Tư tưởng chính trị cơ bản trong học thuyết pháp trị LỜI NÓI ĐẦU Lịch sử tư tưởng chính trị yêu cầu các quan điểm tư tưởng, các học thuyết chính trị được hình thành và phát triển trong lịch sử từ khi x[.]
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Lịch sử tư tưởng chính trị yêu cầu các quan điểm tư tưởng, các họcthuyết chính trị được hình thành và phát triển trong lịch sử từ khi xã hội phânchia thành các giai cấp, các tập đoàn xã hội khác nhau Mỗi thời đại, mỗi khuvực địa lý khác nhau có những quan điểm tư tưởng, học thuyết chính trị khácnhau Chúng là sản phẩm của những thời đại và hoàn cảnh lịch sử cụ thể, là
sự phản ánh lợi ích và xét cho cùng là lợi ích kinh tế của các giai cấp, các tầnglớp xã hội nhất định Đồng thời những quan điểm, tư tưởng, học thuyết cũng
có những điểm tương đồng do kế thừa trong quá trình phát triển của thế giớihiện thực mà chúng ta phản ánh
Học thuyết pháp trị của Hàn Phi là một trong những di sản văn hóa chínhtrị đặc sắc của Trung Hoa cổ đại và của nhân loại Nó đã để lại cho khoa họcchính trị những bài học sâu sắc về việc tổ chức và thực thi quyền lực chính trị.Quyền lực chính trị phải tập trung thống nhất, pháp luật phải thực sự là công
cụ chủ yếu để thực thi quyền lực và việc tổ chức thực thi quyền lực vừa làmột khoa học, vừa là nghệ thuật
Tư tưởng chính trị của học thuyết này đã là dòng chảy liên tục trong suốtlịch sử xã hội phong kiến Việt Nam trải qua mười thế kỷ Hiện nay, chúng tađang xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo củaĐảng Hạt nhân hợp lý mà Đảng đang kế thừa là tư tưởng chủ đạo của học
thuyết pháp trị “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật”
Trang 2Ở các nước phương Đông, nhà nước xuất hiện rất sớm, trong khi sự phânhóa chưa chín muồi Nhà nước phương Đông ra đời do yêu cầu thống nhất ,quản lý trị thủy và thủy lợi, bởi lẽ công việc này đòi hỏi bức thiết phải có sựcan thiệp của chính quyền nhà nước tập trung Do đó mới nảy sinh ra cái chứcnăng kinh tế mà tất cả các chính phủ châu Á đều bắt buộc phải thực hiện, cụthể là chức năng tổ chức các công trình công cộng Nhà nước có tính chất tậpquyền khá cao, yêu cầu về chuyên chế khá nổi bật “chuyên chế phươngĐông”- chuyên chế có tính chất ràng buộc và được xuất phát từ sở hữu ruộngđất thuộc về nhà nước và được tập trung tối cao vào ông vua chuyên chế.Ph.Ăngghen đã chỉ ra rằng: “Các công xã cổ, ở nơi nào chúng vẫn tiếp tục tồntại, thì hàng nghìn năm nay đều cấu thành cái cơ sở mà hình thức nhà nướcthô sơ nhất, tức là chế độ chuyên chế phương Đông” Số nô lệ làm thủy lợi vànhững người tự do không có tài sản ngày một đông hơn Chỉ có chính quyềnnhà nước mạnh mẽ mới mới có thể cai quản được họ
Xã hội Trung Quốc cũng giống như nhiều xã hội khác ở Châu Á, không
hề giống như một xã hội nô lệ và phong kiến phương Tây Đặc điểm củanhững xã hội ấy là công hữu ruộng đất chiếm ưu thế, tàn dư công xã kéo dài,nền kinh tế, xã hội diễn ra với sự cống nạp từ bên dưới và phân phối từ bên trên
Trang 3Xã hội và quốc gia chiếm hữu nô lệ ở trung Quốc cổ đại được hình thànhvào khoảng thiên niên kỷ II trước công nguyên Lịch sử xã hội chiếm hữu nô
