1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Thực trạng hút thuốc lá, thuốc lá điện tử của sinh viên trường đại học y dược, đại học quốc gia hà nội năm 2021 và một số yếu tố liên quan

60 181 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng hút thuốc lá, thuốc lá điện tử của sinh viên trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2021 và Một số yếu tố liên quan
Tác giả Lương Thị Yên
Trường học Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Y học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 (11)
    • 1.1. Một số khái niệm (11)
      • 1.1.1. Thuốc lá (11)
      • 1.1.2. Thuốc lá điện tử (11)
    • 1.2. Thành phần của thuốc lá, thuốc lá điện tử (11)
      • 1.2.1. Thuốc lá (11)
      • 1.2.2. Thuốc lá điện tử (13)
    • 1.3. Tác hại của thuốc lá, thuốc lá điện tử (13)
      • 1.3.1. Thuốc lá (13)
      • 1.3.2. Thuốc lá điện tử (14)
    • 1.4. Tình hình sử dụng thuốc lá, thuốc lá điện tử (15)
      • 1.4.1. Tình hình sử dụng thuốc lá, thuốc lá điện tử chung (15)
      • 1.4.2. Tình hình sử dụng thuốc lá, thuốc lá điện tử ở sinh viên y khoa (16)
    • 1.5. Các giải pháp hạn chế hút thuốc lá, thuốc lá điện tử trong sinh viên y (17)
    • 1.6. Một số nghiên cứu liên quan (17)
      • 1.6.1. Nghiên cứu trên thế giới (17)
      • 1.6.2. Nghiên cứu tại Việt Nam (19)
  • Chương 2 (21)
    • 2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu (21)
      • 2.1.1. Đối tượng nghiên cứu (21)
      • 2.1.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (21)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (21)
      • 2.2.1. Thiết kế nghiên cứu (21)
      • 2.2.2. Cỡ mẫu (21)
      • 2.2.3. Phương pháp thu thập thông tin (23)
      • 2.2.4. Các biến số và chỉ số nghiên cứu (23)
      • 2.2.5. Sơ đồ nghiên cứu (27)
    • 2.3. Xử lý và phân tích số liệu (28)
    • 2.4. Đạo đức nghiên cứu (28)
    • 2.5. Sai số và cách khắc phục (28)
    • 2.6. Hạn chế nghiên cứu (29)
  • Chương 3 (30)
    • 3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (30)
    • 3.2. Thực trạng hút thuốc lá, thuốc lá điện tử của sinh viên trường Đại học (35)
    • 3.3. Một số yếu tố liên quan đến thực trạng hút thuốc lá, thuốc lá điện tử của sinh viên trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2021 (39)
  • Chương 4 (47)
    • 4.1. Thực trạng hút thuốc lá, thuốc lá điện tử của sinh viên trường Đại học (47)
    • 4.2. Một số yếu tố liên quan đến thực trạng hút thuốc lá, thuốc lá điện tử của sinh viên Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc Gia Hà Nội năm 2021 (50)
  • KẾT LUẬN (53)
    • 1. Thực trạng hút thuốc lá, thuốc lá điện tử của sinh viên Trường Đại học (53)
    • 2. Một số yếu tố liên quan đến thực trạng hút thuốc lá, thuốc lá điện tử của (53)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (55)

Nội dung

LƯƠNG THỊ YÊN THỰC TRẠNG HÚT THUỐC LÁ, THUỐC LÁ ĐIỆN TỬ CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI NĂM 2021 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH Y Đ

Một số khái niệm

Thuốc lá là sản phẩm được sản xuất từ toàn bộ hoặc một phần nguyên liệu thuốc lá, qua quá trình chế biến thành các dạng như thuốc lá điếu, xì gà, thuốc lá sợi hoặc thuốc lào Sản phẩm này có tác động tiêu cực đến sức khỏe người sử dụng và gây ra nhiều bệnh lý nguy hiểm Việc tiêu thụ thuốc lá không chỉ làm tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch, ung thư phổi mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến cộng đồng Do đó, kiểm soát và giảm tiêu thụ thuốc lá là ưu tiên trong chiến lược bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Thiết bị điện tử dùng pin để làm nóng dung dịch chứa nicotine và các chất hóa học khác, tạo ra sol khí (khói) cho người dùng hít vào Các thiết bị này có thể sử dụng ống hoặc bình chứa dùng một lần hoặc có thể nạp lại, mang lại trải nghiệm hút vape tiện lợi và đa dạng.

