1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Microsoft Word - Ä’á»™NG THá»− SOAN

51 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng kiến thức về phục hồi chức năng vận động của người bệnh đột quỵ não tại Bệnh Viện Y Học Cổ Truyền tỉnh Bắc Giang Năm 2022
Tác giả Đồng Thị Soan
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Trường Sơn
Trường học Trường Đại Học Điều Dưỡng Nam Định
Chuyên ngành Nội người lớn
Thể loại Báo cáo chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố Nam Định
Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 831,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 (0)
    • 1.1. Cơ sở lý luận (13)
      • 1.1.1. Định nghĩa đột quỵ não (13)
      • 1.1.2. Nguyên nhân |15| (13)
      • 1.1.3. Phân loại [15] (14)
      • 1.1.4. Hậu quả của đột quỵ (15)
      • 1.1.5. Chăm sóc người bệnh đột quỵ (15)
      • 1.1.6. Phục hồi chức năng cho người bệnh sau đột quỵ (21)
    • 1.2. Cơ sở thực tiễn (31)
      • 1.2.1. Tình hình đột quỵ trên Thế giới và Việt Nam (31)
      • 1.2.2. Tình hình di chứng và tàn tật do đột quỵ (31)
      • 1.2.3. Thực trạng kiến thức phục hồi chức năng vận động của người bệnh đột quỵ (32)
  • Chương 2 (0)
    • 2.1. Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu (37)
    • 2.2 Một số đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu (38)
    • 2.3. Thực trạng kiến thức về PHCN vận động của người bệnh (40)
  • Chương 3 (0)
    • 3.1. Thực trạng kết quả kiến thức về PHCN vận động của NB (0)
    • 3.2. Ưu điểm và tồn tại (43)
      • 3.2.1 Ưu điểm (43)
      • 3.2.2 Tồn tại (43)
    • 3.3 Nguyên nhân (44)
    • 3.4. Các giải pháp giải quyết vấn đề (44)
  • KẾT LUẬN (45)
  • PHỤ LỤC (50)

Nội dung

Microsoft Word Ä’á»™NG THá»− SOAN BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH ĐỒNG THỊ SOAN THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VỀ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VẬN ĐỘNG CỦA NGƯỜI BỆNH ĐỘT QUỴ NÃO TẠI BỆNH VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN[.]

Cơ sở lý luận

1.1.1 Định nghĩa đột quỵ não Đột quỵ não là tình trạng bệnh lý não biểu hiện bởi các thiếu sót chức năng thần kinh xảy ra đột ngột với những triệu chứng khu trú hơn là lan tỏa, tồn tại hơn 24h hoặc tử vong, loại trừ nguyên nhân chấn thương sọ não [3]

1.1.2.1 Nhóm các yếu tố không thể tác động thay đổi được

- Tuổi cao, giới tính nam, chủng tộc, yếu tố gia đình hoặc di truyền

- Các đặc điểm của các yếu tố nguy cơ nhóm này như sau:

+ Giới: nam mắc bệnh nhiều hơn nữ trong mọi nhóm tuổi (tỷ lệ nam/nữ là 2,2/1)

+ Chủng tộc: người da đen có tỷ lệ mắc đột quỵ cao nhất sau đó đến người da vàng và cuối cùng là người da trắng

Khu vực địa lý đóng vai trò quan trọng trong tỷ lệ mắc bệnh, với cư dân châu Á có tỷ lệ bệnh cao hơn so với đông u, trong khi tỷ lệ thấp nhất thuộc về cư dân Tây Âu và Bắc Mỹ Ngoài ra, dân thành phố có mức độ mắc bệnh cao hơn so với cư dân nông thôn, phản ánh sự ảnh hưởng của môi trường sống đô thị đối với sức khỏe.

Người già mắc bệnh nhiều nhất, sau đó là người trung niên, và tỷ lệ mắc bệnh giảm dần ở thanh thiếu niên, trong khi tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ em là thấp nhất.

1.1.2.2 Nhóm các yếu tố có thể tác động thay đổi được

- Tăng huyết áp, đái tháo đường, tăng Cholesterol máu, thuốc lá, Migraine, thuốc tránh thai, béo phì, nghiện rượu, lạm dụng thuốc, ít vận động

Các nguyên nhân chính gây đột quỵ bao gồm tuổi cao, vữa xơ động mạch não và cao huyết áp, chiếm tỷ lệ lớn trong các trường hợp Ngoài ra, các bệnh liên quan đến tim mạch như viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, hẹp van hai lá và rối loạn nhịp tim cũng đóng vai trò quan trọng Bệnh gây rối loạn đông máu cùng với một số bệnh nội ngoại khoa khác cũng góp phần làm tăng nguy cơ đột quỵ.

Có 2 dạng đột quỵ thường gặp hiện nay:

Đột quỵ do thiếu máu cục bộ là bệnh phổ biến sau các cơn đau hoặc do hình thành cục máu đông trong các mạch máu của não hoặc trong các mạch máu dẫn đến não Những cục máu đông này gây tắc nghẽn luồng máu, cắt đứt nguồn cung cấp oxy và dưỡng chất cho các tế bào não Trong các loại đột quỵ, đột quỵ thiếu máu cục bộ chiếm tỷ lệ cao trên 80%, là nguyên nhân hàng đầu gây tổn thương não nghiêm trọng.

Đột quỵ do xuất huyết não xảy ra khi một mạch máu não bị vỡ, dẫn đến máu thấm vào mô não và gây tổn thương các tế bào não Nguyên nhân phổ biến bao gồm huyết áp cao kết hợp với phình động mạch não hoặc dị dạng mạch máu não bẩm sinh, rối loạn đông máu hoặc do người bệnh đang sử dụng thuốc chống đông.

Hình 1: Các dạng đột quỵ

Tổn thương mạch máu não có thể xảy ra do tắc nghẽn mạch hoặc vỡ mạch, gây ngưng trệ hoặc thoát máu ra ngoài mô não, dẫn đến phá hủy và chèn ép mô não Hậu quả là phần não liên quan bị tổn thương không hoạt động được, ảnh hưởng trực tiếp đến chức năng của các bộ phận kiểm soát cơ thể Khác với các bộ phận khác của cơ thể, tế bào não không dự trữ năng lượng cho các trạng thái khẩn cấp, mà hoàn toàn phụ thuộc vào việc cấp máu liên tục Do đó, khi quá trình cung cấp máu bị gián đoạn kéo dài, tổn thương não sẽ ngày càng trầm trọng hơn, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người bệnh.

