Microsoft Word Ä’á»™NG THá»− Ä’ÃflNG BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH ĐỒNG THỊ ĐÔNG THỰC TRẠNG KIẾN THỨC CHĂM SÓC XỬ TRÍ TẠI NHÀ CHO BÀ MẸ CÓ CON DƯỚI 5 TUỔI MẮC BỆNH TIÊU CHẢY TẠI KHOA NHI B[.]
Cơ sở lý luận
Tiêu chảy là tình trạng đi ngoài phân lỏng hoặc toé nước trên 3 lần trong 24 giờ, gây mất nước và điện giải liên tục Đợt tiêu chảy bắt đầu từ ngày đầu tiên xuất hiện triệu chứng và kết thúc khi trẻ đi tiêu bình thường liên tiếp trong hai ngày Ví dụ, nếu bé bị tiêu chảy liên tục trong 3 ngày, rồi ngày thứ 4 phân bình thường, sau đó lại tiêu chảy trong 3 ngày nữa, và ngày thứ 8, 9 phân trở lại bình thường, thì đợt tiêu chảy của bé kéo dài tổng cộng 7 ngày (3 ngày tiêu chảy, 1 ngày phân bình thường, 3 ngày tiêu chảy tiếp theo) Quản lý đúng đắn tình trạng tiêu chảy giúp phòng tránh mất nước nặng và duy trì sức khỏe cho trẻ.
Khi trẻ đi ngoài phân lỏng hoặc toé nước trên 3 lần trong 24 giờ, được xem là tiêu chảy cấp, kéo dài không quá 14 ngày Nếu sau ngày thứ 10, trẻ đi phân lỏng 4 lần trong ngày, đó có thể là dấu hiệu của một đợt tiêu chảy mới Tiêu chảy kéo dài hơn 14 ngày được gọi là tiêu chảy kéo dài, cần chú ý theo dõi để đảm bảo sức khỏe cho trẻ.
Các tác nhân gây bệnh tiêu chảy chủ yếu lây qua đường phân – miệng, khiến phân của trẻ bị tiêu chảy làm nhiễm bẩn thức ăn và nguồn nước uống Trẻ dễ mắc tiêu chảy khi tiêu thụ thức ăn hoặc nước uống bị nhiễm bệnh, hoặc khi tiếp xúc trực tiếp với nguồn lây nhiễm Việc vệ sinh sạch sẽ và xử lý nguồn lây là rất quan trọng để phòng ngừa bệnh tiêu chảy ở trẻ nhỏ.
1.1.2.2 Tác nhân gây bệnh a, Virus [6]
Virus là nguyên nhân chính gây bệnh tiêu chảy ở trẻ em, trong đó Rotavirus đóng vai trò chủ đạo, đặc biệt ở trẻ dưới 2 tuổi Ước tính, có đến một phần ba trẻ em dưới 2 tuổi mắc ít nhất một đợt tiêu chảy do Rotavirus, làm tăng nguy cơ mất nước và các biến chứng nghiêm trọng Ngoài virus, vi khuẩn cũng góp phần gây tiêu chảy, nhưng Rotavirus vẫn là tác nhân chính trong các ca bệnh tiêu chảy cấp tính ở trẻ nhỏ.
Nhiều loại vi khuẩn có thể gây bệnh tiêu chảy cho trẻ em:
Approximately 25% of acute diarrhea cases are caused by intestinal E coli infections There are five main groups responsible for these illnesses: enterotoxigenic E coli (ETEC) that produces toxins in the gut, enteroadherent E coli (EAEC) that attach to intestinal cells, enteropathogenic E coli (EPEC) that cause cellular damage, enteroinvasive E coli (EIEC) capable of invading intestinal tissues, and enterohemorrhagic E coli (EHEC) known for causing bloody diarrhea These different strains of E coli vary in their pathogenic mechanisms, contributing significantly to gastrointestinal diseases worldwide.
