốc năm 2018, tỷ lệ này là 13,25% Số lượng tiểu cầu giảm dưới 150.10^9^/L chiếm 76,3%, nhưng theo các tác giả như Lê Duy Cương (2021) và Vũ Xuân Nghĩa (2021), tỷ lệ này lần lượt là 28,4% và 21%, trong khi Neeraj Kumar Tulara (2019) ghi nhận tỷ lệ giảm tiểu cầu lên tới 97% trên nhóm bệnh nhân nhập viện Sự khác biệt trong các số liệu này có thể được giải thích do biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng của từng bệnh nhân có đặc điểm khác nhau.

Trong quá trình diễn biến của bệnh sốt xuất huyết, các triệu chứng lâm sàng thay đổi đáng kể qua các giai đoạn Trong pha 1 (ba ngày đầu sau khi bắt đầu sốt), các triệu chứng phổ biến nhất là sốt (100%), mệt mỏi (67,6%) và đau cơ (51,9%) Các triệu chứng này giảm dần khi sang pha 2, trong đó sốt vẫn chiếm tỷ lệ cao và các triệu chứng như mệt mỏi, đau cơ, chán ăn, buồn nôn vẫn thường gặp Đến pha 3 (sau 8 ngày bắt đầu sốt), các triệu chứng cơ năng giảm rõ rệt, sốt chỉ còn chiếm 16,7% và các triệu chứng khác như mệt mỏi, đau cơ, chán ăn lần lượt giảm xuống trên dưới 15%, trong đó đau bụng rất ít gặp (2,9%) Các giai đoạn sốt xuất huyết khác nhau được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) xây dựng dựa trên đặc điểm lâm sàng và xét nghiệm, trong đó các triệu chứng không đặc hiệu như sốt, đau cơ, mệt mỏi xuất hiện phổ biến nhất trong pha 1; trong khi đó, xuất huyết nội tạng (XHHD) được nhấn mạnh trong pha 2 Dữ liệu của chúng tôi cho thấy các triệu chứng không đặc hiệu có thể xuất hiện xuyên suốt quá trình bệnh, bất kể giai đoạn Đặc biệt, phát ban da ở người lớn thường bắt đầu từ pha sốt và tăng dần theo thời gian, sau đó giảm trong pha hồi phục Nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với dữ liệu từ Đài Loan (2018), khi tỷ lệ sốt cao nhất ở các pha lần lượt là 94,9% trong pha 1, 92,1% trong pha 2 và 52,6% trong pha 3, chứng tỏ các triệu chứng cơ năng giảm dần theo thời gian Trong khi đó, tỷ lệ xuất huyết nội tạng cao nhất trong pha 2 (28,2%), tương tự như kết quả của Đài Loan (2018) với tỷ lệ 18,6%, so với 12,7% và 14,1% ở pha 1 và 3.

Trong giai đoạn ngày 4-7 của bệnh, số lượng bạch cầu và tiểu cầu giảm mạnh nhất, phản ánh giai đoạn nguy hiểm và sau đó bắt đầu tăng dần trong pha hồi phục Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Rạng (2021) xác nhận rằng số lượng tiểu cầu giảm dần từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 6, với mức giảm nhiều nhất vào ngày thứ 4 Ngoài ra, theo Nguyễn Đăng Mạnh, trong giai đoạn nguy hiểm của bệnh, hematocrit tăng rõ rệt trong khi số lượng bạch cầu và tiểu cầu giảm, cho thấy biểu hiện lâm sàng đặc trưng của quá trình bệnh tiến triển.

Sự thay đổi giá trị cận lâm sàng trong nghiên cứu của chúng tôi phản ánh chính xác diễn biến của bệnh cảnh SXHD, đồng thời phù hợp với các phát hiện từ các nghiên cứu trước đó Những biến đổi này cho thấy mối liên hệ rõ ràng giữa các chỉ số cận lâm sàng và trạng thái của bệnh, giúp nâng cao hiệu quả chẩn đoán và quản lý Kết quả này khẳng định tính nhất quán của các dữ liệu lâm sàng và các nghiên cứu trước đó về mức độ thay đổi của các biến số cận lâm sàng trong quá trình điều trị SXHD.

