1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận lịch sử tư tưởng chính trị nội dung tư tưởng chính trị hy lạp la mã cổ đại những giá trị cơ bản của các tư tưởng này

22 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nội Dung Tư Tưởng Chính Trị Hy Lạp - La Mã Cổ Đại? Những Giá Trị Cơ Bản Của Các Tư Tưởng Này
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Lịch Sử Tư Tưởng Chính Trị
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 47,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệthống tri thức về lịch sử tư tưởng chính trị không chỉ khẳng định cơ sở khoahọc và vị thế của khoa học chính trị, mà hơn thế nữa, nó còn góp phần khẳngđịnh trình độ văn minh của xã hội

Trang 1

TIỂU LUẬNMÔN: LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ

Đề tài:

NỘI DUNG TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ HY LẠP - LA MÃ CỔ ĐẠI? NHỮNG GIÁ TRỊ CƠ BẢN CỦA CÁC TƯ TƯỞNG NÀY

Trang 2

MỤC LỤC

I ĐẶT VẤN ĐỀ 1

II NỘI DUNG 2

2.1 Điều kiện kinh tế - xã hội Hy Lạp - La Mã cổ đại và nét đặc thù của tư tưởng chính trị 2

2.1.1 Điều kiện kinh tế- xã hội của Hy Lạp cổ đại (thế kỷ VIII trước Công nguyên đến thế kỷ III sau Công nguyên) 2

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của La Mã cổ đại (thế kỷ IV trước Công nguyên đến thế kỷ V sau Công nguyên) 3

2.2 Những nét đặc thù của tư tưởng chính trị Hy Lạp - La Mã cổ đại 6

2.3 Các nhà tư tưởng chính trị tiêu biểu 7

III KẾT LUẬN 19

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 20

Trang 3

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Lịch sử tư tưởng chính trị là môn học có nhiệm vụ cung cấp những trithức cơ bản về quá trình nảy sinh, hình thành, phát triển và thay thế lån nhaucủa những tư tưởng, quan điểm chính trị tiêu biểu trong lịch sử loài người Hệthống tri thức về lịch sử tư tưởng chính trị không chỉ khẳng định cơ sở khoahọc và vị thế của khoa học chính trị, mà hơn thế nữa, nó còn góp phần khẳngđịnh trình độ văn minh của xã hội loài người tương ứng với những nấc thangphát triển nhất định của xã hội Là sự phản ảnh dặc thù có tính lịch sử sự pháttriển của đời sống xã hội, tư tưởng chính trị và sự phát triển của nó, suy đếncùng, bị qui định bởi sự phát triển của tổn tại xã hội, của nền sản xuất vậtchất, cũng như phụ thuộc vào sự phát triển của cuộc đấu tranh giai cấp, đấutranh dân tộc

Tuy nhiên, chính trị và lịch sử các tư tưởng chính trị có tính độc lậptương đối Điều đó bắt nguồn từ bản chất, nguồn gốc của nhận thức, của lôgicphát triển nội tại của chính trị và của sự giao lưu, kế thừa tư tưởng trongnhững hoàn cảnh lịch sử nhất định, vượt khỏi sự qui định

Hy Lạp cổ đại là một nền văn minh thuộc về một thời kỳ lịch sử của HyLạp khởi đầu từ thời kỳ Tăm tối của Hy Lạp khoảng từ thế kỷ XII cho tới thế

kỷ thứ IX TCN và kéo dài đến cuối thời kỳ cổ đại (khoảng năm 600 CôngNguyên) Và đây là một trong những nước có nền tư tưởng chính trị cổ đại cócác nét đặc sắc

Chính vì lý do này, tác giả tiến hành lựa chọn đề tài: “Nội dung tư

tưởng chính trị Hy Lạp - La Mã cổ đại? Những giá trị cơ bản của các tư tưởng này” để làm tiểu luận hết môn của mình, nhằm tìm hiểu các nét đặc thù

của nền tư tưởng chính trị Hy Lạp – La mã cổ đại

Trang 4

II NỘI DUNG

2.1 Điều kiện kinh tế - xã hội Hy Lạp - La Mã cổ đại và nét đặc thù của tư tưởng chính trị

2.1.1 Điều kiện kinh tế- xã hội của Hy Lạp cổ đại (thế kỷ VIII trước Công nguyên đến thế kỷ III sau Công nguyên)