Khi xảy ra đột quỵ, tế bào não chết đầu tiên xuất hiện tại vùng lõi (core), sau đó lan rộng ra vùng lân cận còn gọi là vùng tranh tối tranh sáng (penumbra) Vùng penumbra được coi là có thể cứu vãn vì tổn thương có thể đảo ngược nếu máu trở lại nhanh chóng.

1.1.4 Hậu quả của đột quỵ

Đột quỵ là bệnh lý nặng nề, diễn biến phức tạp, gây nguy hiểm đến tính mạng và để lại nhiều di chứng nặng nề sau khi hồi phục Theo tổ chức y tế thế giới, từ 1/3 đến 2/3 người bệnh sống sót sau đột quỵ phải đối mặt với các tàn tật vĩnh viễn, ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống Người bệnh đột quỵ thường gặp nhiều loại tàn tật khác nhau, không chỉ giảm khả năng vận động mà còn gặp các vấn đề về giao tiếp ngôn ngữ, rối loạn cảm giác, làm suy giảm chức năng toàn diện.

1.1.5 Chăm sóc người bệnh đột quỵ

Người bệnh bị đột quỵ thường gặp phải tình trạng cấp tính, diễn biến kéo dài và có thể ngày càng nặng dần tùy thuộc vào nguyên nhân cũng như mức độ tổn thương Đột quỵ có nhiều biến chứng nguy hiểm, đe dọa tính mạng người bệnh nếu không được điều trị và chăm sóc đúng cách Chính vì vậy, nhân viên điều dưỡng cần tiếp xúc với bệnh nhân một cách nhẹ nhàng, ân cần và thể hiện sự thông cảm để đảm bảo chăm sóc toàn diện và hiệu quả.

+ Trạng thái tinh thần của người bệnh: lo lắng, sợ hãi

+ Có biết bị tăng huyết áp không và thời gian bị tăng huyết áp?

+ Có đi lại được không?

+ Thuốc và cách điều trị tăng huyết áp như thế nào?

+ Các bệnh tim mạch đã mắc?

+ Đã bao giờ bị liệt hay bị yếu tay chân chưa?

+ Có hay nhức đầu, mất ngủ hay nhìn có bị mờ không?

+ Gần đây nhất có dùng thuốc gì không?

+ Có buồn nôn, nôn và rối loạn tiêu hoá không?

+ Khả năng nói của người bệnh?

+ Có bị bệnh thận trước đây không?

+ Có hay bị sang chấn gì không?

+ Tình trạng đi tiểu: số lượng và màu sắc?

* Đánh giá bằng quan sát:

+ Tình trạng tinh thần của người bệnh: mệt mỏi, tỉnh táo hay hôn mê + Quan sát vận động tay chân của người bệnh

+ Quan sát các tổn thương trên da

+ Tình trạng miệng và mặt có bị méo không?

+ Tuổi trẻ hay lớn tuổi?

+ Tự đi lại được hay phải giúp đỡ?

+ Người bệnh mập hay gầy?

+ Tình trạng đại và tiểu tiện của người bệnh

+ Quan trọng là đo dấu hiệu sống, trong đó huyết áp là dấu hiệu quan trọng nhất Phải chú ý đến cả huyết áp tối đa và tối thiểu

+ Khám các dấu hiệu thần kinh khu trú

+ Khám dấu cơ lực và trương lực của người bệnh Khám mắt và các thương tổn khác

+ Ngoài ra cần chú ý các dấu chứng khác như: tình trạng tim mạch, các dấu ngoại biên, số lượng nước tiểu, tình trạng phù

* Tham khảo hồ sơ bệnh án

+ Kiểm tra các xét nghiệm, các thuốc và cách sử dụng các thuốc nếu có + Thu thập thông tin qua gia đình, hồ sơ bệnh án

+ Một số chẩn đoán điều dưỡng có thể gặp ở người bệnh bị đột quỵ:

+ Nhức đầu do tăng huyết áp

+ Mất khả năng vận động do liệt

+ Khả năng giao tiếp bằng lời giảm do đột quỵ

+ Nguy cơ loét ép do chăm sóc không tốt

+ Nguy cơ nhiễm trùng hô hấp do nằm lâu

1.1.5.3 Lập kế hoạch chăm sóc

Việc khai thác các dấu chứng trên giúp người điều dưỡng đưa ra các chẩn đoán điều dưỡng chính xác Người điều dưỡng cần phân tích, tổng hợp và đúc kết dữ kiện để xác định nhu cầu chăm sóc cụ thể của người bệnh Dựa trên đó, họ lập kế hoạch chăm sóc phù hợp, xem xét toàn trạng người bệnh, đề xuất các vấn đề ưu tiên và xác định thứ tự thực hiện các nhiệm vụ chăm sóc phù hợp với từng trường hợp cụ thể.

+ Để người bệnh nghỉ ngơi, nằm ở tư thế đầu cao, nằm nghiêng về một bên + Giải thích cho người bệnh và gia đình về tình trạng bệnh tật

+ Ăn đầy đủ năng lượng và nhiều hoa quả tươi

+ Vệ sinh sạch sẽ hàng ngày

+ Hướng dẫn gia đình tự theo dõi các tác dụng phụ của thuốc, biểu hiện bất thường

+ Cho người bệnh uống thuốc và tiêm thuốc theo chỉ định

+ Làm các xét nghiệm cơ bản

+ Tình trạng đột quỵ: tinh thần, vận động

+ Theo dõi các nguyên nhân gây đột quỵ

+ Theo dõi một số xét nghiệm như: bilan lipid máu, điện tim, siêu âm, soi đáy mắt

+ Theo dõi tác dụng phụ của thuốc

+ Theo dõi các biến chứng

Người bệnh và gia đình cần hiểu rõ các nguyên nhân và yếu tố thuận lợi gây đột quỵ để phòng tránh hiệu quả Việc nhận biết các dấu hiệu cảnh báo sớm của đột quỵ là rất quan trọng trong việc cấp cứu kịp thời và giảm thiểu tổn thương Hiểu rõ cách phòng ngừa, điều trị phù hợp và theo dõi sát sao người bệnh giúp tăng khả năng phục hồi và giảm nguy cơ tái phát đột quỵ.