lệ của Trung Quốc cổ đại là lịch sử đấu tranh tàn khốc giữa chủ nô và nô lệ,giữa tầng lớp thượng lưu của xã hội chiếm hữu nô lệ với những nông dân bịphá sản, bị nô dịch và phụ thuộc, giữa tầng lớp quý tộc gia truyền bị bần cùnghóa với những thương nhân và trọc phú tiếm quyền Những xung đột giai cấptrong quốc gia chiếm hữu nô lệ Trung Quốc trở nên sâu sắc Cuộc đấu tranh
ấy để lại dấu ấn rất nặng nề Nó tạo tiền đề chính trị xã hội cho cuộc đấu tranhcủa các trường phái tư tưởng chính trị khác nhau rất đa dạng và phong phú.Đặc biệt những biến động trong đời sống xã hội trung Quốc thời Chiến Quốcphản ánh một thời kỳ lịch sử (bắt đầu xuất hiện từ thời Xuân Thu) Trong đó,quá trình tan rã của chế độ phân phong kiến địa và chế độ tỉnh điền diễn rađồng thời với quá trình xác lập chế độ sở hữu tư về ruộng đất phát triển dầnthành quan hệ sản xuất thống trị Đây cũng là thời kỳ đấu tranh gay gắt củacác tập đoàn phong kiến để hình thành xu hướng một nhà nước phong kiếntập quyền kết thức bằng việc Tần Thủy Hoàng lên ngôi hoàng đế thống nhấttoàn thể đất nước Trung Hoa vào năm 221 trước Công nguyên
2 Sự hình thành tư tưởng pháp trị của Trung Quốc cổ đại.
Những biến loạn thời Xuân Thu đã làm nảy sinh nhiều tư tưởng chính trịkhác nhau Những kẻ sỹ (đại diện cho tầng lớp quý tộc mới, có học thức, cóhoài bão nhưng lại không có quyền lực) đầy nhiệt huyết với đời mang nhữngchủ thuyết khác nhau đi khắp thiên hạ nhằm thực hiện mưu đồ làm cho dân
an, nước thịnh Các phái Nho gia (khởi thủy là Khổng Tử) chủ trương dùngĐức trị; Lão gia (do Lão Tử khởi thủy) chủ trương trị nước bằng thuyết “ vôvi”; Mặc gia (do Mặc Tử khởi nguồn) chủ trương dùng “kiêm ái” để vãn hồitrật tự xã hội Các chủ thuyết khác nhau này có điểm tương đồng là đều nhằmxây dựng một xã hội thái bình, không có chiến tranh, thịnh trị dưới sự cai trịcủa một ông vua Bên cạnh đó, các học thuyết này đều đi đến chỗ thất bại, bếtắc vì thực tế trải qua thời gian lịch sử không một ông vua nào vận dụng thành
Trang 4công các tư tưởng đó vào việc trị quốc Thực tiễn khốc liệt của một giai đoạnkịch sử gắn liền với cuộc đấu tranh đẫm máu đã chối bỏ những tư tưởng chínhtrị giàu chất nhân văn nhưng lại thiếu tính hiện thực Bằng chứng là trong cảthời kỳ này chỉ có ít quốc gia cường thịnh trong một vài mươi năm như nước
Tề, Tần, Trịnh, Triệu, Hàn Các quốc gia thịnh trị nhất giai đoạn này lạikhông dùng nhân, dùng lễ của Nho gia, không dùng “vô vi” của Lão gia vàkhông dùng “kiêm ái” của Mặc gia mà lại dùng “pháp trị” của Pháp gia
Pháp trị là chủ trương cai trị bằng pháp luật Pháp hiểu theo nghĩa lànhững luật lệ, quy định ngăn cấm, trừng trị xuất hiện từ rất sớm trong lịch sửTrung Hoa cổ đại Thời nhà Chu người ta dùng hai phương pháp ứng xử khácnhau với hai giai tầng của xã hội: Dùng lễ cho cách ứng xử với tầng lớp quýtộc và dùng hình cho tầng lớp thứ dân “Hình không lên đến đại phu, Lễ khôngxuống đến thứ dân” Việc sử dụng pháp luật là đặc quyền của quý tộc áp đặtcho thứ dân không tránh khỏi dẫn đến sự hủ bại của tầng lớp thống trị Xuhướng tranh bá, tranh hùng để làm bá chủ thiên hạ đòi hỏi các nước chu hầuphải có binh cường, lực mạnh Bởi vậy vai trò của binh sỹ và người lao độngđược đề cao, trong khi xã hội vẫn tồn tại một tầng lớp quý tộc đặc quyền, đặclợi chỉ nhờ vào sự phân phong, thế tập Hiện thực xã hội lúc này tồn tại mộtbất công: Một bộ phận sử dụng pháp luật mà không bị pháp luật chi phối,trong khi một bộ phận khác là đối tượng của pháp luật nhưng lại không đượcpháp luật bảo hộ