Hy Lạp có lịch sử phát triển lâu đời, nhưng Hy Lạp cổ đại thực sự đượcphát triển từ thế kỷ VIII trước Công nguyên Khi đó người Hy Lạp gọi mình

là Helen (Hellens) và gọi đất nước mình là Hela (Helas), tức Hy Lạp Về lãnhthổ, Hy Lạp cổ đại rộng hơn nhiều nước Hy Lạp ngày nay, gồm miền Nambán đảo Bancăng (vùng lục địa Hy Lạp), các đảo Egie và miền ven biển phíaTây Tiểu Á, rất thuận lợi về địa lý, bao gồm cả vùng lục địa, vùng đảo, vùngven biển, nên công - thương nghiệp rất phát triển Về cư dân, Hy Lạp cổ đạigồm nhiều tộc người: người Eôliêng chủ yếu cu trú ở Bắc bán đảo Bancăng

và một phần Trung bộ - vùng đồng bằng Bêôxi; người lôniêng ở đồng bằngAttích - vùng ven biển phía Tây Tiểu Á; người Akêang ở vùng Bắc bán đảoPelôpônedơ và người Đônieng ở Bắc bán đảo Pelôpônedơ, đảo Grét và cácđảo khác ở phía Nam biển Egiê

Xã hội Hy Lạp cổ đại phát triển khá điển hình với phương thức sảnxuất chiếm hữu nô lệ Khoảng thế kỷ VI IV trước Công nguyên, xã hội nô lệ

Hy Lạp phát triển tới mức hoàn thiện với hai trung tâm kinh tế - chính trị điểnhình là thành bang Aten và thành bang Spas

Tại thành bang Aten, với chế độ chính trị- nhà nước chủ nô dân chủđiển hình, tầng lớp chủ nô dân chủ chiếm ưu thế, nền kinh tế phát triển, đặcbiệt là nền văn hóa Aten - bộ phận quan trọng nhất của văn hóa Hy Lạp cổ đại

- rất phát triển Còn tại thành bang Spas, với chế độ chính trị - nhà nước chủ

nô quí tộc điển hình, tầng lớp chủ nô quí tộc chiếm đa số nên Spas là thànhbang bảo thủ về chính trị, lạc hậu về kinh tế, văn hóa Do có sự khác nhaunhư vậy nên cuộc nội chiến tương tàn xảy ra kéo dài hàng mấy thế kỷ, cuối

Trang 5

cùng chiến thắng thuộc về tầng lớp chủ nô quí tộc của thành bang Spas Đó làcuộc chiến tranh Penôpônedơ nổi tiếng trong lịch sử Hy Lạp cổ đại, hậu quảcủa nó là đế chế Maxêdoan đã thôn tính không chỉ Hy Lạp mà cả một vùngđất phương Đông rộng lớn tới tận Bắc Ấn Độ Sự xâm lược Hy Lạp của đếchế Maxêđoan đã làm cho Hy Lạp suy sụp, và đến thế kỷ II (năm 146) trướcCông nguyên, Hy Lạp bị đế quốc La Mã thôn tính.

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của La Mã cổ đại (thế kỷ IV trước Công nguyên đến thế kỷ V sau Công nguyên)

La Mã (Rôma) là tên gọi của một quốc gia cổ đại nằm ở Nam Âu, baogồm bán đảo Italia, đảo Xixin, đảo Coócxơ và đảo Xacđenhơ Phía Bắc ngăncách với châu Âu bởi dãy núi Anpơ

Từ thiên niên kỷ III trước Công nguyên, cuối thời đá mới đầu đồng thau,người Ligua (Ligures) đã sống ở bán đảo Italia Đến đầu thiên niên kỷ II,người châu Âu đã vượt dãy Anpơ đến định cư tại bán đảo này, gọi là ngườiItaliot (Italiotes) Người Italiot sống ở Latium gọi là người Latinh Vào thế kỷ

X trước Công nguyên, người Etơruxcơ từ Tiểu Á đến; vào thế kỷ VIII trướcCông nguyên, người Hy Lạp đến miền Nam Italia và đảo Xixin Muộn hơn

là người Xentơ (người Galia) từ Bắc di cư xuống

Lịch sử La Mã cổ đại có thể chia thành hai thời kỳ lớn: thời kỳ cộnghoà và thời kỳ đế chế (quân chủ)

Thời kỳ cộng hoà kéo dài từ thế kỷ IV trước Công nguyên đến thế kỷ Isau Công nguyên