1.1.5.4 Thực hiện kế hoạch chăm sóc Đặc điểm của người bệnh đột quỵ là tiến triển kéo dài và ngày càng nặng dần Bệnh để lại di chứng rất nặng nề nếu không được điều trị và chăm sóc một cách đúng đắn Người bệnh có thể tử vong do những biến chứng của bệnh, hoặc do tai biến điều trị

* Thực hiện chăm sóc cơ bản:

+ Đặt người bệnh nằm nghỉ ngơi đầu cao và nghiêng về một bên

+ Tránh lao động trí óc căng thẳng, lo lắng quá độ

+ Vận động và xoa bóp tay chân

+ Thay đổi tư thế 2 giờ lần

+ Động viên, trấn an người bệnh để người bệnh an tâm điều trị

Theo dõi các dấu hiệu sinh tồn, đặc biệt là tình trạng tăng huyết áp, đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá tình trạng sức khỏe Tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể, khoảng thời gian theo dõi có thể thay đổi từ 15 phút đến 2 giờ để đảm bảo chẩn đoán chính xác.

+ Hút đờm dãi khi có ứ đọng đờm dãi

+ Luôn giữ ấm cơ thể người bệnh

Để duy trì sức khỏe tối ưu, người bệnh cần ăn uống đủ năng lượng, nhiều vitamin và hạn chế muối dưới 5g mỗi ngày Ngoài ra, nên hạn chế mỡ, chất béo động vật, và tránh xa rượu, thuốc lá cũng như chè đặc để giảm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe Trong trường hợp người bệnh gặp khó khăn trong việc nuốt, cần đặt sonde dạ dày để đảm bảo dinh dưỡng đầy đủ và duy trì hoạt động sống.

+ Tránh các yếu tố kích thích cho người bệnh

Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Tình hình đột quỵ trên Thế giới và Việt Nam

Theo thống kê của WHO, đột quỵ là một trong mười nguyên nhân gây tử vong cao nhất trên toàn cầu, xếp thứ ba sau bệnh tim mạch và ung thư Tại Hoa Kỳ, hàng năm có khoảng 500.000 người mắc đột quỵ, trong đó khoảng một phần ba tử vong và xác suất tử vong trong tháng đầu tiên lên đến 30% Đột quỵ không chỉ đe dọa tính mạng mà còn làm giảm khả năng phục hồi của người bệnh, tăng gánh nặng về y tế và xã hội.

Theo số liệu của WHO năm 2009, ước tính có tới 2,9 triệu người tử vong vì đột quỵ tại châu Á, trong đó Trung Quốc chiếm 1,3 triệu, Ấn Độ 448.000, và các quốc gia khác như Philippines, Hàn Quốc, Indonesia, Việt Nam, Thái Lan, Malaysia có số ca tử vong lần lượt là 10%, 16%, 8%, 7%, 6% và 2% Một tỷ lệ lớn người sống sót sau đột quỵ, khoảng 40%, trở thành tàn tật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống và gánh nặng y tế xã hội Tỷ lệ người bệnh vào điều trị đột quỵ tại các quốc gia châu Á khác nhau là Trung Quốc 40%, Ấn Độ 11%, Philippines 10%, Hàn Quốc 16%, Indonesia 8%, Việt Nam 7%, Thái Lan 6%, và Malaysia 2%.

Mỗi năm, Việt Nam ghi nhận hơn 200.000 ca đột quỵ, trong đó hơn 50% số ca tử vong và 90% người sống sót phải đối mặt với các di chứng về thần kinh và vận động Theo nghiên cứu của Lê Thị Hương và cộng sự, tỷ lệ mắc đột quỵ hiện nay ở Việt Nam vẫn còn ở mức cao, với sự chênh lệch giữa các tỉnh, cao nhất tại Cần Thơ và thấp nhất tại Gia Lai Tỷ lệ mắc đột quỵ toàn quốc hiện là 1,62%, cho thấy tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức và các biện pháp phòng ngừa bệnh lý này.

1.2.2 Tình hình di chứng và tàn tật do đột quỵ

Theo WHO, khoảng từ 1/3 đến 2/3 người mắc đột quỵ sẽ sống sót nhưng trở thành tàn tật vĩnh viễn, gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống Nghiên cứu của Hakett cho biết 61% người sống sót sau tai biến mạch máu não để lại di chứng nặng, trong đó 50% phải dựa vào sự giúp đỡ của người khác trong sinh hoạt hàng ngày Tại Pháp, có đến 50% các trường hợp tàn phế do đột quỵ, cho thấy tầm quan trọng của việc dự phòng và điều trị kịp thời nhằm giảm thiểu các hệ lụy sau đột quỵ.

Theo David [18], các di chứng thường gặp trong bộ máy vận động sau đột quỵ bao gồm đau khớp vai bên liệt, do không thể cử động hết tầm, chiếm đến 45% số người bệnh liệt nửa người.

+ Gập khớp khuỷu do cơ gập khuỷu ngắn lại chiếm 73%

+ Gập khớp cổ tay ở phía lòng bàn tay do mất chức năng gập phía lưng bàn tay và duỗi các ngón tay chiếm 92%

+ Quay sấp cổ tay bên liệt chiếm 75%

Hiện Việt Nam có khoảng 486.000 người sống sau đột quỵ, trong đó chỉ khoảng 25-30% có khả năng tự chăm sóc bản thân, còn 20-25% gặp khó khăn trong việc đi lại và cần sự hỗ trợ của người khác, trong khi khoảng 15-25% hoàn toàn phụ thuộc vào người khác trong sinh hoạt hàng ngày, cho thấy nhu cầu chăm sóc và phục hồi chức năng sau đột quỵ còn rất lớn tại Việt Nam.

Dù tỷ lệ tử vong do đột quỵ tại Việt Nam đã giảm khoảng 17% kể từ năm 2013, số người mắc tàn tật sau đột quỵ lại tăng mạnh, chiếm tới 90% các ca bệnh, với các di chứng nặng nề như liệt chi, liệt nửa người, viêm phổi, co cứng gân cơ, suy giảm trí nhớ và rối loạn tâm thần dạng trầm cảm Ngoài ra, bệnh nhân đột quỵ còn gặp các biến chứng nghiêm trọng như loét vùng xương cùng - cụt và tỳ đè do nằm lâu.