Quản Trọng (nước Tề) là người đầu tiên dùng pháp luật để điều chỉnh sựbất công ấy trong xã hội Thực chất là tước bớt một một phần quyền lợi củamột bộ phận quý tộc thế tập và vỗ về binh lính cũng như người lao động
“Pháp là cái quy tắc của thiên hạ Lấy pháp mà trị tội thì dân chết không oán,lấy pháp mà định công lao thì dân nhận thưởng mà không cho là ân đức…Chonên quan lại sai khiến dân mà có pháp là dân theo, không có pháp dân dừng
lại…” – (Quản Tử- quyển 21).
Trang 5Sang đầu thời Chiến Quốc, Lý Khởi nước Ngụy tập hợp các sách hìnhcủa nhiều nước, chỉnh lại thành bộ Pháp kinh ( gồm 6 thiên) quy định rõ ràng
về việc trừng trị kẻ vô đạo, kẻ chống đối, ứng xử với tù nhân…Pháp kinh nàyđược coi là bộ pháp điển cổ tương đối hoàn chỉnh ra đời sớm nhất của lịch sửlập pháp Trung Quốc
Pháp trị là một chủ trương, một đường lối chính trị Nhưng việc vậndụng nó lại có nhiều cách thức khác nhau Sự khác nhau trong việc lựa chọnphương tiện cách thức để thực thi pháp luật đã hình thành nên ba trường pháilớn của Pháp gia: Trọng Pháp (tiêu biểu là Thương Ưởng); Trọng Thế (tiêubiểu là Thận Đáo); Trọng Thuật (tiêu biểu là Thân Bất Hại)
Thương Ưởng: (?- 338 TCN) là tướng quốc nước Tần Ông là người rất
đề cao pháp luật và cũng là người khởi xướng tư tưởng biến pháp Theo ôngtrị nước trọng nhất có ba điều: một là pháp luật, hai là lòng tin của dân, ba làquyền lực Ông quan niệm Đạo lập ra vua, không gì rộng bằng làm cho phápluật mạnh Ông đã giúp Tần Hiếu Công cải cách pháp chế nước Tần ban bốpháp luật
Thân Bất Hại: (401-337 TCN) là tướng quốc nước Hàn Ông chủ trươngdùng Pháp thay cho lễ và rất coi trọng việc dùng thuật để điều khiển quầnthần Theo ông thuật tức là phải dùng tài mà giao chức, theo danh vị mà đòigánh lấy việc thực, nắm quyền sinh sát, xét tài năng của quần thần, đó là cácbậc đứng đầu người ta phải xét vậy Chủ trương tùy tài mà giao chức, theodanh vị mà giao việc đã trực tiếp phủ định đặc quyền thế tập tước vị của tầnglớp quý tộc cũ Bởi vậy sinh thời ông đã bị chống đối quyết liệt và sau khi ôngchết thì chủ trương của ông cũng bị mai một theo, nước Hàn vì vậy vũng suy.Thận Đáo (370-290 TCN) là người nước Triệu nhưng sau làm đại phunước Tề (thời Tuyên Vương) Cũng chủ trương trị nước trên cơ sở pháp luậtnhưng ông xem quyền thế là cơ bản nhất quy định chính trị và pháp luật.Quyền thế đặt ra pháp luật và đảm bảo cho pháp luật được thi hành Để đảmbảo quyền thế của người cai trị, Thận Đáo chủ trương thành lập một nhà nước
Trang 6tập quyền thống nhất, nghĩa là mọi quyền lực đều thuộc về nhà vua Làm đạiphu nước Tề, nhưng ông bị các quần thần ra sức chống phá vì họ bị tước đoạtbớt quyền lực Cuối cùng ông phải bỏ nước Tề mà đi.