Thực ra ở La Mã cổ đại, trước thời kỳ cộng hoà là thời kỳ vương chính,thời kỳ chế độ thị tộc Rôma, thời kỳ tồn tại lâu dài chế độ dân chủ quí tộc -hình thái quá độ từ xã hội nguyên thuỷ sang xã hội có giai cấp, nhà nước

Theo truyền thuyết, thành La Mã (Rôma) do vua Romulus xây dựngnăm 753 trước Công nguyên Tới giữa thế kỷ VI trước Công nguyên do cuộc

Trang 6

cải cách của vua Xecviút, nhà nước La Mã cổ đại ra đời trên cơ sở thủ tiêuchế độ thị tộc Ph Ăngghen đã gọi cuộc cải cách này là "Cuộc cách mạng đãkết thúc tổ chức thị tộc cũ", thiết lập nên "một tổ chức mới, dựa trên cơ sởphân chia địa vực và trên sự chênh lệch về tài sản" Khi mới thành lập, nhànước La Mã cổ đại gồm Vua, Viện nguyên lão và Đại hội nhân dân Vàokhoảng năm 510 trước Công nguyên, người La Mã nổi dậy lật đổ vuaTaccanh kiêu ngạo Từ đó công việc của chính quyền thành việc của dân, dovậy, chế độ nhà nước mới gọi là Res Publica tức là chế độ cộng hoà Bộ máynhà nước thời kỳ này có Viện nguyên lão và Đại hội nhân dân là hai cơ quanchấp chính có quyền ngang nhau, nhiệm kỳ một năm.

Tuy chế độ cộng hoà được thiết lập nhưng giữa quí tộc và bình dân vẫncòn khoảng cách lớn Vì vậy, trong suốt 200 năm, cuộc đấu tranh giữa bìnhdân và quí tộc luôn nổ ra quyết liệt mà kết quả là những yêu cầu của bình dân

đã được giải quyết: bình dân được cử quan Bảo dân để bênh vực quyền lợi,được chia ruộng đất, được kết hôn với quí tộc Cũng nhờ việc thiết lập chế

độ cộng hoà và qui chế công dân La Mã nên thành bang La Mã có thêm sứcmạnh, kinh tế phát triển, an ninh xã hội ổn định, lực lượng quân sự hùng hậu,nhu cầu ruộng đất tăng lên Thực tế đó đã đẩy tầng lớp quí tộc tới tham vọngmuốn mở rộng uy lực, bành trướng Quá trình bành trướng của Rôma đã diễn

ra gần 200 năm, trải qua hai thời kỳ - thời kỳ Rôma thống nhất bán đảo Italia

và thời kỳ vươn ra khống chế, làm chủ Địa trung hải Kết quả là năm 30 trướcCông nguyên, Ai Cập cũng bị sáp nhập vào bản đồ La Mã

Do liên tục giành được thắng lợi, số tù binh ngày càng đông nên chế độ

nô La Mã có bước phát triển mạnh mẽ Tuy nhiên, nô lệ là giai cấp bị áp bứcbóc lột vô cùng tàn bạo nên cuộc đấu tranh của họ chống giai cấp chủ nôkhông ngừng diễn ra, trong đó tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa củaXpactacut (73 - 71 trước Công nguyên) Chính những cuộc đấu tranh này đãlàm cho La Mã lún sâu vào khủng hoảng nhiều mặt

Trang 7

Thời kỳ đế chế (quân chủ) kéo dài từ thế kỷ I đến thế kỷ V Thực ra,ngay từ khi chế độ cộng hoà thiết lập, mâu thuẫn trong nội bộ quí tộc chủ nô

đã xuất hiện và cuộc đấu tranh để giải quyết mâu thuẫn đó đã dẫn tới một kếtcục là chế độ cộng hoà dần bị thay thế bởi chế độ độc tài Năm 82 trước Côngnguyên, người giành được quyền độc tài đầu tiên là Xila Sau đó là chế độ

"Tam hùng lần thứ nhất" - thực chất là liên minh tay ba giữa Xêda, Pompêinơ

và Crainxơ, nền độc tài Xêda được thiết lập Sau khi Xêda mất (năm 44 trướcCông nguyên), năm 43 trước Công nguyện "Tam hùng lần thứ hai" được thiếtlập bao gồm: Antôniut, Lêpiđut và Ôctavinút Tới năm 29 trước Côngnguyên, Ôctavinút trở thành kẻ thống trị duy nhất của đế quốc La Mã Đế chếOctavinút được thiết lập, đặc biệt là trong thế kỷ I - II, với chế độ chính trịPrincipet - chế độ nguyên thủ, bên cạnh vai trò cá nhân của Octavinút rấtđược đề cao, vai trò Viện nguyên lão vẫn được coi trọng, nên thời kỳ này kinh

tế - xã hội, thủ công nghiệp, thương nghiệp rất phát triển, thời kỳ cực thịnhnày người Rôma thường tự hào gọi là "thời kỳ hoàng kim"