Trong 5 loại trên, Coli sinh độc tố ruột (ETEC) là tác nhân quan trọng gây tiêu chảy cấp, phân toé nước ở người lớn và trẻ em ở các nước đang phát triển Trực trùng lị Shigella: Trực trùng lị Shigella là tác nhân trong 60% các đợt lị Trong 4 nhóm huyết thanh S Plexneri, S Dysenteriae, S Boydi và S Sonei, nhóm phổ biến nhất tại các nước đang phát triển là S Plexneri
Salmonella không gây thương hàn
Phảy khuẩn tả Vibrio Cholerae 01: Có 2 typ sinh vật (typ Cổ điển và Eltor) và 2 typ huyết thanh (Ogawa và Inaba) c, Kí sinh trùng: [6]
Candida albicans có thể gây tiêu chảy, đặc biệt ở trẻ em sau khi sử dụng kháng sinh kéo dài hoặc những trẻ bị suy giảm miễn dịch bẩm sinh và mắc AIDS ở giai đoạn cuối Việc nhiễm nấm Candida thường xuất hiện khi hệ miễn dịch yếu, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe và tiêu hóa của trẻ Để phòng ngừa và điều trị hiệu quả, việc nhận biết sớm các triệu chứng và kiểm tra sức khỏe là rất cần thiết.
1.1.2.3 Các yếu tố nguy cơ [8],[9] a, Các yếu tố vật chủ làm tăng tính cảm thụ vớibệnh tiêu chảy[9]
Tuổi: Trẻ dưới 2 tuổi hay bị tiêu chảy, đặc biệt là trẻ ở độ tuổi 6 - 11 tháng (trẻ trong giai đoạn ăn sam)
Tình trạng suy dinh dưỡng: Trẻ SDD dễ mắc bệnh tiêu chảy và bệnh lại thường nặng, dễ gây tử vong
Tình trạng suy giảm miễn dịch: Trẻ bị bệnh sởi, bị AIDS thường tăng tính cảm thụ đối với bệnh tiêu chảy
Cơ địa: Trẻ đẻ non, đẻ yếu b, Tập quán làm tăng nguy cơ tiêu chảy [9]
Trẻ không bú mẹ, ăn nhân tạo không đúng phương pháp
Cho trẻ bú chai, vì chai và vú cao su rất khó rửa sạch Ăn sam sớm, thức ăn để lâu
Sử dụng nguổn nước bị ô nhiễm
Chế độ vệ sinh cá nhân, vệ sinh ăn uống kém c, Tính chất mùa [8]
Tiêu chảy do virus thường xảy ra vào mùa đông
Tiêu chảy do vi khuẩn thường xảy ra vào mùa hè
1.1.3 Triệu chứng lâm sàng của bệnh tiêu chảy [6],[7],[8]
1.1.2.1 Triệu chứng tiêu hoá a, Tiêu chảy
Tiêu chảy là triệu chứng không thể thiếu trong bệnh tiêu chảy, thường xảy ra đột ngột với biểu hiện đi ngoài nhiều lần phân lỏng, có thể kèm nhầy, máu và mùi chua, tanh hoặc thối khẳn Trong một số trường hợp, phân có thể tự chảy ra do bị liệt cơ co thắt hậu môn Ngoài ra, nôn là một dấu hiệu thường đi kèm, phản ánh tình trạng rối loạn tiêu hóa gây mất nước và điện giải nghiêm trọng.
Nôn thường xuất hiện sớm trước khi trẻ có triệu chứng tiêu chảy, xảy ra từ vài giờ đến vài chục giờ trước Nôn có thể diễn ra liên tục hoặc chỉ xuất hiện vài lần trong ngày, gây mất nước và mất các ion H+ và Cl- Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này thường là do Rotavirus hoặc tụ cầu.
Để xử lý hiệu quả tình huống trẻ nôn, cần xác định số lần nôn, lượng chất nôn mỗi lần, cùng với tính chất và thành phần chất nôn (toàn nước, thức ăn, hoặc chất khác), nhằm đánh giá chính xác mức độ mất dịch của trẻ Việc này giúp xác định chính xác lượng dung dịch Oresol cần bổ sung để bù đắp lượng dịch mất đi do tiêu chảy và nôn mửa, từ đó hỗ trợ phục hồi nhanh chóng cho trẻ Ngoài ra, cần theo dõi tình trạng biếng ăn của trẻ để đánh giá tình hình sức khỏe toàn diện và điều chỉnh phương pháp điều trị phù hợp.
Trẻ biếng ăn thường xuất hiện sớm sau khi bị tiêu chảy, với dấu hiệu từ chối các thức ăn thông thường và chỉ thích uống nước Việc kiểm tra chế độ ăn của trẻ, xác định xem trẻ còn bú mẹ hay không, là rất quan trọng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng Ngoài ra, cần tìm hiểu xem gia đình đã cho trẻ uống thuốc gì, có sử dụng oresol hoặc các loại nước bù điện giải khác hay chưa để đưa ra phương pháp điều trị phù hợp.