Thành phần của thuốc lá, thuốc lá điện tử

Theo báo cáo năm 2010 của Tổng hội Y khoa Hoa Kỳ, khói thuốc lá chứa tới 7.000 hóa chất, trong đó có 69 chất gây ung thư, gây nguy hiểm lớn cho sức khỏe Các chất độc hại phổ biến trong khói thuốc bao gồm các hợp chất có khả năng gây ung thư cao, ảnh hưởng trực tiếp đến phổi và các cơ quan nội tạng khác Việc tiếp xúc với thuốc lá không chỉ làm tăng nguy cơ mắc các bệnh hiểm nghèo mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cuộc sống Chính vì vậy, hạn chế hoặc từ bỏ thuốc lá là bước quan trọng để bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Nicotine là chất gây nghiện có trong thuốc lá, nhanh chóng hấp thụ vào máu và ảnh hưởng đến não bộ chỉ trong vòng 10 giây sau khi hút Mỗi lần hít thuốc, nicotine làm tăng nhịp tim, gây co thắt mạch máu ở tim, đồng thời làm tăng huyết áp và mạch máu.

FDA xếp nicotine vào nhóm các chất dược lý gây nghiện mạnh, tương tự heroin và cocaine, phản ánh mức độ nghiện cao của chất này Khi nicotine trong khói thuốc kết hợp với thụ thể nicotine trên tế bào thần kinh tại trung tâm thưởng của hệ viền não, nó kích thích phóng thích các chất trung gian truyền thần kinh, gây ra các phản ứng tâm thần kinh như cảm giác sảng khoái, vui vẻ và tăng cường hoạt động nhận thức Những tác động này chính là lý do vì sao nicotine dễ gây nghiện và ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe người sử dụng.

Cảm giác thèm nicotine sẽ giảm đi nhanh chóng sau vài phút, nhưng khi nồng độ nicotine trong máu giảm, người hút thuốc thường cảm thấy bứt rứt, căng thẳng, khó tập trung, buồn bã, lo lắng và rối loạn giấc ngủ Để duy trì cảm giác thoải mái, họ buộc phải tiếp tục hút thuốc Nhiều nghiên cứu cho thấy nicotine tồn tại khắp các cơ quan trong cơ thể, kể cả trong sữa mẹ, đặc biệt ở những người hút hơn 15 điếu mỗi ngày, khi đó nồng độ nicotine trong máu luôn cao, gây khó khăn trong quá trình cai thuốc Ngoài ra, các nhà sản xuất thuốc lá còn thêm nhiều hoá chất để tăng cường khả năng hấp thụ nicotine vào cơ thể người dùng.

Hắc ín (Tar): Hắc ín hay còn gọi là nhựa thuốc lá, có màu đen và quánh giống như nhựa đường, chứa rất nhiều chất gây ung thư

Carbon monoxide (khí CO) trong khói thuốc lá khi hấp thụ vào máu sẽ liên kết mạnh mẽ với hemoglobine trong hồng cầu, làm giảm khả năng vận chuyển oxy của máu Điều này dẫn đến giảm nồng độ oxy trong máu, làm máu đặc hơn và gây áp lực lớn hơn lên tim Việc tiêu thụ khí CO từ thuốc lá không chỉ ảnh hưởng đến hệ tuần hoàn mà còn tăng nguy cơ các bệnh về tim mạch.