Điểm tương đồng của các phái Pháp gia là đều coi pháp luật là cái gốccủa cai trị, là công cụ của đế vương và đều có xu hướng tước bỏ bớt quyềnlực của triều thần tập trung cho vua Sự khác biệt của các phái chính là việcnhấn mạnh vai trò của một yếu tố, là phương pháp ứng xử chính trị hànhchính phiến diện không thể tạo ra một học thuyêt chính trị hoàn chỉnh để đápứng yêu cầu thực tiễn là xây dựng một nhà nước phong kiến tập quyền vữngmạnh và ổn định lâu dài Việc dùng pháp luật làm công cụ cai trị đã đem lại
sự hưng thịnh một thời cho các quốc gia như Tề, Tần, Triệu, Ngụy, Sở…Nhưng việc tập trung quyền lực cho nhà vua (tập quyền) dần dẫn đến hệ quả
bị quần thần chống đối quyết liệt Vì vậy tất thảy các quốc gia dùng pháp trị
để được hưng thịnh nhưng sau khi nhà vua hoặc thủ lĩnh đứng đầu chết đi thìđường lối pháp trị cũng bị xóa bỏ dần Đây là một kết quả mang tính tất yếucủa thời đại: Đường lối canh tân chính trị chưa đủ sức thắng lợi hoàn toàntrước một cơ sở xã hội cũ còn quá mạnh
Chính vì vậy làm thế nào để thống nhất được thiên hạ dưới quyền một vị
bá vương để có một quốc gia thái bình, thịnh trị lâu dài trở thành một yêu cầucấp thiết của thời đại bấy giờ Lịch sử đã sinh ra một Hàn Phi ưu tú có thểhoàn thiện học thuyết pháp trị đáp ứng được yêu cầu xây dựng một nhà nướcphong kiến tập quyền thống nhất
II NỘI DUNG TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CƠ BẢN trong HỌC THUYẾT PHÁP TRỊ CỦA HÀN PHI.
1 Thân thế và sự nghiệp của Hàn Phi:
Hàn Phi mất vào năm 232 trước công nguyên Tiểu sử của ông đã được
Tư Mã Thiên kể lại chính xác trong bộ Sử Ký Hàn Phi là công tử nước Hàn,tức là con của vua Công nước Hàn nhưng không phải là người được thừa kếngôi vua Hoàn cảnh ấy giúp Hàn Phi từ bé đã nhìn thấy rõ các quan hệ giữa
Trang 7vua tôi và cách trị nước Sau đó Hàn Phi đến học với Tuân Khanh, tức TuânTử- nhà học giả lớn nhất lúc bấy giờ Hàn Phi tiếp thu Nho giáo, do đó rấtthông thạo về lịch sử và văn học Ông kế thừa quan niệm của Tuân Tử chorằng bản tính con người là ác, căm ghét mê tín, coi trọng giáo dục, đề cao tiênvương các đời Hạ, Thương, Chu mà xem nhẹ Nghiêu, Thuấn là mẫu mực củaKhổng Tử
Hàn Phi lấy tư tưởng triết học của Lão Tử làm cơ sở hay “làm xươngsống” cho học thuyết pháp trị như học giả Phan Ngọc nhận định Trong tácphẩm Hàn Phi Tử ông dành trọn hai thiên (XX và XXI) để luận giải việc vậndụng Đạo đức kinh của Lão Tử vào phép trị nước
Cũng giống như kẻ sỹ đương thời, Hàn Phi tự tin vào trí tuệ của mình vàlòng nhiệt huyết muốn mang tư tưởng chính trị đó chỉnh đốn lại trật tự xã hộiđang suy vong, rệu rã Sau khi Thân Hại mất, nước Hàn suy, ông đã mấy lầndâng thư lên Hàn An Vương đề nghị cải cách biến pháp nhưng không đượcchấp nhận Do bị tật nói ngọng bẩm sinh, ông không thể theo chân các kẻ sỹ
