Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào hoặc trầm cảm hoặc lo âu như nghiên cứu của Đỗ Đình Quyên năm 2007 về trầm cảm ở sinh viên Y tại trường Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Min
TỔNG QUAN
Một số khái niệm
1.1.1 Khái niệm về trầm cảm
Trầm cảm là một trạng thái bệnh lý cảm xúc, đặc trưng bởi sự ức chế toàn bộ hoạt động tâm thần như cảm xúc, tư duy và vận động, kéo dài ít nhất 2 tuần theo phân loại ICD-10 Các triệu chứng chính bao gồm khí sắc trầm, mất quan tâm hoặc thích thú, giảm năng lượng dẫn đến mệt mỏi và giảm hoạt động Ngoài ra, còn có các dấu hiệu như giảm tập trung, giảm tự trọng và tự tin, ý nghĩ về tội lỗi, thất vọng về tương lai, cùng với hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát Các triệu chứng thể chất khác gồm thức giấc sớm hơn bình thường ít nhất 2 giờ, trầm cảm nặng hơn vào buổi sáng, và sút cân trên 5% trọng lượng cơ thể so với tháng trước.
− Tiêu chuẩn chẩn đoán theo ICD - 10 (F32.-):
+ Lần đầu tiên xuất hiện ở bệnh nhân các triệu chứng lâm sàng đặc trưng, phổ biến và sinh học của trầm cảm
+ Giai đoạn trầm cảm kéo dài ít nhất 2 tuần
+ Không có đủ các triệu chứng đáp ứng các tiêu chuẩn đối với giai đoạn hưng cảm nhẹ hoặc hưng cảm (F30) ở bất kỳ thời điểm nào trong đời
+ Giai đoạn này không gắn với việc sử dụng chất tác động tâm thần (F10 - F19) hoặc bất cứ rối loạn thực tổn nào (F00 – F09)
1.1.2 Khái niệm về lo âu
Năm 1621, Robert Burton mô tả các triệu chứng lo âu xã hội như đỏ mặt, xanh xao, run rẩy, đổ mồ hôi, cảm giác lạnh hoặc nóng đột ngột, đánh trống ngực và ngất xỉu Trước đó, Hippocrates đã ghi nhận những bệnh nhân mắc chứng bệnh tương tự, hiện được gọi là rối loạn lo âu xã hội, thể hiện sự nhận thức từ rất sớm về các triệu chứng và ảnh hưởng của lo âu trong đời sống con người.
Anh ta không dám vào nơi làm việc vì sợ bị lạm dụng hoặc bị chán ghét, lo lắng rằng mình phải luôn vượt qua chính mình từ cử chỉ đến lời nói Anh ấy còn lo sợ mắc bệnh và cảm giác mọi người đang quan sát mình khiến tâm lý bị ảnh hưởng tiêu cực.
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
Stress có thể được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau với các định nghĩa đa dạng Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng định nghĩa về stress từ khía cạnh tâm lý của Richard Lazarus, vì nó phù hợp với điều kiện và các tiêu chí đo lường đã chọn Định nghĩa của Lazarus giúp làm rõ tình trạng căng thẳng ở sinh viên một cách chính xác, phù hợp với mục đích nghiên cứu và các công cụ đánh giá đã sử dụng.
Rối loạn trầm cảm – lo âu – stress của sinh viên Y Dược
Các vấn đề về sức khỏe tâm thần thường xuất hiện trong giai đoạn đầu của tuổi trưởng thành, đặc biệt là ở nhóm người trẻ tuổi-hiếm khi nhận được sự hỗ trợ phù hợp Những rối loạn tâm thần này liên quan đến các vấn đề thể chất, cảm xúc kéo dài, mất việc làm, chất lượng giấc ngủ kém và rạn nứt các mối quan hệ xã hội Sinh viên đại học là nhóm có nguy cơ cao gặp phải trầm cảm, lo âu và căng thẳng, ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả học tập của họ Thống kê toàn cầu cho thấy khoảng 12% – 50% sinh viên có ít nhất một tiêu chuẩn chẩn đoán cho các rối loạn tâm thần Các nguyên nhân gây căng thẳng trong cuộc sống sinh viên bao gồm áp lực học tập, thi cử, thiếu thời gian giải trí, cạnh tranh, lo lắng về kỳ vọng của cha mẹ, thiết lập các mối quan hệ mới, di chuyển đến nơi xa lạ, cùng với các yếu tố nhân khẩu như tuổi, giới tính nữ và gánh nặng tài chính.