1.2.3 Thực trạng kiến thức phục hồi chức năng vận động của người bệnh đột quỵ

Nghiên cứu của Motegi A và cộng sự cho thấy, sau hai năm kể từ đột quỵ lần đầu tiên, có đến 62% người sống sót có khả năng sinh hoạt độc lập hoàn toàn hàng ngày, đặc biệt khi người chăm sóc chính của họ có kiến thức đầy đủ về phục hồi chức năng sau đột quỵ.

Trong bài viết, Nakayama H và cộng sự đã thực hiện truyền thông chương trình phục hồi chức năng tại cộng đồng trong 3 tháng, đào tạo cho 220 người chăm sóc chính của bệnh nhân đột quỵ Kết quả sau can thiệp cho thấy 68% người chăm sóc đã biết cách lăn trở người bệnh sang bên lành hoặc bên liệt, góp phần cải thiện quá trình phục hồi cho bệnh nhân Ngoài ra, 70% trong số đó đã biết tập cho người bệnh ngồi dậy và đứng lên, thể hiện hiệu quả của chương trình đào tạo trong việc nâng cao kỹ năng chăm sóc tại cộng đồng.

Chương trình truyền thông về phục hồi chức năng cho người bệnh đột quỵ do Chopra J.S và cộng sự thực hiện có thời gian trung bình là 37 ngày Sau khi kết thúc chương trình, 72% người chăm sóc nhận thức rõ tầm quan trọng của việc thực hiện phục hồi chức năng sớm và ảnh hưởng tích cực đến khả năng tự lập trong sinh hoạt hàng ngày của người bệnh Đồng thời, 63% người chăm sóc thường xuyên quan sát sắc mặt của người bệnh trong quá trình tập luyện phục hồi chức năng, nhằm đảm bảo quá trình điều trị hiệu quả và an toàn.

Theo tác giả Nguyễn Văn Lệ nghiên cứu tại Hà Đông năm 2015, kiến thức của người chăm sóc chính vẫn còn hạn chế trong một số nội dung quan trọng, chẳng hạn như kiến thức về kỹ thuật xoay trở người bệnh chỉ chiếm 37,5% Ngoài ra, nhận thức của người thân về việc giúp người bệnh duy trì tư thế nằm đúng trên giường còn khá thấp, ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc và phục hồi của bệnh nhân.

Theo nghiên cứu của tác giả Hoàng Ngọc Thắm, chỉ có khoảng 10% bệnh nhân được hướng dẫn đúng về vị trí nằm trên giường để đảm bảo chăm sóc phù hợp Đồng thời, tỷ lệ người thân có kiến thức đầy đủ về tư thế nằm đúng cho người bệnh chỉ đạt 18,2%, cho thấy cần nâng cao nhận thức và đào tạo để cải thiện chất lượng chăm sóc bệnh nhân tại nhà.

Nghiên cứu của Hoàng Ngọc Thắm cho thấy, có tới 73,1% điều dưỡng viên có kiến thức đạt yêu cầu về chăm sóc bệnh nhân đột quỵ giai đoạn cấp, trong khi đó, 26,9% còn thiếu kiến thức đúng chuẩn Đặc biệt, chỉ 67,2% điều dưỡng hiểu rõ về tổn thương thứ cấp, các biến chứng thường gặp nếu chăm sóc không kịp thời và chính xác.

Nghiên cứu của Mai Thọ Truyền và cộng sự năm 2010 cho thấy mức độ phục hồi của người bệnh đột quỵ sau ra viện gấp 6,56 lần khi được chăm sóc từ người thân tại nhà, nhấn mạnh tầm quan trọng của chăm sóc tại cộng đồng Theo Nguyễn Xuân Nghiên và cộng sự, chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng giúp 43,5% người tàn tật hòa nhập xã hội, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống Đồng thời, nghiên cứu tại ba tỉnh Thái Bình, Nam Hà và Hòa Bình cho thấy sự tiến bộ rõ rệt về mặt tinh thần, xã hội và thể chất của người tàn tật, với tỷ lệ cải thiện sức khỏe đáng kể nhờ các hoạt động hỗ trợ cộng đồng.

Tham gia chương trình PHCN dựa vào cộng đồng giúp tăng khả năng tự chăm sóc của người tàn tật từ 54,4% lên 75,5% Nghiên cứu của Cao Minh Châu và cộng sự trên 83 trường hợp liệt nửa người tại các huyện triển khai chương trình PHCN đã cho thấy chức năng của người tàn tật được cải thiện rõ rệt, đặc biệt là trong việc phòng tránh các di chứng nặng nề và biến dạng ở cổ tay, cổ chân Những người có sử dụng dụng cụ PHCN có tỉ lệ cải thiện tật rõ rệt hơn, đạt 81,4%, so với những người không sử dụng dụng cụ Điều này chứng minh tác dụng tích cực của chương trình PHCN dựa vào cộng đồng trong việc nâng cao chất lượng sinh hoạt của người tàn tật.

Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu

Bảng 2.1 Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu

Thông tin chung Số lượng Tỷ lệ (%)

Cán bộ công nhân viên chức 4 13,3

Trung cấp,CĐ, ĐH, SĐH 11 36,6

Trong nghiên cứu gồm 30 bệnh nhân, tỷ lệ nam/nữ là 60/40%, với bệnh nhân cao nhất 81 tuổi và thấp nhất 48 tuổi, trong đó 63,4% từ 65 tuổi trở lên, phần còn lại là dưới 65 tuổi Về trình độ học vấn, chỉ có 3,4% không biết chữ, 60% hoàn thành phổ thông, và 36,6% đã học trung cấp, cao đẳng, đại học hoặc sau đại học Về nghề nghiệp, phần lớn là người cao tuổi hoặc về hưu chiếm 63,3%, nghề nông nghiệp chỉ 6,7%, cán bộ, công nhân viên chức 13,3%, và nghề tự do như buôn bán, nội trợ 16,7% Tình hình kinh tế của người bệnh, 96,6% có thu nhập bình thường, trong khi chỉ 3,4% là hộ nghèo; 36,6% không có thu nhập ổn định, còn 63,4% có thu nhập hàng tháng Người chăm sóc chính chủ yếu là vợ/chồng chiếm 53,2%, con cái 40%, bố mẹ 3,4%, và không có người chăm sóc đến từ họ hàng, giúp việc hoặc tự chăm sóc, chiếm 0% và 3,4% tương ứng.