đi khắp nơi làm du thuyết để tìm nơi dụng trí của mình Hàn Phi dồn hết trílực và tâm lực để viêt bộ sách Hàn Phi Tử Trong tác phẩm này ông đã trìnhbày toàn bộ hệ thống quan điểm của mình về trị nước mà ông tin chắc chắn là
nó sẽ làm cho dân yên, nước thịnh
Năm 234 trước công nguyên, Tần Thủy Hoàng đọc Hàn Phi Tử Khi xemđến hai chương “Cô phần” và “Ngũ đố”, ông vua nổi danh về quyền uy, thamvọng và tàn bạo này đã phải thốt lên “Than ôi! Nhân quả mà được chơi bời
với con người này thì chết cũng không ăn năn” (Sử ký Tư Mã Thiên) Khi
nước Hàn có nguy cơ bị nước Tần thôn tính, Hàn Phi được giao sứ mạng sangthuyết phục Tần vương đừng đánh nước Hàn Ông dâng vua Tần bài “TồnHàn” và đó là cái cớ cho bọn Lý Tư- Thừa tướng nước Tần vốn là bạn đồngmôn của Hàn Phi, thuyết phục Tần Vương bức hại ông để trừ hậu họa Trongnhà ngục ông vẫn kiên trì viết “Kiến sở Tần”để gửi Tần Vương Đọc xongTần Vương ra lệnh thả Hàn Phi Nhưng Lý tư vốn ghen ghét với cái tài của
Trang 8bạn mà Tư thừa hiểu đó là con người giỏi nhất về chính trị của thời đại, nên
đã bắt hàn Phi uống thuốc độc chết trong nhà ngục
Hàn Phi nhận biết cái chết thế nào cũng đến với kẻ sỹ biết đề cao phápluật và thuật trị nước Ông đã gửi cả tâm hồn và tinh lực vào tác phẩm hàn Phi
Tử mà ông tin là sẽ sống mãi với đời
2 Nội dung tư tưởng chính trị cơ bản trong học thuyết pháp trị của Hàn Phi Tử.
Tư tưởng chính trị cơ bản của Hàn Phi thực chất là tư tưởng pháp trị củaông Nói cách khác ở Hàn Phi Tử tư tưởng chính trị cơ bản và tư tưởng pháptrị là đồng nhất với nhau Tư tưởng pháp trị vốn có từ thời Xuân Thu với đạibiểu Quản Trọng được coi là ông tổ của của Pháp gia Đến thời Chiến Quốc,
tư tưởng pháp trị mới phát triển mạnh với ba dòng phái: Trọng pháp củaThương Ưởng, Trọng thế của Thận Đáo và Trọng thuật của Thân Bất Hại.Hàn Phi Tử đã tổng hợp ba dòng phái trên thành học thuyết pháp trị hoànchính nhất Trung Quốc cổ đại
Như vậy Hàn Phi không phải là người sáng lập ra pháp gia, nhưng HànPhi lại thành vĩ đại vì ông đã nâng các tư tưởng pháp trị thành lên thành một
hệ tư tưởng Do đó, nguồn gốc trực tiếp trong học thuyết pháp trị của Hàn Phi
chắc chắn là những tư tưởng về Pháp- Thế- Thuật Nhưng nguồn gốc sâu xa
của nó lại là Nho và Lão Trong đó “Nho là vật liệu” xây dựng, nhưng Lãomới là kỹ thuật thi công của ngôi nhà độc đáo- Học thuyết pháp trị của Hàn
Phi” (Hàn Phi Tử- tr 12- Nxb văn học 1992).
a Quyền lực chính trị tập trung trong tay nhà vua.