Khí CO đóng vai trò trong quá trình hình thành các mảng xơ vữa động mạch, gây hiện tượng tắc nghẽn mạch máu và kéo theo nguy cơ bệnh tim và đột quỵ Ngoài ra, khí CO còn làm giảm khả năng hấp thụ các chất dinh dưỡng thiết yếu, ảnh hưởng đến sự phát triển và điều chỉnh chức năng của cơ thể Tình trạng này không chỉ tác động đến hệ tuần hoàn mà còn gây ra các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng khác Hiểu rõ vai trò của khí CO là yếu tố quan trọng trong việc phòng tránh các bệnh lý tim mạch và cải thiện chất lượng cuộc sống.

Benzene là chất gây ung thư, thường thấy trong khói của dầu khí và thuốc trừ sâu Nó có nồng độ cao trong khói thuốc lá, chiếm đến một nửa lượng benzene xâm nhập vào cơ thể con người từ tất cả các nguồn Việc tiếp xúc với benzene trong khói thuốc lá là nguyên nhân chính gây ra tác động tiêu cực đến sức khỏe.

Nitrosamines: Là một chất gây ung thư rất mạnh có nhiều trong khói thuốc và cả trong các sản phẩm thuốc lá không khói

Ammonia là một hợp chất chủ yếu được sử dụng trong các sản phẩm tẩy rửa và thuốc kích thích tăng trưởng thực vật Ngoài ra, ammonia còn được ứng dụng trong quá trình sản xuất thuốc lá, góp phần cải thiện chất lượng và quy trình chế biến sản phẩm.

Tăng cường khả năng hấp thụ nicotine qua niêm mạc đường hô hấp là một yếu tố quan trọng Khi hít một lượng khói thuốc vào, lượng nicotine được hấp thụ qua niêm mạc này sẽ tăng lên đáng kể, ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ phụ thuộc vào thuốc lá.

Formaldehyde là dung dịch được sử dụng trong ướp xác và cũng tồn tại nhiều trong khói thuốc lá Chất này gây kích thích mũi, họng và mắt của người hút thuốc khi hít phải khói, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe hô hấp của họ.

Polycyclic aromatic hydrocarbon (PAH): Là một chất gây ung thư tìm thấy trong dầu diezen và sản phẩm đốt cháy khác [8]

Các thành phần chính trong dung dịch thuốc lá điện tử gồm nicotine, propylene glycol, glycerin và các chất tạo hương vị, trong đó có hơn 15.500 loại hương vị khác nhau, nhiều trong số đó chứa chất độc gây hại cho sức khỏe [9].

Khói của thuốc lá điện tử chứa nhiều hợp chất gây hại như nicotine, acetaldehyde, aceton, acrolein, formaldehyde, các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (VOC), hydrocarbon thơm đa vòng (PAHs), nitrosamine đặc trưng của thuốc lá (TSNA) và kim loại như chì, crom, niken và fomandehit Nồng độ các chất này trong khói của một số sản phẩm thuốc lá điện tử được phát hiện ở mức bằng hoặc cao hơn so với thuốc lá điếu truyền thống, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe người dùng.

Tác hại của thuốc lá, thuốc lá điện tử

Khói thuốc lá chứa hơn 7000 hóa chất trong đó có 69 chất gây ung thư Sử dụng thuốc lá gây ra 25 loại bệnh , chủ yếu thuộc 4 nhóm chính gồm:

1 Nhóm các bệnh ung thư, với 11 loại ung thư do hút thuốc gây ra trong đó nguy hiểm và thường gặp: nhất là ung thư phổi, khí phế quản, ung thư thanh quản, ung thư khoang miệng, ung thư vòm họng;

2 Nhóm bệnh tim mạch, bao gồm: tai biến mạch máu não và nhồi máu cơ tim;

3 Nhóm các bệnh hô hấp gồm: viêm đường hô hấp và bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính;

4 Nhóm các bệnh về sinh sản và sinh dục ở cả hai giới như: giảm chất lượng tinh trùng, bất lực ở nam giới, tăng nguy cơ vô sinh, đẻ non, sảy thai, thai lưu ở nữ giới [8]