Khi trẻ bị tiêu chảy, điều quan trọng là nhanh chóng đánh giá tình trạng mất nước bằng cách quan sát toàn trạng của bệnh nhân để xác định mức độ mất nước Việc đánh giá gồm nhân định dựa trên các dấu hiệu lâm sàng như mức độ tỉnh táo, độ hút nước của da, quấy khóc hoặc lừ đừ để có phương hướng điều trị phù hợp Đánh giá chính xác giúp xác định cần thiết các biện pháp bù nước phù hợp, hạn chế biến chứng nghiêm trọng do mất nước gây ra.
Trẻ tỉnh táo bình thường, khi chưa có biểu hiện mất nước trên lâm sàng
Trẻ kích thích, vât vã, quấy khóc là có biểu hiện mất nước
Trẻ li bì, lờ đờ, mệt lả, hôn mê là mất nước nặng b, Xác định dấu hiệu mất nước để đánhgiá mức độmất nước
Trước hết phải hỏi xem trẻ có đòi uống nước không?
Hãy cho trẻ uống nước bằng cốc, chén, thìa và quan sát để đánh giá mức độ mất nước:
Uống bình thường: Trẻ có uống nhưng không thích lắm hoặc từ chối uống, khi chưa có biểu hiên mất nước trên lâm sàng
Trẻ uống nước một cách háo hức thường nắm chặt thìa hoặc ghì cốc vào miệng, thể hiện sự háo hức và muốn uống hết sạch Khi ngừng uống, trẻ có thể khóc hoặc thể hiện sự khó chịu, đồng thời ánh mắt thường theo dõi cốc nước đang bị lấy đi Đây là một trong những dấu hiệu quan trọng giúp nhận biết tình trạng mất nước ở trẻ.
Trẻ không thể uống hoặc uống rất yếu, phản xạ đưa thìa nước vào miệng kém hoặc mất nhiều thời gian mới uống được chút ít, kèm theo dấu hiệu li bì hoặc hôn mê Đây là biểu hiện của mất nước nặng và cần quan sát kỹ lưỡng, đặc biệt là tình trạng mắt của trẻ để xác định mức độ nguy hiểm.
Trong tiêu chảy, mắt của trẻ có thể:+ Bình thường + Trũng + Rất trũng
Trong thực tế, có những đứa trẻ sinh ra đã mắc phải mắt sâu (trũng) Để tránh nhầm lẫn, phụ huynh nên hỏi người nhà về tình trạng mắt của trẻ hiện tại có gì khác so với bình thường hay không, thay vì đặt câu hỏi đóng như "Mắt cháu có trũng không?" Điều này giúp xác định chính xác hơn về tình trạng mắt của trẻ và tránh hiểu lầm không cần thiết.
Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Bệnh tiêu chảy là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ Trên toàn cầu, trung bình mỗi năm, trẻ em dưới 5 tuổi mắc 3,2 đợt tiêu chảy, dẫn đến hơn 1,87 triệu ca tử vong liên quan đến mất nước do tiêu chảy, đặc biệt tập trung tại các quốc gia Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ Latinh Theo dữ liệu điều tra sức khỏe nhân khẩu học (EDHS) từ các năm 2000 và 2005, bệnh tiêu chảy vẫn là mối đe dọa lớn đối với sự sống của trẻ nhỏ ở các nước thu nhập thấp.
Tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy trong vòng 2 tuần ở trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm từ 24% xuống còn 12% trong giai đoạn 2011-2016, thể hiện sự cải thiện rõ rệt trong chăm sóc sức khỏe trẻ nhỏ Tuy nhiên, mặc dù tỉ lệ mắc bệnh giảm gấp đôi qua 16 năm tại các nước thu nhập thấp, tiêu chảy vẫn là một trong những vấn đề y tế lớn và vấn đề cộng đồng quan trọng nhất của đất nước.
Rotavirus là tác nhân chính gây bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em toàn cầu, gây ra khoảng một phần ba số ca nhập viện vì tiêu chảy và dẫn đến khoảng 800.000 ca tử vong hàng năm Trẻ em tại các quốc gia nghèo nhất chiếm phần lớn, với 82% số ca tử vong do virus rota ở trẻ dưới 5 tuổi Bệnh gây ra tình trạng thiếu hụt chất lỏng, điện giải và dinh dưỡng trong ruột, diễn biến nhanh gây mất nước nghiêm trọng và nguy cơ tử vong cao.