Các nghiên cứu toàn cầu đã xác định tỷ lệ trầm cảm, lo lắng và căng thẳng từ trung bình đến cao trong nhóm sinh viên đại học, cho thấy tầm quan trọng của việc chẩn đoán sớm và kiểm soát các rối loạn tâm lý để cải thiện kết quả điều trị Tại Việt Nam, nghiên cứu của Lê Minh Thuận năm 2011 ghi nhận rằng 77% sinh viên có dấu hiệu stress, 75% có dấu hiệu lo âu, và 75% xuất hiện các triệu chứng trầm cảm ở các mức độ khác nhau, từ nhẹ đến rất nặng, nhấn mạnh nhu cầu xác định những sinh viên nguy cơ cao để cung cấp hỗ trợ phù hợp.
1.2.2 Các yếu tố liên quan Để đánh giá chính xác yếu tố liên quan đến trầm cảm, lo âu và stress ở sinh viên không phải là vấn đề đơn giản Trên thực tế, một cá nhân bị stress có thể do nhiều yếu tố khác nhau cùng tích hợp lại Ví dụ như một sinh viên bị stress, nguyên nhân có thể xuất phát từ việc sinh viên này gặp áp lực trong học
Áp lực học tập không nhất thiết dẫn đến stress nếu sinh viên biết phân bổ thời gian hợp lý và nhận được sự chia sẻ, động viên từ bạn bè và gia đình Các yếu tố gây trầm cảm, lo âu và căng thẳng ở sinh viên bao gồm yếu tố cá nhân, môi trường học tập và các mối quan hệ xã hội Việc quản lý tốt các yếu tố này giúp giảm thiểu tác động tiêu cực đến tâm lý sinh viên.
Những sinh viên có độ tuổi lớn hơn thường có nguy cơ trầm cảm, lo âu và stress cao hơn
Nghiên cứu của Wafaa Yousif Abdel Wahed và cộng sự (2016) cho thấy stress và lo âu ở sinh viên y khoa cao hơn ở những người trên 20 tuổi so với sinh viên dưới 20 tuổi, cho thấy mức độ căng thẳng liên quan đến yếu tố tuổi tác Ngoài ra, nghiên cứu còn phát hiện rằng trầm cảm ở mức cao cũng có mối liên hệ với tuổi tác, đặc biệt là ở các sinh viên trưởng thành hơn Các kết quả này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo dõi và hỗ trợ tâm lý cho sinh viên y khoa trong từng độ tuổi khác nhau.
20 tuổi cao hơn sinh viên ở lứa tuổi nhỏ hơn [26]
Nghiên cứu của Lu Chen và cộng sự năm 2013 trên 5.245 sinh viên đại học ở Cáp Nhĩ Tân, Trung Quốc cho thấy yếu tố tuổi tác liên quan đến nguy cơ mắc trầm cảm ở sinh viên Những sinh viên trên 25 tuổi có khả năng bị trầm cảm cao hơn gấp 1,8 lần so với các sinh viên dưới 25 tuổi, cho thấy tuổi tác là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tâm lý của sinh viên đại học.
Nghiên cứu của Khadijah Shamsuddin và cộng sự năm 2013 trên 506 sinh viên từ 18 đến 24 tuổi tại các trường đại học công lập ở Klang Valley, Malaysia cho thấy rằng sinh viên trên 20 tuổi có mức độ trầm cảm, lo âu và căng thẳng cao hơn so với nhóm sinh viên nhỏ tuổi.
Các nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa số năm học và mức độ trầm cảm, lo âu, căng thẳng của sinh viên Nguy cơ căng thẳng giảm dần theo từng năm học, trừ năm cuối, trong khi đó, nguy cơ lo âu và trầm cảm lại tăng dần theo từng năm, với mức độ cao hơn ở các năm sau so với các năm trước.
Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Thụ trên 829 sinh viên từ K50 đến K53 của Trường Đại học Quốc gia Hà Nội đã chỉ ra rằng các yếu tố đặc điểm cá nhân nằm trong nhóm nguyên nhân gây stress phổ biến thứ hai Ngoài ra, tác nhân liên quan đến năm học cũng đóng vai trò là một trong những yếu tố chính gây ra căng thẳng đối với sinh viên.
Nghiên cứu của Hamza M và Abdulghani dựa trên thiết kế cắt ngang với toàn bộ sinh viên từ năm 1 đến năm 4 tại Đại học King Saud, Ả Rập Saudi, đã phát hiện rằng năm học là yếu tố cá nhân ảnh hưởng đến mức độ căng thẳng Mức độ stress giảm dần theo các năm học, ngoại trừ năm cuối, với nguy cơ mắc stress cao hơn rõ rệt ở sinh viên năm nhất, năm hai, năm ba so với sinh viên năm thứ năm, lần lượt gấp 3,96; 2,6; 1,9 và 0,82 lần (p