Gây nghiện, ảnh hưởng phát triển não bộ của trẻ em và thanh thiếu niên[9]

Nghiên cứu cho thấy thanh thiếu niên và người trẻ chưa từng hút thuốc lá có nguy cơ bắt đầu sử dụng thuốc lá điếu truyền thống cao hơn 3,5 lần nếu đã từng sử dụng thuốc lá điện tử Điều này cho thấy việc sử dụng thuốc lá điện tử có thể làm tăng nguy cơ chuyển sang hút thuốc lá điếu truyền thống, đặt ra mối lo ngại về tác động của các sản phẩm thuốc lá mới đối với sức khỏe cộng đồng.

Từ năm 2009 đến 2015, đã có 92 vụ cháy nổ liên quan đến thuốc lá điện tử tại Mỹ, gây chấn thương cho 47 người và thiệt hại về tài sản Ngoài ra, Anh cũng ghi nhận hơn 100 vụ cháy nổ và 2 trường hợp tử vong do các vụ nổ, cháy liên quan đến thuốc lá điện tử Các sự kiện này cho thấy nguy cơ nghiêm trọng của việc nổ pin và gây chấn thương đáng kể cho người sử dụng.

Bệnh cấp và mãn tính nguy hiểm liên quan đến thuốc lá điện tử:

Sử dụng thuốc lá điện tử liên quan đến các tổn thương phổi cấp tính, bao gồm viêm phổi do lipoid, viêm phổi tăng bạch cầu ái toan, viêm phổi thể lỏng và viêm tiểu phế quản tắc nghẽn, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ hô hấp.

Ung thư: nguy cơ ung thư cao do kim loại nặng và các hợp chất carbonyl độc hại có trong khói thuốc lá điện tử [14], [15]

Bệnh tim mạch làm tăng nguy cơ hình thành huyết khối và xơ vữa động mạch, đồng thời làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim và rối loạn chức năng nội mô liên quan đến các bệnh lý tim mạch [16].

Thuốc lá nung nóng gây nguy hiểm cấp và mãn tính do phơi nhiễm các chất độc hại như nitrosamines, aldehydes và carbon monoxide, liên quan đến các bệnh ung thư nghiêm trọng Việc tiếp xúc với khói thuốc lá nung nóng làm tăng nguy cơ mắc các bệnh về phổi, tim mạch và ung thư, đe dọa sức khỏe người dùng và cộng đồng Chính vì vậy, hạn chế sử dụng và nâng cao nhận thức về tác hại của thuốc lá nung nóng là cần thiết để phòng tránh các bệnh lý nghiêm trọng này.

7 thư phổi, mũi, thực quản, gan, tụy, cổ tử cung, tăng nguy cơ tim mạch, đột quỵ [16].

Tình hình sử dụng thuốc lá, thuốc lá điện tử

1.4.1 Tình hình sử dụng thuốc lá, thuốc lá điện tử chung

Báo cáo Toàn cầu và Xu hướng hút thuốc lá 2000-2025 của WHO cho thấy, tình trạng hút thuốc lá đã giảm đáng kể từ năm 2000, từ 27% xuống còn 20% vào năm 2016 Tuy nhiên, mức độ giảm này chưa đủ để đạt được mục tiêu toàn cầu về bảo vệ con người khỏi nguy cơ tử vong do các bệnh tim mạch và bệnh không lây nhiễm khác (NCDs) liên quan trực tiếp đến thuốc lá Nếu tốc độ giảm này tiếp tục, dự kiến đến năm 2025, tỷ lệ hút thuốc trong cộng đồng vẫn còn cao, gây lo ngại về khả năng kiểm soát dịch bệnh và sức khỏe cộng đồng.