Thức ăn dặm bị ô nhiễm, cách cho ăn không phù hợp, thiếu nước sạch và vệ sinh tay kém là những yếu tố góp phần làm tăng nguy cơ mắc bệnh tiêu chảy ở trẻ dưới 5 tuổi Ngoài ra, việc hạn chế xử lý rác thải hợp vệ sinh, điều kiện nhà ở tồi tàn, cùng với khó khăn trong tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe đầy đủ và giá cả phải chăng cũng là những nguyên nhân làm trầm trọng thêm tình trạng bệnh tiêu chảy ở trẻ nhỏ.
Các kiến thức phòng ngừa tiêu chảy bao gồm vệ sinh môi trường, chế độ ăn uống, sử dụng thuốc và vi chất bổ sung như kẽm, men vi sinh, và các biện pháp tiêm phòng Bà mẹ đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa và điều trị tiêu chảy tại nhà, góp phần nâng cao sức khỏe và phòng chống dịch bệnh cho trẻ.
Các bệnh tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi có thể được phòng ngừa hiệu quả thông qua các biện pháp dự phòng ở cấp độ 2 và cấp độ 3 Việc nâng cao kiến thức về vệ sinh cá nhân và chất lượng nước góp phần làm giảm tỷ lệ mắc bệnh, trong đó việc rửa tay bằng xà phòng và thực hành vệ sinh an toàn có thể giảm 35% nguy cơ tiêu chảy Nhận biết sớm tình trạng mất nước và sử dụng dung dịch bù nước ORS hoặc các loại lỏng phù hợp có sẵn tại nhà đã được chứng minh là phương pháp hiệu quả trong việc hạn chế tử vong do tiêu chảy Ngoài ra, kiến thức về nuôi dưỡng tốt cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có thể giúp ngăn chặn hơn 10% các trường hợp tử vong liên quan đến bệnh tiêu chảy trong cộng đồng.
Nghiên cứu tại Ethiopia cho thấy 65,2% bà mẹ có kiến thức tốt về phòng ngừa và xử trí tại nhà bệnh tiêu chảy cho trẻ dưới 5 tuổi Một kết quả tương tự (65,9%) cũng được ghi nhận trong nghiên cứu khác, cho thấy mức độ nhận thức khá cao về vấn đề này Tuy nhiên, so với các nghiên cứu ở Kashan, Iran (28,8%), Fagita Lekoma, Ethiopia (56,2%), và Assosa, Ethiopia (37,5%), mức độ kiến thức của bà mẹ trong nghiên cứu này cao hơn nhiều.
Gần 92,2% các bà mẹ nhận biết chính xác về tiêu chảy, đặc trưng bởi việc đi phân lỏng từ 3 lần trở lên mỗi ngày, cao hơn nhiều so với các nghiên cứu tại Fagita Lekoma, Ethiopia (65,4%) và Karachi, Pakistan (52,5%) This awareness indicates a relatively cao nhận thức về triệu chứng tiêu chảy trong cộng đồng, góp phần nâng cao khả năng xử lý và phòng ngừa bệnh hiệu quả hơn.
Trong nghiên cứu, có đến 85,5% người được hỏi cho rằng tiêu chảy chủ yếu do uống nước bị ô nhiễm, điều này cao hơn đáng kể so với các nghiên cứu tại Pakistan, Ấn Độ, Mali và Tây Ethiopia Trong khi đó, ít hơn một nửa số người tham gia (42,4%) đã sử dụng các dung dịch tự chế để điều trị tiêu chảy cho con mình, trái ngược với tỷ lệ cao trong các cộng đồng như Heidedal (90%), huyện Taung (83,6%) và cộng đồng Swaziland (97%).
Tại Nam Phi, nguyên nhân chính có thể là do phần lớn các bà mẹ ở thành phố thường xuyên đưa con đi khám chữa bệnh khi bé mắc tiêu chảy, chiếm khoảng 2/3 số trường hợp.
Trong số các bà mẹ, chỉ có 62,4% biết về lượng nước khuyến nghị để pha một gói ORS, thấp hơn nhiều so với các nghiên cứu tại Ethiopia (85,4%), Pakistan (75,5%), Nepal (70%) và Ấn Độ (76,7%), cho thấy mức độ nhận thức về việc sử dụng ORS còn hạn chế trong cộng đồng.