Một số đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu

Bảng 2.2: Một số đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu

Thông tin Số lượng Tỷ lệ (%)

Tình trạng vận động của người bệnh

Vận động được khi có sự giúp đỡ 4 13,3

Yếu liệt cả hai bên 2 6,7

Vị trí yếu liệt Yếu liệt bên phải 15 50

Tiền sử Có tiền sử đột quỵ 07 23,3

Không có tiền sử đột quỵ 23 76,7

Tiền sử gia đình Có người bị đột quỵ não 1 3,3

Không có người bị đột quỵ 29 96,7

Từ bảng số liệu trên cho thấy:

- Đột quỵ do nhồi máu não nhiều hơn, chiếm tỷ lệ 63,3%, do chảy máu não (xuất huyết não) chiếm 36,7%

- Thời gian điều trị hiện tại: người bệnh ưới 5 ngày có 14 người chiếm 46,6%, điều trị trên 5 ngày có 16 người chiếm 53,4

Trong tình trạng vận động, có 86,7% bệnh nhân (26/30 người) tự vận động độc lập, cho thấy khả năng vận động tốt Ngoài ra, có 13,3% người cần hỗ trợ để vận động, phản ánh mức độ hạn chế nhẹ về khả năng vận động Không có bệnh nhân nào không thể tự vận động, cho thấy tỷ lệ phục hồi vận động tích cực trong nhóm nghiên cứu.

Trong số các bệnh nhân, có 2 người bị yếu liệt cả hai bên chiếm tỷ lệ 6,7%, trong khi đó, số người bị yếu liệt bên phải là 15 người, chiếm 50%, và 13 người bị yếu liệt bên trái chiếm 43,3%.

Trong số các người bệnh, tỷ lệ mắc các bệnh lý khác rất cao, đặc biệt là các bệnh về tim mạch, chiếm 73,3% với 22/30 người mắc phải Ngoài ra, có 3 người bị bệnh về xương khớp (10%) và 2 người bị bệnh tiểu đường (6,7%), cùng với 2 người mắc bệnh về tiêu hóa (6,7%) Bệnh hô hấp chiếm tỷ lệ rất thấp, chỉ 3,3% với 1 người Không có trường hợp nào mắc các bệnh về tiết niệu, thần kinh hay da liễu trong nhóm này.

Theo dữ liệu, tỷ lệ người có tiền sử gia đình mắc đột quỵ chiếm 3,3%, trong khi đó, phần lớn người khảo sát (96,7%) không có ai trong gia đình từng bị đột quỵ Điều này cho thấy yếu tố gia đình có thể ảnh hưởng đến nguy cơ đột quỵ, nhưng vẫn còn phần lớn người không có tiền sử gia đình mắc bệnh Việc nắm rõ yếu tố di truyền giúp kiểm soát và phòng ngừa đột quỵ hiệu quả hơn.

Thực trạng kiến thức về PHCN vận động của người bệnh

Bảng 2.3: Thực trạng kiến thức về phục hồi chức năng vận động:

Thông tin Số lượng Tỷ lệ

Kiến thức về mục đích của

Biết được mục đích của PHCN vận động

Biết ít hoặc không biết mục đích của PHCN vận động

Kiến thức về nguyên tắc của

Biết được nguyên tắc của PHCN vận động

Biết ít hoặc không biết của PHCN vận động

Kiến thức về các nội dung của PHCN vận động

Biết các nội dung của PHCN vận động

Biết ít và không biết các nội dung của PHCN vận động

4 13,3 Được hướng dẫn các bài tập vận động 30 100 Được hướng dẫn các biện pháp vận động 30 100

Sau khi được hướng dân/ tập vận động người bệnh thấy tình trạng vận động của cơ thể chuyển biến tốt

Từ bảng số liệu kiến thức về phục hồi chức năng vận động trên cho thấy:

Trong nhóm 30 người bệnh tập PHCN, có 30% người tập dưới 1 giờ mỗi ngày, trong khi 70% còn lại tập trên 1 giờ hàng ngày, cho thấy phần lớn người bệnh dành nhiều thời gian hơn cho quá trình phục hồi chức năng.

- Có 70% người bệnh biết mục đích của PHCN vận động, 30% là biết ít hoặc không biết mục đích của PHCN vận động

- Có 76,7 % người bệnh biết nguyên tắc của PHCN vận động, 23,3% là biết ít hoặc không biết về nguyên tắc của PHCN vận động

- Có 86,7% người bệnh biết các nội dung của PHCN vận động, còn 13,3% là biết ít hoặc không biết mục đích của PHCN vận động

- 100% người bệnh được hướng dẫn phục hồi chức năng sớm

- 100% người bệnh được hướng dẫn các bài tập vận động

- 100% người bệnh được hướng dẫn các biện pháp vận động

- 100% người bệnh sau khi được hướng dẫn thấy tình trạng vận động củ cơ thể chuyển biến tốt hơn

3.1 Thực trạng kết quả kiến thức về phục hồi chức năng vận động của người bệnh đột quỵ não tại bệnh viện Y Học cổ Truyền tỉnh Bắc Giang Đối tượng nghiên cứu có tỷ lệ nam chiếm đa số 60% trong đó người bệnh có tuổi cao nhất là 81 tuổi Nhóm đối tượng từ 65 tuổi trở lên chiếm tỉ lệ cao nhất 63,4%, nhóm đối tượng không biết chữ chỉ chiếm 3,4% (1 người) Đa phần người bệnh là hưu trí chiếm tỉ lệ cao nhất 63,3% Tình hình kinh tế gia đình của người bệnh, hộ nghèo rất ít chiếm 3,4%, có 36,6% người bệnh không có thu nhập ổn định và 53,2% người bệnh có vợ/chồng chăm sóc, có 01 người bệnh phải tự chăm sóc chiếm 3,4%

Trong tổng số người bệnh, có đến 63,3% bị nhồi máu não, trong đó 53,4% đã điều trị trên 5 ngày Khoảng 23,3% có tiền sử đột quỵ não trước đó, và 6,7% có người thân trong gia đình từng mắc đột quỵ não Bệnh lý tim mạch đi kèm chiếm tỷ lệ cao nhất, với 100% các bệnh nhân có nguy cơ này Về vị trí yếu liệt, bên phải chiếm tỷ lệ cao nhất với 50% trong tổng số các đối tượng nghiên cứu.