Mối liên hệ của kết quả xét nghiệm nhanh NS1, IgM, IgG và các yếu tố liên quan

4.3.1 Mối quan hệ của kết quả NS1, IgM, IgG và các đặc điểm của đối tượng

Trong nghiên cứu của chúng tôi, đối tượng chủ yếu trên 40 tuổi, với tỷ lệ bệnh nhân trên 60 tuổi chiếm khoảng 25%, phản ánh ảnh hưởng của tuổi tác đến sức khỏe Theo các nghiên cứu miễn dịch học, tuổi tác là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến đáp ứng miễn dịch và khả năng tự vệ của cơ thể do sự thay đổi về chất lượng và số lượng tế bào miễn dịch theo thời gian [37] Tuy nhiên, khi phân tích kết quả của các xét nghiệm nhanh kháng nguyên (RDTs) theo nhóm tuổi, chúng tôi không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm trên 40 tuổi, dưới 40 tuổi và trên 60 tuổi (p>0,05), cho thấy tuổi tác không tác động đáng kể đến kết quả xét nghiệm Ngoài ra, khi xem xét về giới tính, kết quả cho thấy không có sự khác biệt rõ ràng giữa các nhóm, góp phần làm rõ đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân.

Các kết quả cho thấy không có sự khác biệt mang tính thống kê giữa hai nhóm nam và nữ về hiệu quả của 3 RDT, tương tự như nghiên cứu của nhóm Carlo tại Peru năm 2019, cho thấy phân loại RDT không bị ảnh hưởng bởi giới tính hay nhóm tuổi.

Béo phì ảnh hưởng đáng kể đến phản ứng viêm, hệ thống miễn dịch và khả năng nhiễm trùng, với mức độ tiết ra các adipokine như leptin và cytokine tiền viêm như TNFα, IL-6, IL-1β tăng lên trong tình trạng này Phản ứng viêm dư thừa gây giảm mẫn cảm của các tế bào miễn dịch khi tiếp xúc với kháng nguyên, ảnh hưởng đến hiệu quả của hệ miễn dịch Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu trước đó xác định rõ tác động của béo phì lên kết quả của các xét nghiệm chẩn đoán nhanh (RDTs) Trong nghiên cứu này, chúng tôi phát hiện ra rằng kết quả của xét nghiệm kiểm tra kháng nguyên NS1 có thể bị ảnh hưởng bởi tình trạng béo phì.

IgM, IgG RDTs không có sự khác biệt đáng kể giữa 2 nhóm bệnh nhân có thừa cân béo phì và không có béo phì

Nghiên cứu cho thấy tình trạng mắc sốt xuất huyết (SXHD) lần đầu và lần sau ảnh hưởng đến khả năng phát hiện NS1, với kết quả dương tính thấp hơn đáng kể ở bệnh nhân mắc SXHD trên 1 lần so với mắc lần đầu, do sự có mặt của kháng thể IgG và IgM làm tăng độ nhạy chẩn đoán Tuy nhiên, trong nghiên cứu của chúng tôi chưa ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa giữa các RDTs, phù hợp với nghiên cứu tại Peru (2021) cho thấy hiệu quả chẩn đoán phát hiện kháng nguyên NS1 không khác biệt giữa hai nhóm Tại Việt Nam (2010), độ nhạy của NS1 ở nhóm mắc trên 1 lần thấp hơn so với nhóm mắc lần đầu với giá trị p=0,0003, trong khi độ nhạy của IgM và IgG không có sự khác biệt rõ rệt giữa hai nhóm, phù hợp với các kết quả trước đó.

Khi xét về triệu chứng XHDD, nhóm có XHDD cho kết quả xét nghiệm NS1 và IgM dương tính cao hơn nhóm không có XHDD, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p= 0,04 và p= 0,008) Tuy nhiên, nhóm có XHDD lại có tỷ lệ bệnh nhân xét nghiệm IgG dương tính thấp hơn nhóm không XHDD Đáng lưu ý, trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bệnh nhân xuất huyết dưới da chỉ chiếm 3,2%, và hiện chưa có nghiên cứu nào xác định rõ mối quan hệ này.

Trong nghiên cứu của chúng tôi với 312 bệnh nhân, không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về kết quả của 3 RDTs giữa nhóm có và không giảm tiểu cầu Tuy nhiên, nghiên cứu của Kulkarni (2011) cho thấy tỷ lệ giảm tiểu cầu cao hơn ở nhóm dương tính xét nghiệm huyết thanh học tìm NS1, IgM và IgG so với nhóm âm tính, điều này mang ý nghĩa thống kê đáng kể về mối liên hệ giữa giảm tiểu cầu và kết quả xét nghiệm.