15 tuổi chỉ giảm được 22% mà không đạt được 30% như mục tiêu toàn cầu đã đề ra

Mặc dù tỷ lệ hút thuốc lá đã giảm, số lượng người hút vẫn duy trì ở mức quanh 1,1 tỷ người suốt hơn một thập kỷ qua Hơn 80% người hút thuốc sinh sống tại các nước thu nhập thấp và trung bình, nơi tỷ lệ hút thuốc giảm chậm hơn so với các nước giàu Điều này dẫn đến việc số người hút thuốc tại các quốc gia này gia tăng, gây ra gánh nặng bệnh tật và đói nghèo ngày càng lớn trong những khu vực dễ bị tổn thương nhất.

Theo giới tính, tỷ lệ nam giới trên 15 tuổi hút thuốc lá giảm từ 43% năm

2000 xuống 34% năm 2015; nữ giới giảm từ 11% năm 2000 xuống 6% năm

Năm 2015, có khoảng 1,1 tỷ người hút thuốc lá, trong đó ít nhất 367 triệu người sử dụng thuốc lá không khói, chiếm khoảng 6,5% dân số trên 15 tuổi toàn cầu Tỷ lệ sử dụng thuốc lá không khói cao nhất thuộc nhóm tuổi 25-64 với khoảng 20,2% - 25,4%, đặc biệt nhóm 45-54 tuổi có tỷ lệ lên đến 25,4% Trong đó, tỷ lệ nam giới hút thuốc cao hơn nữ giới, lần lượt là 8,4% và 4,6%, phản ánh xu hướng tiêu thụ thuốc lá không khói phổ biến trong các nhóm tuổi trung niên.

Dựa trên Điều tra toàn cầu về sử dụng thuốc lá (GATS 2015), Việt Nam nằm trong top 15 quốc gia có số người hút thuốc lá cao nhất thế giới Tỷ lệ hút thuốc ở nam giới là 45,3%, trong khi ở nữ giới chỉ là 1,1% Tổng tỷ lệ hút thuốc của người trưởng thành là 22,5%, tương đương với khoảng 15,6 triệu người dân Việt Nam đang hút thuốc.

1.4.2 Tình hình sử dụng thuốc lá, thuốc lá điện tử ở sinh viên y khoa Đã có rất nhiều nghiên cứu trong nước và trên thế giới chứng minh tình hình hút thuốc lá trong SV y khoa vẫn còn tương đối phổ biến [18], [20], [21],

Một nghiên cứu quốc tế phối hợp giữa đơn vị phòng chống thuốc lá của Hiệp hội quốc tế phòng chống lao và bệnh phổi, Tổ chức y tế thế giới, Hiệp hội ung thư Hoa Kỳ và Hiệp hội quốc tế về phòng chống ung thư đã khảo sát 9.000 sinh viên tại 51 trường đại học y trong 42 quốc gia Kết quả cho thấy tỷ lệ hút thuốc lá ở sinh viên y biến động khá rộng, từ 0 đến 56,9% ở nam và 0 đến 47% ở nữ, phản ánh sự đa dạng trong thói quen hút thuốc của sinh viên y trên toàn cầu.

Một nghiên cứu toàn cầu về tình hình hút thuốc lá của sinh viên y khoa tại Việt Nam năm 2006 cho thấy tỷ lệ hút thuốc lá trong sinh viên y khoa khá cao, phản ánh nhu cầu cần có các giải pháp can thiệp để giảm tỷ lệ này.

Tỷ lệ nam sinh viên từng hút thuốc là 57,1%, hiện tại còn 20,7%, trong khi nữ sinh viên lần lượt là 19,8% và 2,7% Khoảng 70-80% sinh viên cho biết trường học có các chính sách cấm hút thuốc nhưng chưa thực sự hiệu quả Hơn 60% sinh viên bị phơi nhiễm thuốc lá thụ động tại nhà trong tuần trước khảo sát, so với 53% trong cuộc điều tra năm 2003 Khoảng 70% sinh viên đang hút thuốc có ý định bỏ thuốc, và 73,8% đã cố gắng bỏ trong năm qua Dù 92% sinh viên nhận thức rõ vai trò của cán bộ y tế trong tư vấn bỏ thuốc, chỉ 79,9% quan tâm đến tiền sử hút thuốc của bệnh nhân khi khám bệnh.