Trong tổng số 30 người bệnh, có 86,7% khả năng tự vận động, trong khi đó 13,3% có thể vận động được khi có sự giúp đỡ, và không có bệnh nhân nào không thể tự vận động Khoảng 30% người bệnh tập phục hồi chức năng vận động trong thời gian dưới 1 giờ mỗi ngày, còn lại 70% tập trên 1 giờ/ngày, cho thấy mức độ chuyên cần trong quá trình tập luyện Đến 70% người bệnh hiểu rõ mục đích của phục hồi chức năng vận động (PHCN), nhưng vẫn còn 30% biết ít hoặc không hiểu rõ về mục đích này, ảnh hưởng đến sự chủ động trong quá trình điều trị Kết quả này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao kiến thức và động viên người bệnh tham gia tích cực vào quá trình PHCN để đạt hiệu quả tốt nhất.

Trong dân số khảo sát, 23,3% người bệnh có kiến thức hạn chế về nguyên tắc của phục hồi chức năng vận động (PHCN), trong khi đó 86,7% người bệnh hiểu rõ các nội dung của chương trình Hầu hết đều được hướng dẫn các biện pháp vận động, bài tập vận động và thực hiện vận động sớm, góp phần nâng cao hiệu quả phục hồi Kết quả phản hồi từ người bệnh cho thấy, 100% họ nhận thấy tình trạng vận động của cơ thể đã có sự cải thiện rõ rệt sau quá trình tập luyện và hướng dẫn.

3.2 Ưu điểm và tồn tại

Hầu hết người bệnh có khả năng tự vận động và có thể vận động với sự hỗ trợ của người giúp đỡ, điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc hướng dẫn các bài tập vận động và các biện pháp vận động phù hợp nhằm nâng cao khả năng phục hồi chức năng.

- Người bệnh hưu trí chiếm đa số nên cũng dễ tiếp thu các biện pháp cũng như các bài tập vận động khi được hướng dẫn

- Đa số người bệnh có vợ /chồng chăm sóc nên cũng thuận lợi cho việc hướng dẫn tập luyện và áp dụng các bài tập

Ngay sau khi người bệnh nhập viện, các bác sĩ đã khám và ra các chỉ định điều trị chi tiết trong Hồ sơ Bệnh Án Các kỹ thuật viên có chuyên môn tận tình hướng dẫn người bệnh về các biện pháp vận động và bài tập phù hợp, giúp người bệnh bắt đầu tập luyện sớm để thúc đẩy quá trình hồi phục.

Bệnh viện đã trang bị đầy đủ các thiết bị và dụng cụ tập luyện hiện đại, giúp người bệnh dễ dàng tiếp cận và sử dụng nhiều máy móc hỗ trợ quá trình phục hồi chức năng vận động (PHCN) Việc sở hữu các thiết bị chuyên dụng này đảm bảo quá trình tập luyện của bệnh nhân diễn ra thuận lợi, hiệu quả hơn Nhờ đó, bệnh nhân có cơ hội phục hồi nhanh chóng và đạt được kết quả tối ưu trong điều trị.

Bệnh viện luôn chú trọng nâng cao chất lượng dịch vụ bằng cách thường xuyên cử cán bộ đi đào tạo, nâng cao tay nghề chuyên môn, đặc biệt trong lĩnh vực PHCN để phục vụ người bệnh tốt nhất.

- Người bệnh rất sợ đau và ngại tập luyện

- Người bệnh vào viện nhưng xin ngoại trú nên đôi lúc khó khăn cho việc hướng dẫn và quản lý

Người bệnh sau di chứng lâu dài thường gặp phải các vấn đề về tim mạch, dẫn đến việc cần hạn chế hoạt động thể chất và tùy chỉnh chế độ tập luyện phù hợp với tình trạng sức khỏe của họ, nhằm đảm bảo an toàn và hỗ trợ quá trình phục hồi hiệu quả.

Dù lãnh đạo đặc biệt quan tâm đến việc đào tạo kỹ thuật viên về phục hồi chức năng (PHCN), nhưng nhân lực còn thiếu hụt lớn Điều này khiến các kỹ thuật viên phải kiêm nhiệm nhiều công việc khác nhau, gây khó khăn trong việc hướng dẫn và thực hiện các dịch vụ PHCN hiệu quả Việc thiếu nhân lực ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng phục vụ và sự phát triển của lĩnh vực PHCN trong cơ sở y tế.

- Đa số người bệnh già, hưu trí nên hay quên và ý thức tập luyện và áp dụng các bài tập vận động rất khó khăn

Số lượng người bệnh tại viện thường xuyên đông đúc gây áp lực lớn đối với nhân viên kỹ thuật (KTV) Cường độ làm việc cao cùng với thủ tục hành chính phức tạp và việc kiêm nhiệm nhiều công việc khiến KTV rất khó dành đủ thời gian để thực hiện đầy đủ nhiệm vụ hướng dẫn phục hồi chức năng vận động cho người bệnh.

3.4 Các giải pháp giải quyết vấn đề

Nghiên cứu nhằm mở rộng nguồn nhân lực phục vụ công tác phục hồi chức năng vận động cho người bệnh Kỹ thuật viên cần sắp xếp thời gian hợp lý để hướng dẫn, giáo dục người bệnh về các kiến thức liên quan đến phục hồi chức năng vận động, đảm bảo quá trình hồi phục hiệu quả và an toàn.

Chương trình tập huấn đào tạo liên tục dành cho Điều dưỡng và Kỹ thuật viên nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng truyền thông và tư vấn về Phục hồi chức năng cho người bệnh đột quỵ Các lớp đào tạo này giúp nhân viên y tế cập nhật kiến thức mới, cải thiện kỹ năng chăm sóc và hỗ trợ người bệnh đột quỵ hiệu quả hơn Đào tạo liên tục là chìa khóa để nâng cao chất lượng dịch vụ y tế và đảm bảo người bệnh nhận được sự chăm sóc toàn diện, phù hợp với từng tình trạng sức khỏe.