Hàn Phi Tử lý giải những vấn về quyền lực chính trị trên cơ sở triết lýđạo pháp tự nhiên “Cái quyền không nên lộ ra, bản chất là vô vi Công việc
làm ở bốn ngưỡng nhưng then chốt là ở Trung ương” (Chủ đạo- quyển I, thiên V) Ông thừa nhận chính thể phong kiến tập trung và dùng pháp luật để
củng cố quyền lực Ông chủ trương nên chính trị quân chủ tập trung , thốngnhất Mọi quyền lực đều do nhà vua không thể san sẻ cho kẻ khác; uy quyền
Trang 9của vua là tối thượng “cái uy không thể cho mượn, cái quyền không thể dùngchung với người khác, nếu uy quyền dùng chung với kẻ khác thì bọn gian tà
nhan nhản” (Hữu Độ- Quyển II, Thiên VI) Hàn phi cho rằng để giữ quyền lực
phải loại trừ nguy cơ đe dọa từ bên ngoài và bên trong, nhưng chủ yếu là nguy
cơ bên trong Ông chỉ ra 41 nguyên nhân bên trong, 6 nguyên nhân bên ngoài.Những nguy cơ “vong trưng” này khuyên nhà vua đề phòng cảnh giác đến cảHoàng Thái Hậu, Hoàng Hậu, Thái Tử trở xuống Xem đủ biết ý chí tậpquyền của ông lớn đến thế nào
Cũng giống như tất thảy các chủ thuyết chính trị Trung Quốc cổ đại, HànPhi cũng có tư tưởng Tôn quyền (coi địa vị và quyền uy của vua là độc tôn).Điểm khác biệt với Nho gia và các học thuyết khác là ông không thần thánhhóa nhà vua mà chỉ trọng cái thế và địa vị của nhà vua “Nghiêu khi làm kẻthuộc hạ mà giáo dục dân chúng không nghe, nhưng đến khi quay mặt vềhướng nam làm vương thiên hạ thì lệnh ban ra được thi hành, điều ngăn cấmbắt người ta phải thôi Do đó mà xét thì tài giỏi khôn ngoan không đủ để dânchúng phục theo, mà cái thế và địa vị làm cho người hiền giả phải thuyết phục
được” (Nạn thế- q XVII, thiên XL) Có thể thấy rằng toàn bộ nội dung tác
phẩm Hàn Phi Tử và học thuyết của ông đều nhằm mục đích “Tôn quyền”làm công cụ trị nước của nhà vua, bàn về nhà nước cũng để nhằm bàn về công
cụ trị nước của bậc đế vương
b Pháp luật là công cụ chủ yếu để thực thi quyền lực chính trị:
Nội dung của Pháp luật được Hàn Phi quy về Thưởng và phạt Ông gọi là
“ hai cái cán” (nhị bính): “Bậc vua sáng suốt sở dĩ lãnh đạo và chế ngự đượcbầy tôi chẳng qua là nhờ hai cái cán mà thôi Hai cái cán ấy là hình và đức
(Giết chóc gọi là hình phạt, khen thưởng gọi là ân đức)” (Nhị bính- q II, thiên VII) Ông còn nhấn mạnh: phải có sự phân biệt rạch ròi trong việc thưởng-
phạt “cái lý của việc trị hay loạn trước hết cần phân biệt thưởng và phạt.Những người trị nước không ai không có pháp luật nhưng người còn, kẻ mất
Người mất vì việc chế định hình phạt và khen thường không rạch ròi” (Chế phân- q XX, thiên LV).