Các giải pháp hạn chế hút thuốc lá, thuốc lá điện tử trong sinh viên y

Theo nghiên cứu tại ĐH Y khoa Thượng Hải, những chiến phòng chống hút thuốc lá trong SV bao gồm:

Kêu gọi sự quan tâm và lưu ý của Ban giám hiệu cùng đội ngũ giáo viên các trường đại học nhằm nâng cao chất lượng chương trình giáo dục và đào tạo, đặc biệt tập trung vào lĩnh vực bảo vệ sức khỏe và phòng chống bệnh tật Đây là yếu tố then chốt để đảm bảo sinh viên được trang bị kiến thức và kỹ năng cần thiết để tự chăm sóc sức khỏe bản thân và cộng đồng Việc hoàn thiện môn học liên quan đến y tế dự phòng sẽ góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về phòng chống dịch bệnh, từ đó thúc đẩy một môi trường học tập an toàn và lành mạnh.

Xây dựng các chương trình giảng dạy cho SV về phòng chống tác hại của thuốc lá, bao gồm:

+ Cung cấp kiến thức về tác hại của hút thuốc lá

+ Xác định trách nhiệm của người thầy thuốc với chiến dịch phòng chống thuốc lá trong cộng đồng

+ Đào tạo những kỹ năng cơ bản của người bác sĩ nhằm đưa ra lời khuyên và hướng dẫn cụ thể cho người bênh

Chương trình giảng dạy cho sinh viên về phòng chống thuốc lá cần sử dụng các phương pháp truyền đạt trực quan, dễ hiểu để đạt hiệu quả cao trong việc nâng cao ý thức Việc đa dạng hóa các chiến lược quản lý nhằm kiểm soát thuốc lá đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng môi trường đại học không khói thuốc Điều này góp phần thúc đẩy các trường đại học hướng tới mục tiêu tạo ra không khí trong lành, an toàn và thân thiện cho sinh viên và cộng đồng.

Một số nghiên cứu liên quan

1.6.1 Nghiên cứu trên thế giới

1.6.1.1 Thực trạng hút thuốc lá, thuốc lá điện tử của SV y khoa

Nghiên cứu của giáo sư Grzegorz Brożek cùng các cộng sự thực hiện từ tháng 1 đến tháng 4 năm 2016 trên 1.318 sinh viên khoa Y tại Đại học Y khoa Silesia, Katowice (Ba Lan), nhằm đánh giá thực trạng sử dụng thuốc lá trong giới trẻ Kết quả cho thấy tỷ lệ hút thuốc lá truyền thống của sinh viên là 18,1%, sử dụng thuốc lá điện tử là 1,3%, và có 2,2% sinh viên sử dụng cả hai loại thuốc lá này, phản ánh rõ xu hướng và mức độ phổ biến của việc hút thuốc trong sinh viên y khoa.

Tác giả Aamnah Karamat và cộng sự đã tiến hành thu thập số liệutrên

Từ ngày 1 tháng 4 đến ngày 30 tháng 5 năm 2009, tại Trường Đại học Y khoa King Edward, Lahore, Pakistan, đã tiến hành khảo sát về tình trạng hút thuốc trong sinh viên y khoa, trong đó có 88 sinh viên (13,45%) đã từng hút thuốc Tỷ lệ sinh viên hút dưới 10 điếu/ngày chiếm 42,04%, chủ yếu do bị bạn bè rủ rê thúc đẩy (60,23%) Phần lớn sinh viên không có ý định bỏ hút thuốc trong 6 tháng tới (78,4%), cho thấy còn nhiều thách thức trong việc kiểm soát và giảm thiểu thói quen này.