- Xây dựng các bài tư vấn, hướng dẫn về các biện pháp PHCN, các bài tập PHCN để hướng dẫn cho người bệnh

- Giáo dục sức khỏe giúp người bệnh hiểu được mục đích và hiệu quả PHCN vận động

Thành lập câu lạc bộ người bệnh đột quỵ là hoạt động nhằm khuyến khích và hỗ trợ người bệnh sau đột quỵ tham gia vào các câu lạc bộ đột quỵ tại cộng đồng Các câu lạc bộ này giúp nâng cao nhận thức về phòng ngừa và chăm sóc sau đột quỵ, tạo môi trường chia sẻ kinh nghiệm và giảm thiểu cảm giác cô đơn cho người bệnh Việc tham gia câu lạc bộ đột quỵ không những giúp người bệnh cải thiện chất lượng cuộc sống mà còn góp phần nâng cao ý thức cộng đồng về phòng chống đột quỵ hiệu quả.

Thực trạng kiến thức phục hồi chức năng vận động của người bệnh đột quỵ não tại bệnh viện Y Học cổ Truyền tỉnh Bắc Giang:

Ưu điểm và tồn tại

Hầu hết người bệnh có khả năng tự vận động và có thể vận động nhờ sự hỗ trợ của người giúp đỡ, điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc hướng dẫn các bài tập vận động và các phương pháp vận động phù hợp nhằm nâng cao khả năng phục hồi và đảm bảo an toàn trong quá trình tập luyện.

- Người bệnh hưu trí chiếm đa số nên cũng dễ tiếp thu các biện pháp cũng như các bài tập vận động khi được hướng dẫn

- Đa số người bệnh có vợ /chồng chăm sóc nên cũng thuận lợi cho việc hướng dẫn tập luyện và áp dụng các bài tập

Ngay sau khi người bệnh nhập viện, các bác sĩ tiến hành khám lâm sàng và đưa ra các chỉ định điều trị rõ ràng trong hồ sơ bệnh án (HSBA) Các kỹ thuật viên chuyên môn luôn tận tình hướng dẫn người bệnh về các biện pháp vận động phù hợp và các bài tập vận động cụ thể, giúp người bệnh bắt đầu tập luyện sớm để hỗ trợ quá trình hồi phục và nâng cao hiệu quả điều trị.

Bệnh viện đã trang bị đầy đủ các thiết bị và dụng cụ tập luyện hiện đại, giúp người bệnh dễ dàng tiếp cận và sử dụng nhiều máy móc hỗ trợ phục hồi chức năng vận động (PHCN) Việc đầu tư vào trang thiết bị hiện đại đảm bảo quá trình phục hồi diễn ra hiệu quả, an toàn và thuận tiện hơn cho người bệnh Nhờ hệ thống thiết bị đa dạng, bệnh viện đáp ứng tốt các nhu cầu tập luyện của từng bệnh nhân, góp phần nâng cao kết quả điều trị và phục hồi nhanh chóng.

Bệnh viện luôn chú trọng đến chất lượng dịch vụ, thường xuyên cử cán bộ đi đào tạo để nâng cao tay nghề chuyên môn, đặc biệt trong lĩnh vực Phục hồi chức năng (PHCN) cho người bệnh.

- Người bệnh rất sợ đau và ngại tập luyện

- Người bệnh vào viện nhưng xin ngoại trú nên đôi lúc khó khăn cho việc hướng dẫn và quản lý

Người bệnh sau di chứng lâu dài thường gặp phải các vấn đề về tim mạch, do đó việc tập luyện cần được điều chỉnh phù hợp với tình trạng sức khỏe của từng người để đảm bảo an toàn và hiệu quả.

Dù lãnh đạo rất quan tâm đào tạo kỹ thuật viên về Phục hồi chức năng (PHCN), tuy nhiên vẫn còn thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao Việc nhân lực thiếu và phải kiêm nhiệm nhiều công việc gây khó khăn trong quá trình hướng dẫn và phát triển kỹ năng cho các kỹ thuật viên PHCN Điều này ảnh hưởng đến hiệu quả đào tạo và chất lượng dịch vụ PHCN, đòi hỏi cần có giải pháp nâng cao nguồn nhân lực và đơn giản hóa quy trình để đảm bảo sự phát triển bền vững trong lĩnh vực này.

Nguyên nhân

- Đa số người bệnh già, hưu trí nên hay quên và ý thức tập luyện và áp dụng các bài tập vận động rất khó khăn

Số lượng người bệnh tại viện thường xuyên đông, dẫn đến cường độ làm việc của các kỹ thuật viên (KTV) rất căng thẳng Thủ tục hành chính phức tạp và việc kiêm nhiệm nhiều công việc khiến KTV không có đủ thời gian để thực hiện đầy đủ nhiệm vụ hướng dẫn phục hồi chức năng vận động cho người bệnh.

Các giải pháp giải quyết vấn đề

Nghiên cứu nhằm bổ sung thêm nhân lực phục vụ công tác phục hồi chức năng vận động (PHCN vận động) cho người bệnh, đảm bảo tiến độ và chất lượng điều trị Kỹ thuật viên cần sắp xếp thời gian hợp lý để hướng dẫn người bệnh về các kiến thức liên quan đến PHCN vận động, nâng cao hiệu quả phục hồi chức năng Việc mở rộng nguồn nhân lực cùng đào tạo chuyên sâu giúp nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng tốt nhu cầu ngày càng tăng của người bệnh trong quá trình điều trị.

Chương trình tập huấn liên tục dành cho Điều dưỡng và Kỹ thuật viên nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng truyền thông, tư vấn về Phục hồi chức năng (PHCN) cho bệnh nhân đột quỵ Các lớp đào tạo này giúp nhân viên y tế cập nhật phương pháp hỗ trợ hiệu quả, đảm bảo chất lượng chăm sóc và nâng cao khả năng phục hồi cho người bệnh Việc mở các lớp tập huấn liên tục là cần thiết để nâng cao năng lực chuyên môn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu điều trị và tư vấn cho người bệnh đột quỵ.