Sau thời kỳ hưng thịnh, từ thế kỷ III đến thế kỷ V, chế độ chiếm nô La

Mã rơi vào thời kỳ khủng hoảng trầm trọng Để cứu vãn sự suy vong, giai cấpchủ nô La Mã phải thay đổi cách đối xử và hình thức bóc lột Luật cấm bắt nô

lệ đau yếu lao động nặng, cấm giết nô lệ đau yếu và cấm đưa nô lệ ra đấu với

dã thú được ban hành Bộ phận quí tộc chủ nô ruộng đất đã buộc phải chiaruộng đất cho nô lệ cày cấy, thu hoạch và nộp sản phẩm cho chủ nô Về hìnhthức, chế độ nô lệ được phục hưng, nhưng thực chất là đang tiến dần tới sựdiệt vong, nhường chỗ cho chế độ mới chế độ lệ nông Chế độ mới này làmxuất hiện một lớp người mới trong xã hội, những người lệ nông Thoạt đầu,những người lệ nông là những người tự do (hoặc là nông dân không có ruộng,hoặc là nô lệ được giải phóng), có quyền công dân, có thể đảm nhiệm chức vụtôn giáo Từ thế kỷ III, lệ nông là những người trực tiếp sản xuất và bị tróibuộc vào ruộng đất của chủ Thế kỷ IV- V, địa vị của lệ nông giảm sút về mặt

Trang 8

xã hội, họ không còn là người tự do, nhưng cũng không phải là người nô lệ,

họ là "tiền thân của nông nô thời trung đại"

Cũng từ thế kỷ IV, đế quốc La Mã bước vào thời kỳ hậu đế chế, tăngcường chế độ quân chủ chuyên chế, sống xa hoa theo kiểu các hoàng đếphương Đông Từ năm 284 Đioletianuko lên ngôi hoàng đế (284- 305), tựxưng là vương chủ, nắm cả vương quyền và thần quyền Chế độ vương chủđược xác lập Sau đó, đến năm 395, đế quốc La Mã được chia thành 2 nửa,thực chất là 2 nước: Tây bộ đế quốc và Đông bộ đế quốc

2.2 Những nét đặc thù của tư tưởng chính trị Hy Lạp - La Mã cổ đại

Xã hội Hy Lạp - La Mã (Hy- La) cổ đại là xã hội chiếm hữu nô lệ điểnhình Sự ra đời, củng cố, hưng thịnh và cuối cùng là diệt vong của một xã hộiluôn gắn liền với sự phát triển của lực lượng sản xuất và hình thành nhà nước

Có thể khái quát những nét đặc thù lớn của tư tưởng chính trị Hy- La cổ đạinhư sau:

Thứ nhất: Tư tưởng chính trị Hy- La cổ đại gắn liền với quá trình tiếnhóa của xã hội và nhà nước Hy - La chiếm hữu nô lệ; đồng thời, nó cũng chịutác động nhất định của văn hóa phương Đông Trong sự phát triển của mình,

tư tưởng chính trị Hy - La cổ đại trải qua ba thời kỳ: thời kỳ thứ nhất là thời

kỳ phát sinh quan niệm về nhà nước gắn liền với việc hình thành thể chế nhànước; thời kỳ thứ hai là thời kỳ phát triển cao và tổng kết những tư tưởng vềnhà nước trùng hợp với thời kỳ hưng thịnh và suy vong của nền dân chủchiếm nô (chủ yếu ở Aten- Hy Lạp); thời kỳ thứ ba là thời kỳ khủng hoảngnhững tư tưởng chính trị, thời kỳ suy vong của hệ thống quốc gia - thành thị

Thứ hai: Tư tưởng chính trị Hy- La cổ đại chủ yếu phản ánh ý thức hệcủa giai cấp chủ nô thống trị Mẫu thuẫn giai cấp cơ bản trong xã hội chiếm

nô Hy - La cổ đại là mâu thuẫn giữa nô lệ và chủ nô Những khát vọng củagiai cấp nô lệ được phản ánh trong những câu chuyện kể, những chuyện thầnthoại, mơ ước về thời "hoàng kim" đã qua, song không phải là tư tưởng tiêu