15] Điều này có thể được biện minh bởi thực tế là những bà mẹ này có thể không quen với việc pha trộn ORS do thiếu giáo dục
1.2.3 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Kiến thức về phòng tránh bệnh tiêu chảy cấp của các bà mẹ đóng vai trò quan trọng trong việc giảm tỷ lệ trẻ mắc bệnh và nâng cao hiệu quả điều trị Nhiều nghiên cứu tại Việt Nam và thế giới đã đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành của các bà mẹ khi chăm sóc trẻ bị tiêu chảy cấp Kết quả của tác giả Nguyễn Văn Đăng tại Lạng Sơn cho thấy đa số bà mẹ nhận thức nguyên nhân chủ yếu là do ăn thức ăn không vệ sinh, chiếm tỷ lệ 83,3%, mức thấp hơn so với nghiên cứu của Mai Thị Thanh Xuân (94,53%) nhưng cao hơn so với Nguyễn Thị Thanh Huyền (63,6%) Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều bà mẹ chưa nhận thức đầy đủ về các nguyên nhân khác như tiêm phòng chưa đủ, trẻ bị bệnh kéo dài làm giảm sức đề kháng, tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn và virus gây tiêu chảy.
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 50,7% các bà mẹ cho trẻ bú nhiều hơn bình thường, 30,7% cho bú bình thường và 15,6% bú ít hơn bình thường, phù hợp với các nghiên cứu trước đó của Mai Thị Thanh Xuân (53,65%) và Mạc Hùng Tằng cùng Trần Đỗ Hùng (54,0%) Ngoài ra, 97,0% các bà mẹ biết đến dung dịch Oresol, tương tự như tỷ lệ 93,0% trong nghiên cứu của Lưu Thị Mỹ Thục tại Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2017, thể hiện nhận thức cao về lợi ích của dung dịch này Tuy nhiên, chỉ có 58,1% bà mẹ trả lời đúng về tác dụng của Oresol là phòng và chống mất nước, cho thấy vẫn còn cần tăng cường hiểu biết về công dụng của dung dịch này trong cộng đồng.
Các bà mẹ đều có xu hướng đưa trẻ đi khám ngay khi xuất hiện các dấu hiệu tiêu biểu như tiêu chảy quá nhiều (81,5%) và trẻ lờ đờ (74,8%), trong khi tỷ lệ này cao hơn trong nghiên cứu của tác giả Phan Hoàng Thùy Linh, với 93,80% và 91,90% tương ứng Các dấu hiệu cảnh báo khác như phân có máu (70,7%), khát nước (67,0%), nôn (66,7%), sốt (65,6%), và mắt trũng (51,1%) cũng thúc đẩy các bà mẹ đưa trẻ đến cơ sở y tế khám và điều trị Nghiên cứu còn cho thấy, trình độ học vấn của các bà mẹ càng cao thì mức độ quan tâm đến việc chăm sóc sức khỏe của trẻ càng lớn, góp phần nâng cao tỷ lệ đưa trẻ đi khám sớm và đúng lúc.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ bà mẹ có kiến thức trung bình về phòng ngừa và chăm sóc trẻ tiêu chảy cấp chiếm đa số, với tỷ lệ 44,4%, trong khi kiến thức kém chiếm 24,1%, còn lại là kiến thức khá và tốt lần lượt là 18,1% và 13,3% Kết quả này cho thấy mức độ kiến thức tốt của các bà mẹ còn thấp so với các nghiên cứu trước như của Agbolade và cộng sự (2015), đạt tỷ lệ 26,8% Các nghiên cứu thực hiện ở các nước phát triển cho thấy trình độ văn hóa và nền kinh tế cao hơn sẽ đi kèm với kiến thức phòng bệnh tốt hơn Đặc biệt, phần lớn các bà mẹ có kiến thức trung bình hoặc kém chủ yếu sinh sống ở các nước có nguồn thu nhập thấp, ảnh hưởng đến khả năng chăm sóc và phòng ngừa trẻ tiêu chảy cấp hiệu quả.
Chương 2 LIÊN HỆ THỰC TIỄN
1 Giới thiệu về Bệnh viện đa khoa khu vực Phúc Yên và khoa Nhi- nơi thực hiện chuyên đề