Tetsuo Tamaki và các cộng sự đã thực hiện nghiên cứu về tỷ lệ hút thuốc và các yếu tố liên quan đến hành vi hút thuốc của sinh viên y khoa tại Nhật Bản Nghiên cứu dựa trên việc thu thập dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thói quen hút thuốc trong giới sinh viên y khoa Kết quả cho thấy tỷ lệ hút thuốc trong sinh viên y khoa Nhật Bản còn cao và có mối liên hệ chặt chẽ với các yếu tố như áp lực học tập, môi trường xã hội và nhận thức về tác hại của thuốc lá Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc triển khai các chương trình can thiệp để giảm tỷ lệ hút thuốc trong cộng đồng sinh viên y khoa Các kết quả này góp phần nâng cao nhận thức và thúc đẩy các biện pháp phòng chống hút thuốc hiệu quả hơn trong giới trẻ y khoa tại Nhật Bản.

Trong cuộc khảo sát gồm 80 trường đại học y khoa tại Nhật Bản, 20 người được chọn ngẫu nhiên và mời tham gia, đã có tổng số 1619 khảo sát hợp lệ được gửi về từ tháng 12 năm 2006 đến tháng 3 năm 2007 Kết quả cho thấy tỷ lệ hút thuốc chung là 13,7%, trong đó tỷ lệ nam giới là 18,1% và nữ giới là 5,1%.

Neharika Shresthava và cộng sự đã tiến hành thu thập dữ liệu trong vòng bốn tháng (từ tháng 10 năm 2019 đến tháng 1 năm 2020) trên 113 sinh viên y khoa năm thứ ba tại Trường Cao đẳng Y tế Kathmandu, Nepal, nhằm xác định tỷ lệ phổ biến của việc hút thuốc trong nhóm này Kết quả cho thấy có 34 sinh viên (30,1%) đang hút thuốc, trong đó đa số là nam (23%), và 56 sinh viên (49,4%) đã từng hút thuốc lá trong đời.

1.6.1.2 Một số yếu tố liên quan đến thực trạng hút thuốc lá, thuốc lá điện tử của SV y khoa

Nghiên cứu của Aamnah Karamat tại Đại học Y khoa King Edward, Lahore cho thấy học sinh nam hút thuốc nhiều hơn nữ giới với mức độ khác biệt có ý nghĩa thống kê (p