Trang 9

biểu Ngay cả trong thành bang Aten, với chế độ chiếm nô dân chủ, nhưngnhững tư tưởng tự do của những người dân tự do cũng chủ yếu là những tiếng

"thở dài" tiếc thương một thời đã qua Trái lại, cùng với quá trình xác lập nhànước chiếm nô, những tư tưởng phản ánh lợi ích của giai cấp chủ nô đã trởthành tư tưởng chính trị chính thống Nó thực sự là công cụ hữu hiệu để duytrì trật tự xã hội chiếm nô, mặc dù hình thức có thay đổi Chính C Mác đãkhẳng định rằng, tư tưởng thống trị một thời đại là tư tưởng của giai cấpthống trị

Thứ ba: Tư tưởng chính trị Hy - La cổ đại đã đề cập tới nội dung khátoàn diện về chính trị, từ quan niệm về chính trị, bản chất chính trị, thể chếchính trị (quân chủ, quí tộc, dân chủ) đề cập tới con người chính trị với tưcách là tinh hoa: thủ lĩnh chính trị Điều đó một mặt phản ánh cuộc đấu tranhgiai cấp giữa chủ nô và nô lệ khá gay gắt, mặt khác cũng phản ánh tư duy củangười phương Đông, mà trước hết là kiến thức về khoa học tự nhiên củangười Ai Cập, Babilon và một phần kiến thức của người Ấn Độ cổ đại

2.3 Các nhà tư tưởng chính trị tiêu biểu

2.3.1 Hêrôđốt (480-425 trước Công nguyên)

Vốn là một sử gia, ông còn được coi là "người cha của chính trị học".Ông là người đầu tiên phân biệt và so sánh các loại hình chính thể khác nhau

Đó là ba hình thức cơ bản của sự cầm quyền: quân chủ, quý tộc, dân chủ

Quân chủ là thể chế độc quyền của một người là vua Không ai cóquyền phản kháng, phản biện lại vua Vua sống xa dân trong khi quần thầntôn sùng phỉnh nịnh Do đặc quyền và quá lạm như vậy nên vua dễ trở thànhtội lỗi Song chế độ quân chủ là sự tiền định thực tế vì lập công khai quốc baogiờ cũng là người anh minh đức độ, vì dân vì nước mà cầm quyền Hơn thếnữa, đó là hình thức không tránh khỏi một khi xã hội rơi vào trạng thái hỗnloạn sau những thoái hoá của chế độ dân chủ và quý tộc

Trang 10

Quý tộc là thể chế được xây dựng trên cơ sở một nhóm những tinh hoa

về trí tuệ và phẩm chất của cả quốc gia để cầm quyền vì lợi ích chung Cácquyết định hữu ích sẽ nảy sinh qua bàn bạc, cọ sát của các nhà thông thái Tuyvậy, thể chế này dễ có sự khác biệt, chuyển thành bất hoà chia bè phái do chỗnhững người cầm quyền đều muốn ý kiến của mình đúng, đều muốn làm thầyngười khác sớm muộn cũng sẽ thành những địch thủ loại trừ nhau

Dân chủ là thể chế mà quyền lực do đông đảo nhân dân nắm, mang lạiquyết định cho cộng đồng và trao những chức vụ công cộng bằng con đường

bỏ phiếu bầu ra các pháp quan Xã hội được quản lý theo nguyên tắc đồngluật và đồng đều (bình đẳng và công bằng trước pháp luật) Tuy vậy, nhân dân

là một đám đông, không có học thức nên dễ bị kích động, không có khả năngngăn cản những người xấu thoả hiệp nhau cùng áp bức cộng đồng, khi bị lôikéo thì tính nóng nảy và dục vọng của đám đông là đáng sợ Trạng thái vôchính phủ là khả năng thực tế tiếp theo

Hêrôđốt nghiêng về loại hình thể chế quân chủ, trong khi chỉ ra khảnăng mạnh yếu của mỗi loại hình trên thực tế, ông đã tạo cơ sở đầu tiên, gợi ýcho một dòng quan niệm xuyên suốt từ cổ đại đến hiện đại về loại hình thểchế chính trị tốt nhất, đó là thể chế hỗn hợp những đặc trưng tốt của ba loạihình cơ bản nói trên