Trang 10Theo Hàn Phi trong việc phân định thưởng- phạt phải nêu lên đượcthuyết Danh- Hình Danh là tên gọi, việc làm (như tinh thần Khổng giáo) cònHình (hay thực) là kết quả, trách nhiệm thực tế Danh- Hình hợp nhau là phải
“chính danh”, không hợp nhau là trái, là “không chính danh” Phải trái- đúngsai theo “danh- hình” đã xác định thì cứ theo đó mà thưởng phạt
Trong thuật dùng người, Hàn Phi cũng lấy thuyết Danh- Hình này làmnguyên tắc “cái danh tự nó ra lệnh, khiến sự việc tự nó giải quyết Nếu khôngbiết cái danh thì theo dõi cái hình không thực tế Nếu cái danh và cái hình đãphù hợp với nhau thì kết quả sẽ tự nó đến
Hàn Phi cũng có quan điểm rất độc đáo trong việc thi hành hình phạt
“Phải phạt nặng những tội nhẹ Tội nhẹ không phạm thì tội lớn không có, đógọi là cách dùng hình phạt để trừ bỏ hình phạt Nếu tội nặng mà hình phạt nhẹthì hình phạt nhẹ làm cho sự việc nảy sinh, đó gọi là cách dùng hình phạt để
làm nảy sinh hình phạt Nước làm thế nhất định sẽ bị chia sẻ” (Sắc lệnh- q
XX, thiên LIII) và “Thưởng thì không gì bằng thưởng hậu và chắc chăn khiến
cho dân có lợi vì việc đó, phạt thì không gì bằng phạt nặng và dứt khoát khiến
cho dân sợ” (Ngũ đố- q XIX, thiên XLIX) Như vậy Pháp được Hàn Phi coi là
gốc của việc trị nước, là công cụ chủ yếu của đế vương đã bao hàm những đặctrưng cơ bản:
Thứ nhất: Là pháp lệnh (mệnh lệnh) thành văn bao gồm những điều luật,
luật lệ quy định rõ ràng minh bạch ban bố cho thiên hạ biết những điều đượclàm, những điều bị cấm
Thứ hai: Quy định nội dung và hình thức thưởng, phạt.
Thứ ba: Nhằm mục đích: “ Để chữa cái loạn của dân chúng, trừ bỏ cái
họa trong thiên hạ Khiến cho kẻ mạnh không lấn át kẻ yếu, kẻ đông khôngxúc phạm số ít, biên giới không bị xâm lấn, vua và tôi thân yêu nhau, cha congiữ gìn cho nhau lại không mắc phải cái lo bị chết chóc hay bị giặc cầm tù”
(Gia kiếp thí thần- q IV, thiên XIV).
Trang 11Với những nội dung và mục đích như trên, Pháp của Hàn Phi xứng đáng
là tiêu chuẩn khách quan phân định danh phận và hình pháp để mọi người biết
rõ bổn phận và trách nhiệm của mình, biết rõ điều gì phải làm và điều gìkhông được làm, là căn cứ để phân biệt và phán xét phải trái- đúng sai củahành vi mà làm căn cứ cho thưởng, phạt Pháp luật đã được quan niệm nhưcông cụ của kẻ cầm quyền điều chỉnh các mối quan hệ về một trật tự xã hộitheo ý chí của mình ở đây ta hiểu pháp luật do vua đặt ra, do vua ban bố côngkhai và bắt buộc mọi thành viên trong xã hội tuân thủ Do vậy nó mang tínhchất quốc gia, tính chất quốc gia này của phong kiến Trung Hoa cổ đại đã cheđậy đi bản chất giai cấp của pháp luật
Trong thuyết pháp trị của mình, Hàn Phi tiếp thu trọn vẹn tinh thần “biếnpháp” của Thương Ưởng Ông viết “Bậc thánh nhân không cốt trau dồichuyện xưa, không noi theo những quy tắc bất biến, khi bàn việc làm ở đời thìdựa theo tình hình của thời mình mà đặt ra những biện pháp” Ông phân tíchrất khách quan về việc “chuyện nhân nghĩa làm đời xưa thì được nhưng làm
thời nay thì không được, cho nên có câu: Thời khác thì sự việc khác” (Thiên ngũ đố- q XIX) Ông phân tích chuyện ngày xưa người ta coi nhẹ việc nhường
chức thiên tử mà ngày nay người ta khó lòng nhường chứ chuyện lệnh “Bởimột bên sang, một bên hèn thực tế rất khác nhau”, Hoặc coi việc những ngườingày nay muốn dùng cách cai trị dân của các vị vua ngày xưa thì khác nàomột nông phu nước Tống ôm gốc cây đợi thỏ vậy…Nguyên tắc thời biếnpháp biến (Pháp dữ thời di) được ông chỉ rõ “Việc tự dân không có cáinguyên tắc bất biến, chỉ có pháp luật làm cho dân trị an Pháp luật thay đổitheo thời thì trị Việc cai trị pháp trị pháp luật theo thời thì có công lao Thờithế thay đổi mà cách cai trị không thay đổi thì loạn Biết cai trị dân chúngnhưng lệnh ngăn cấm không thay đổi thì nước bị cắt cho nên bậc thánh nhântrị dân thì pháp luật theo thời mà thay đổi, về sự ngăn cấm theo khả năng mà
thay đổi (Tâm độ- q XX, thiên LIV).