Ngày đăng: 01/02/2023, 09:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. WHO (2021), WHO global report on trends in prevalence of tobacco use 2000–2025, Fourth edition, ISBN 978-92-4-003932-2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: WHO global report on trends in prevalence of tobacco use 2000–2025
Tác giả: WHO
Nhà XB: World Health Organization
Năm: 2021
4. Bộ Y tế, Tổng cục thống kê, WHO, Điều tra sử dụng thuốc lá trong người trưởng thành (GATS) năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra sử dụng thuốc lá trong người trưởng thành (GATS) năm 2015
Tác giả: Bộ Y tế, Tổng cục thống kê, WHO
Năm: 2015
5. Bộ Y tế, Quỹ phòng chống tác hại của thuốc lá, Điều tra tình hình sử dụng thuốc lá tại 34 tỉnh, thành năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra tình hình sử dụng thuốc lá tại 34 tỉnh, thành năm 2020
Tác giả: Bộ Y tế, Quỹ phòng chống tác hại của thuốc lá
Năm: 2020
7. WHO (2019), WHO report on the global tobacco epidemic, 2019. Geneva: World Health Organization Sách, tạp chí
Tiêu đề: WHO report on the global tobacco epidemic, 2019
Tác giả: WHO
Nhà XB: World Health Organization
Năm: 2019
8. Bộ Y tế, Quỹ phòng chống tác hại của thuốc lá, Hỏi và đáp về phòng chống tác hại của thuốc lá năm 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi và đáp về phòng chống tác hại của thuốc lá
Tác giả: Bộ Y tế, Quỹ phòng chống tác hại của thuốc lá
Năm: 2018
9. SEATCA (2020), Brief on Cigarette Smoking Kills, Vaping E-cigarette Kills, too Sách, tạp chí
Tiêu đề: Brief on Cigarette Smoking Kills, Vaping E-cigarette Kills, too
Tác giả: SEATCA
Năm: 2020
12. Rudy S.F., Durmowicz E.L. (2016), Electronic nicotine delivery systems: overheating, fires and explosions Sách, tạp chí
Tiêu đề: Electronic nicotine delivery systems: overheating, fires and explosions
Tác giả: Rudy S.F., Durmowicz E.L
Năm: 2016
26. Phạm Hồng Duy Anh (2003), “Kiến thức thái độ và hành vi hút thuốc lá của SV Y khoa, Đại học Y Dược TP. HCM, 2003”, Tạp chí Y học TPHCM, tập 8 (Phụ bản của số 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức thái độ và hành vi hút thuốc lá của SV Y khoa, Đại học Y Dược TP. HCM, 2003
Tác giả: Phạm Hồng Duy Anh
Nhà XB: Tạp chí Y học TPHCM
Năm: 2003
27. Nguyễn Thu Hồng (2009), “Thực trạng và kiến thức, niềm tin, thái độ về hút thuốc lá của sinh viên Đại học Y Hà Nội năm học 2008-2009”, Luận văn tốt nghiệp Bác sĩ đa khoa, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và kiến thức, niềm tin, thái độ về hút thuốc lá của sinh viên Đại học Y Hà Nội năm học 2008-2009
Tác giả: Nguyễn Thu Hồng
Năm: 2009
1. WHO (2020), Tobacco use and COVID-11, truy cập ngày 25 tháng 05 năm 2022 tại trang web: https://www.who.int/news/item/11-05-2020-who-statement-tobacco-use-and-covid-19 Link
3. WHO (2018), Smoking causes 40 000 deaths in Viet Nam each year, truy cập ngày 22 tháng 06 năm 2022 tại trang web:https://www.who.int/vietnam/news/detail/27-05-2018-smoking-causes-40-000-deaths-in-viet-nam-each-year Link
10. WHO (2020), WHO’s brief to the Ministry of Health of Vietnam on novel and emerging nicotine and tobacco products Link
14. Int. J. Environ. Res. Public Health (2020), 17, 2146; doi:10.3390/ijerph1706214615. Nicotine Tob Res (2014);16(10):1319-1326;https://doi.org/10.1093/ntr/ntu078] Link
16. Prev Med (2019);127:105770. Doi: 10.1016/j.ypmed.2019.105770. Epub 2019 Jul 22 Link
11. JAMA Pediatr (2017); 171(8):788–797.doi:10.1001/jamapediatrics. 2017.1488 Khác
13. Claire S, Gouda H, Schotte K et al. (2020), “Lung health, tobacco, and related products: gaps, challenges, new threats, and suggested research’’, Am J Physiol Lung Cell Mol Physiol. 318: L1004–L1007 Khác
17. Richmond R (1999), Teaching medical students about tobacco, Journal of Thorax, 54: 70-8 Khác
18. Phan Thị Hải, Lý Ngọc Kính (2006), Điều tra toàn cầu về tình hình hút thuốc lá của SV Y khoa, nghiên cứu tại Việt Nam, năm 2006, Điều tra toàn cầu nhân viên y tế (GHPSS) các nước thành viên của TCYTTG Khác
19. Lei Z, Jingheng H, Jianzhong L (1997), “Smoking among Shanghai medical students and the need for comprehensive intervention strategies”, Journal of Egypt Pulic Health Association, 77;1-28 Khác
20. Grzegorz Brożek và các cộng sự (2017), “E-smoking among students of medicine — frequency, pattern and motivations”, Advances in Respiratory Medicine, 85(1):8-14 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w