2.3.2 Xênôphôn (427-355 trước Công nguyên)

Đặc điểm nổi bật trong tư tưởng chính trị của Xênôphôn là quan niệm

về thủ lĩnh chính trị

Xuất phát từ quan niệm coi việc cai trị nhà nước là công việc hệ trọngnhất, Xênôphôn khẳng định thủ lĩnh chính trị - người đứng đầu nhà nước -phải là người biết chỉ huy Đó không chỉ là người mang vương trượng, khôngchỉ là người biết lấy quyền lực bằng bạo lực hay mưu chước, mà là người biếtchỉ huy, giỏi kỹ thuật, giỏi thuyết phục, biết làm rung cảm người nghe trongdiễn thuyết

Trang 11

Không dừng ở đó, Xênôphôn còn chỉ ra không ít những phẩm chất sâusắc và phổ biến không chỉ cần có ở những thủ lĩnh chính trị đương thời mà ởmọi thời đại, như biết vì lợi ích chung, tận tâm phục vụ quần chúng và bảo vệlợi ích của nhân dân Thủ lĩnh là người biết "hợp lại" và "nhân lên" sức mạnhcủa mọi người, do vậy phải là người biết những động lực của các hoạt độngcủa con người và biết tác động lên dân chúng Xênôphôn cho rằng, sự thiêntài của thủ lĩnh chính trị không phải tự nhiên mà có, mà nó sinh ra từ sự kiệnnhẫn lâu dài, từ khả năng chịu đựng lớn về thể chất, với ý chí sống và rènluyện theo phong cách thanh liêm, biết kiềm chế, thích lao động.

2.2.3 Platôn (428-347 trước Công nguyên)

Platôn có ba tác phẩm lớn về chính trị: Cộng hoà, Quy luật và Tiềnchính trị Tư tưởng chính trị của ông là phản dân chủ, song những nghiên cứu

và kiến giải của ông đặt ra có nhiều vấn đề đáng suy nghĩ a) Quan niệm vềchính trị

Platôn chỉ rõ, chính trị là sự hiểu biết tối cao, chỉ đạo tổng thể xã hội.Chính trị phân giải thành pháp lý, hành chính, tư pháp, ngoại giao Song, tất

cả những yếu tố đó phải được thống nhất bởi chính trị Cũng như những nhà

tư tưởng cổ đại, Platôn cho rằng, chính trị là sự cai trị Ông đặc biệt nhấnmạnh tới trí tuệ và nghệ thuật trong cai trị: chính trị là sự thống trị của trí tuệtối cao Theo ông, chính trị là nghệ thuật cai trị những con người với sự bằnglòng của họ Cai trị bằng sức mạnh là độc tài, cai trị bằng thuyết phục mớiđích thực là chính trị Chính trị là dẫn dắt con người bằng thuyết phục Platôncoi nguyên tắc tối cao để tổ chức chính quyền là sự thông thái Do đó, chínhtrị phải là một khoa học, không hiểu được khoa học chính trị thì không thể trởthành nhà chính trị thực sự Chính trị phải là sự chuyên chế Tất cả các cánhân phải phục tùng quyền uy

Nhà nước lý tưởng là nhà nước được cầm quyền bởi sự thông thái Việcđiều hành nhà nước thuộc về người thượng lưu, những công dân cao tuổi và

Ngày đăng: 05/12/2023, 09:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. C.Mác và Ph.Ángghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995. t.21, tr.193. 194 Khác
2. Dương Xuân Ngọc, 2001, Lịch sử tư tưởng chính trị, NXB Chính trị Quốc gia Khác
3. Lưu Văn Thắng, 2014, Tư tưởng chính trị Aristotle trong tác phẩm chính trị luận, NXB Học viện Báo chí và Tuyên truyền Khác
4. Lưu Kiếm Thanh, 2001, Lịch sử các học thuyết chính trị trên thế giới, NXB Văn hóa thông tin Khác
5. Phan, Thị Thanh Hải, 2012, Lý luận về nhân cách trong triết học Hy la cổ đại: Đề tài khoa học cấp cơ sở, NXB Học viện Báo chí và Tuyên truyền Khác
6. Nguyễn Hữu Vui, 2002, Lịch sử triết học, NXB Chính trị quốc gia 7. Dương Xuân Ngọc, 2001Giáo trình Lịch sử tư tưởng chính trị, NXB Học viện Báo chí và Tuyên truyền Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w