- Xây dựng các bài tư vấn, hướng dẫn về các biện pháp PHCN, các bài tập PHCN để hướng dẫn cho người bệnh

- Giáo dục sức khỏe giúp người bệnh hiểu được mục đích và hiệu quả PHCN vận động

Thành lập câu lạc bộ người bệnh đột quỵ là một chiến lược quan trọng trong việc hỗ trợ và nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh sau đột quỵ Việc khuyến khích và giới thiệu người bệnh tham gia vào câu lạc bộ đột quỵ tại cộng đồng giúp họ có cơ hội chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi phương pháp phục hồi, và nhận sự hỗ trợ từ cộng đồng Các câu lạc bộ này đóng vai trò là nơi trao đổi thông tin y tế, tạo diễn đàn gắn kết giúp người bệnh giảm thiểu cảm giác cô đơn và tăng cường tinh thần lạc quan trong quá trình hồi phục Tiến tới, việc thành lập và duy trì câu lạc bộ người bệnh đột quỵ sẽ góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về phòng chống đột quỵ và thúc đẩy lối sống lành mạnh.

Ngày đăng: 13/01/2023, 11:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Hà Bích Liên (2018), "Đánh giá tình hình chăm sóc vận động chi trên ở người TBMMN đang điều trị nội trú tại bệnh viện Y dược cổ truyền Sơn La", đề tài cơ sở Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tình hình chăm sóc vận động chi trên ở người TBMMN đang điều trị nội trú tại bệnh viện Y dược cổ truyền Sơn La
Tác giả: Hà Bích Liên
Năm: 2018
6. Lê Đức Hinh (2009), "Tình hình đột quỵ hiện nay tại các nước châu Á, Chẩn đoán và xử trí đột quỵ", Hội thảo liên khoa, khoa thần kinh bệnh viện Bạch Mai Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình đột quỵ hiện nay tại các nước châu Á, Chẩn đoán và xử trí đột quỵ
Tác giả: Lê Đức Hinh
Năm: 2009
7. Lê Thị Hương và cộng sự (2014), " Tỷ lệ mắc đột quỵ tại 8 tỉnh thuộc 8 vùng sinh thái Việt Nam năm 2013-2014 và một số yếu tố liên quan" Tạp chí nghiên cứu y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ lệ mắc đột quỵ tại 8 tỉnh thuộc 8 vùng sinh thái Việt Nam năm 2013-2014 và một số yếu tố liên quan
Tác giả: Lê Thị Hương và cộng sự
Năm: 2014
9. Trần Thị Mỹ Luật (2008), “Đánh giá kết quả phục hồi chức năng vận động của người bệnh đột quỵ tại viện điều dưỡng - phục hồi chức năng tỉnh Thái Nguyên” Đại học y dược Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả phục hồi chức năng vận động của người bệnh đột quỵ tại viện điều dưỡng - phục hồi chức năng tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Trần Thị Mỹ Luật
Năm: 2008
13. Motegi A et al. (2008), "Outcome ofstroke survivors in Yamagata Prefecture", Nippon - Koshu - Eisei - Zasshi,. 45(9), pp. 846 - 852 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Outcome ofstroke survivors in Yamagata Prefecture
Tác giả: Motegi A et al
Năm: 2008
14. Alfassa.S et al. (2007), "Quality of life in younger adults (17-49) after first stroke - a two year follow up", Harefuah. 137(7-8), pp. 249 - 54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quality of life in younger adults (17-49) after first stroke - a two year follow up
Tác giả: Alfassa.S et al
Năm: 2007
16. Nakayama H et al. (2004), "The influence of age on stroke outcome - The copenhagen stroke study", Stroke. 25, pp. 808-813 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The influence of age on stroke outcome - The copenhagen stroke study
Tác giả: Nakayama H et al
Năm: 2004
17. Chopra J.S et al. (2008), "Progress in cerebrovacular disease", Elsevier science, pp. 4 - 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Progress in cerebrovacular disease
Tác giả: Chopra J.S et al
Năm: 2008
20. Pedersen P.M et al. (2016), "Orientation in the acute and chronic stroke patient: Impact on ADL andsocial activities-The copenhagen stroke study", Arch - Phys - Med Rehabil. 77(4), pp. 336 - 339 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Orientation in the acute and chronic stroke patient: Impact on ADL andsocial activities-The copenhagen stroke study
Tác giả: Pedersen P.M et al
Năm: 2016
1. Cao Minh Châu, Nguyễn Xuân Nghiên và Trần Văn Chương (2005), Dụng cụ trợ giúp đơn giản trong phục hồi chức năng cho người bệnh liệt nửa người do đột quỵ, kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học hội phục hồi chức năng Việt Nam, Nhà xuất bản y học, tr. 28 - 31 Khác
2. Trần Văn Chương (2010), Phục hồi chức năng người bệnh liệt nửa người do đột quỵ, Nhà xuất bản y học, Hà Nội Khác
3. Trần Văn Chương (2010), Đại cương đột quỵ não, Bộ môn nội Thần kinh, Học viện quân Y Khác
4. Hội thần kinh học TP Hồ Chí Minh (2014), Hội nghị về đột quỵ khu vực Châu Á Thái Bình Dương 2014, TP Hồ Chí Minh Khác
8. Nguyễn Văn Lệ (2015), Thực trạng và các yếu tố liên quan đến chăm sóc phục hồi chức tại nhà cho người bệnh bị đột quỵ đã từng điều trị tại bệnh viện đa khoa Hà Đông năm 2014, Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ Y tế Công cộng, Trường Đại học Y tế Công cộng Hà Nội Khác
10. Nguyễn Thị Nhu Mai và Trần Thị Thanh Hương (2014), Nhu cầu chăm sóc, phục hồi chức năng của người bệnh đột quỵ khi xuất viện tại bệnh viện lão khoa trung ương, Kỷ yếu công trình khoa học 2014 Phần II Khác
11. Hoàng Ngọc Thắm (2012), Thực trạng nhu cầu và chăm sóc phục hồi chức năng cho người bệnh đột quỵ giai đoạn cấp của điều dưỡng viên tại bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắk năm 2012, Luận văn Thạc sỹ Y tế công cộng, Trường Đại học Y tế Công cộng Hà Nội Khác
12. Nguyễn Thị Xuyên (2008), Phục hồi chức năng sau đột quỵ. Nhà xuất bản y học Hà Nội.* Tiếng Anh Khác
15. The Stroke Association (2010), Physical effects of stroke. Factsheet 33, The Stroke Association 2010 Khác
18. Dr David Clarke Lecturer and Senior Research Fellow (2012), Systematic Review: Understanding Stroke Rehabilitation Nursing, RCN international Research Conference London, Lon don Khác
1. Năm sinh...................................................Số bệnh án Khác