Trang 12Tư duy “thời biến- pháp biến” là quan điểm rất tiến bộ vì vừa duy vậtvừa biện chứng mà Hàn Phi và các đại biểu pháp gia cách đây trên 2000 năm
đã tiếp cận được Có thể nói đây là tư duy tiến bộ mang tính cách mạng và độtphá cao của Hàn Phi so với các nhà tư tưởng đương thời luôn luôn tâm niệmphục cổ kính tiên thiên và cho rằng đời sau không bằng đời trước (thị cổ phikim)
c Thế và thuật là phương pháp cách thức để tổ chức thực thi quyền lực.
Thế là địa vị và quyền uy của người nắm quyền lực chính trị Ông chorằng , một ông vua sở dĩ lập được công, thành được danh là nhờ có bốn điều:Một là thiên thời, hai là lòng người, ba là kỹ năng, bốn là cái thế và địa vị.Ông nêu lên vai trò không thể thiếu của Thế “Có tài mà không có thế thì dù
có hiền cũng không khống chế được kẻ hư hỏng cho nên dựng một cái câymột thước trên đỉnh núi cao thì nhìn được cái khe sâu ngàn nhận….Kiệt làmThiên tử thì có thể khống chế thiên hạ, không phải vì ông ta hiền nhưng cáithế của ông ta nặng Nghiêu làm kẻ thất ngu thì không sửa đổi được ba nhà.Không phải vì ông ta hư hỏng mà vì cái địa vị của ông ta thấp Một ngàn cânđặt trên thuyền thì nổi, một tri, một thù không có thuyền thì chìm không phải
vì ngàn cân thì nhẹ mà một tri một thù thì nặng…Cho nên ngắn mà khống chế
cao là nhờ địa vị Hư hỏng mà khống chế người hiền là nhờ thế” (Công
danh-q VIII, thiên XXVIII) Trong thiên IV (Ái thần) của danh-quyển I ông cũng ca ngợi
uy quyền- địa vị và cái thế của nhà vua “Trong muôn vật không có gì quýbằng thân mình, không có gì được tôn trọng bằng địa vị, không có gì đángtrọng bằng quyền uy, không có gì mạnh bằng thế của nhà vua”
Trọng Thế khởi nguồn từ Thận Đáo Thận Đáo cho rằng tài giỏi khônngoan chưa đủ làm cho dân chúng phục theo,mà cái thế và địa vị đủ làm chongười hiền giả phải khuất phục Hàn Phi dẫn ra chuyện Kiệt, Trụ làm vươngthiên hạ lấy cái uy của Thiên Tử để làm mây, làm mù nhưng thiên hạ vẫnkhông khỏi loạn to, đó là cài tài của Kiệt, của Trụ kém Ông phê phán Thân
Tử “bỏ người hiền mà chỉ dựa vào thế mà thôi thì có đủ trị nước hay không?