Bạch cầu đa nhân trung tính tham gia tích cực vào giai đoạn viêm cấp tính của cơ thể và là thành phần chính trong phản ứng miễn dịch ban đầu chống lại các tác nhân lạ Sau khi tiếp xúc với kháng nguyên, tốc độ chết của tế bào liên quan đến quá trình xây dựng kháng thể chống lại tác nhân xâm nhập Nghiên cứu của Fabian et al (2019) cho thấy sự gia tăng số lượng bạch cầu đa nhân trung tính trong giai đoạn đầu của nhiễm trùng sau sốt xuất huyết, trong khi nhóm của Ampaiwan (2013) lại ghi nhận giảm nghiêm trọng số lượng bạch cầu trung tính liên quan đến nhiễm trùng Dengue Tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tôi chưa phát hiện sự khác biệt có ý nghĩa về số lượng bạch cầu đa nhân trung tính ở nhóm giảm bạch cầu, có thể do cỡ mẫu nhỏ không đại diện cho toàn bộ quần thể.

4.3.2 Mối quan hệ giữa kết quả xét nghiệm nhanh NS1, IgM, IgG và thời gian nhập viện a Mối quan hệ giữa kết quả của các xét nghiệm nhanh NS1, IgM, IgG theo thời gian

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ xét nghiệm NS1 dương tính là cao nhất trong số 3 RDTs, chiếm 92,9% Kết quả tương tự với nghiên cứu ở Dhaka

Năm 2019, tỷ lệ dương tính của xét nghiệm NS1 đạt 92,3%, cho thấy hiệu quả cao trong chẩn đoán sốt xuất huyết Trong khi đó, các xét nghiệm nhanh IgM và IgG có tỷ lệ dương tính lần lượt là 26,9% và 23,7%, cho thấy mức độ nhạy cảm khác nhau của các phương pháp này Các nghiên cứu trước đó về tỷ lệ dương tính của IgM và IgG cũng có sự khác biệt đáng kể, như nghiên cứu tại Đông Nam Á năm 2011 ghi nhận tỷ lệ IgM dương tính là 44,3% Những chênh lệch này có thể được giải thích bởi thời điểm xét nghiệm và tỷ lệ nhiễm sốt xuất huyết trên một lần trong từng cộng đồng nghiên cứu khác nhau.

Thời gian làm xét nghiệm có ảnh hưởng quan trọng đến kết quả xét nghiệm các kháng nguyên và kháng thể DENV trong máu Protein NS1 của virus DENV xuất hiện trong máu từ ngày đầu tiên đến ngày thứ 9 sau khi bắt đầu sốt, là dấu hiệu sớm để chẩn đoán bệnh Kháng thể IgM phản ứng với virus DENV và có thể được phát hiện sớm nhất từ 3-5 ngày sau khi bắt đầu triệu chứng, trong khi đó IgG có khả năng phát hiện bệnh sau ngày thứ.

Trong nghiên cứu về nhiễm DENV nguyên phát và tái nhiễm, tỷ lệ dương tính của xét nghiệm RDTs cho NS1 có xu hướng giảm dần theo các pha, cao nhất ở pha 1 và pha 2 với tỷ lệ trên 93%, trong khi pha 3 có tỷ lệ NS1 dương tính thấp nhất với 62,5% Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đó như của Valdivia (2021), ghi nhận tỷ lệ dương tính của NS1 là 75,34% ở pha 1, 61,9% ở pha 2 và 50% ở pha 3 Nghiên cứu tại Đông Nam Á (2011) cũng cho thấy tỷ lệ NS1 giảm theo thời gian, từ 52% ở pha 2 xuống còn 4% ở pha 3 Trong khi đó, tỷ lệ dương tính của IgM và IgG tăng dần theo thời gian, đạt mức cao nhất ở pha 3 với 50% và 68,8%, phù hợp với các dữ liệu khu vực Đông Nam Á, nơi có tỷ lệ dương tính lần lượt là 24% ở pha 1, 43,6% ở pha 2 và 52,2% ở pha 3.

Các kết quả xét nghiệm nhanh NS1, IgM, IgG trong nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với bệnh cảnh SXHD và các nghiên cứu trước đó, cho thấy tính chính xác và đáng tin cậy của các phương pháp này trong chẩn đoán bệnh Thêm vào đó, mối quan hệ giữa kết quả của các tổ hợp xét nghiệm nhanh NS1, IgM, IgG theo thời gian thể hiện rõ ràng sự chuyển đổi trong quá trình nhiễm bệnh, giúp bác sĩ xác định chính xác giai đoạn bệnh và đưa ra phương pháp điều trị phù hợp.

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

Ngày đăng: 01/02/2023, 09:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN