Microsoft Word BÃŽI THU HƯƀNG BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH BÙI THU HƯƠNG THỰC TRẠNG CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH LIỆT NỬA NGƯỜI DO ĐỘT QUỴ NÃO TẠI KHOA Y HỌC CỔ TRUYỀN BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG QUÂN[.]
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Cơ sở lý luận
Đột quỵ não, còn gọi là tai biến mạch máu não theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), là hội chứng lâm sàng đặc trưng bởi sự khởi phát đột ngột của các triệu chứng biểu hiện tổn thương não, thường là khu trú, kéo dài trên 24 giờ hoặc dẫn đến tử vong trước 24 giờ Các triệu chứng thần kinh khu trú phù hợp với vùng não do mạch máu nuôi dưỡng bị tổn thương, loại trừ nguyên nhân chấn thương Đột quỵ não hoặc TBMMN là tình trạng rối loạn chức năng não khu trú, tiến triển nhanh do tắc nghẽn hoặc vỡ mạch máu, gây tổn thương vùng não và rối loạn hoạt động của các phần cơ thể do vùng não đó kiểm soát.
Căn cứ vào nguyên nhân gây bệnh, đột quỵ não được chia ra 2 thể: Nhồi máu não và xuất huyết não
Một cơn nhồi máu não có thể xảy ra theo hai cách:
Đột quỵ do nghẽn mạch xảy ra khi máu đông hình thành ở một vị trí trong cơ thể, thường tại tim, sau đó di chuyển theo dòng máu về phía não Khi đến não, cục máu đông gặp phải các mạch máu nhỏ hơn và bị mắc kẹt, gây tắc nghẽn dòng máu Loại đột quỵ này còn gọi là đột quỵ do nghẽn mạch, là nguyên nhân chính dẫn đến tổn thương não nghiêm trọng.
Đột quỵ do máu đông tại chỗ xảy ra khi các mảng cholesterol tích tụ dính vào thành động mạch qua thời gian, làm hẹp hoặc tắc nghẽn mạch máu Những mảng bám này thường ảnh hưởng đến các động mạch lớn ở cổ vận chuyển máu đến não, gây ra đột quỵ do máu đông tại chỗ.
4 cách này được gọi là đột quỵ do máu đông tại chỗ
* Xuất huyết não: Là sự vỡ mạch tại thành mạch trong não
Đột quỵ chảy máu xảy ra khi máu bị rò rỉ vào trong não, gây tổn thương và không cung cấp đủ ô-xy cùng chất dinh dưỡng cho não bộ Các chứng rối loạn ảnh hưởng đến mạch máu như cao huyết áp kéo dài và phình động mạch não là những nguyên nhân chính gây ra tình trạng này.
Phình động mạch là điểm yếu hoặc mỏng trên thành mạch máu, thường có từ khi sinh Các điểm yếu này khiến mạch máu dễ bị phình to theo thời gian Phình động mạch phát triển trong nhiều năm mà thường không gây ra triệu chứng rõ ràng, khiến chúng khó phát hiện sớm Tuy nhiên, khi phình động mạch vỡ ra, nó có thể gây ra các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng và cần được cấp cứu ngay lập tức.
Dị dạng thông động tĩnh mạch (AVM) là một khối lộn xộn các mạch máu, bao gồm động mạch và tĩnh mạch, có thể xuất hiện ở bất kỳ đâu trong cơ thể, kể cả não AVM thường làm sẵn từ khi sinh ra, nhưng cũng có thể phát triển theo thời gian khi các mạch máu lớn lên và yếu đi Nếu AVM nằm trong não và các thành mạch máu vỡ, điều này có thể dẫn đến chảy máu não nguy hiểm Nguyên nhân của AVM chủ yếu vẫn chưa rõ ràng, nhưng có thể liên quan đến yếu tố bẩm sinh hoặc quá trình phát triển mạch máu bất thường.
Cơn đột quỵ xảy ra khi việc cung cấp máu đến não bị gián đoạn, gây tổn thương các tế bào não quan trọng Máu được vận chuyển tới não qua các mạch máu gọi là động mạch, chứa ô-xy và chất dinh dưỡng cần thiết cho hoạt động của tế bào não Tuy nhiên, dòng máu có thể bị ngưng trệ do tắc nghẽn (nhồi máu não) hoặc vỡ mạch máu (chảy máu não), dẫn đến thiếu ô-xy và dưỡng chất cho não Khi tế bào não không nhận đủ các yếu tố này, chúng sẽ chết đi, hình thành các ổ nhồi máu não gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chức năng não bộ.
Hình 1.1: Các động mạch của não
Các tế bào não thường chết rất nhanh sau khi khởi phát đột quỵ, nhưng một số có thể sống sót vài giờ nếu sự cung cấp máu không bị ngưng hoàn toàn Khi máu được cấp trở lại trong vòng vài phút hoặc vài giờ sau đột quỵ, một số tế bào não có thể phục hồi, giảm thiểu tổn thương Tuy nhiên, nếu không được khôi phục kịp thời, các tế bào này sẽ chết, gây ra hậu quả nghiêm trọng cho não bộ và chức năng của cơ thể.
Hình 1.2: Hai thể đột quỵ não
Các biểu hiện điển hình của bệnh đột quỵ não [14]
- Liệt nửa người bên phải hoặc bên trái do tổn thương bán cầu đại não phải hoặc trái
Liệt mặt cùng bên hoặc đối bên so với liệt nửa thân thường biểu hiện bằng các triệu chứng như miệng méo, nhân trung lệch về phía bên lành, và nước miếng chảy ra bên liệt These symptoms là dấu hiệu phổ biến của liệt dây thần kinh số VII, đòi hỏi người bệnh cần chẩn đoán và điều trị kịp thời để phục hồi chức năng khuôn mặt.
- Rối loạn ngôn ngữ: thất ngôn, nói khó, nói ngọng
Rối loạn về nuốt gây ra các triệu chứng như nuốt khó, nuốt sặc do liệt màn hầu khi có tổn thương các dây thần kinh IX, X, XI Ngoài ra, người bệnh có thể không nhai được thức ăn nếu dây V bị tổn thương, ảnh hưởng đáng kể đến chức năng tiêu hóa và chất lượng cuộc sống.
- Rối loạn cơ tròn: đái ỉa không tự chủ hoặc bí đái, bí ỉa, bí trung tiện
- Rối loạn nhạn thức: lú lẫn thờ ơ, suy giảm trí nhớ
- Trường hợp nặng có thể hôn mê, tắc đờm, tụt lưỡi, suy hô hấp, hoặc tử vong
1.1.4.Các vấn đề cần quan tâm khi chăm sóc người bệnh sau đột quỵ não
- Đau đầu, chóng mặt liên quan đến tình trạng bệnh
- Mất khả năng vận động do liệt
- Khả năng giao tiếp bằng lời giảm liên quan đến bệnh
- Suy giảm trí nhớ liên quan đến tình trạng bệnh
- Nguy cơ co giật và hôn mê liên quan đến tình trạng bệnh
- Nguy cơ ứ đọng đờm rãi liên quan đến tổn thương não
- Nguy cơ thiếu hụt dinh dưỡng liên quan đến tình trạng bệnh, người cao tuổi
- Nguy cơ loét tỳ đè liên quan đến nằm lâu
- Nguy cơ nhiễm khuẩn bội nhiễm do mắc các bệnh lý nền kết hợp
- Nguy cơ teo cơ, cứng khớp liên quan đến tình trạng nằm lâu
- Người bệnh và gia đình lo lắng về bệnh liên quan đến thiếu hiểu biết về bệnh và kiến thức chăm sóc
1.1.5 Quy trình chăm sóc người bệnh sau đột quỵ não
- NB có tăng huyết áp không? NB có đái tháo đường, rối loạn chuyển hóa lipid không?
- Có bệnh lý về tim mạch không?
- Có hút thuốc lá hay dùng chất kích thích không? Có bị ngã không?
- Có bị dị ứng gì không?
- Người bệnh xuất hiện những triệu chứng liên quan tới bệnh từ bao giờ?
Ý thức là yếu tố quan trọng để đánh giá tình trạng của bệnh nhân, bao gồm các biểu hiện như tỉnh táo, lơ mơ, kích động, hôn mê hoặc li bì Các triệu chứng như co giật, đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, ù tai cần được ghi nhận để chẩn đoán chính xác Ngoài ra, theo dõi các dấu hiệu sinh tồn như mạch, nhiệt độ, huyết áp, nhịp thở giúp đánh giá tình trạng bệnh nhân rõ hơn Các biểu hiện về da, niêm mạc, thể trạng, cân nặng, khả năng vận động, và các vấn đề về khuôn mặt như méo miệng, mắt nhắm không kín hoặc khó tiếp xúc đều rất quan trọng Đánh giá khả năng giao tiếp thông qua lời nói và nhận biết các dấu hiệu ngọng cũng là phần không thể thiếu trong quá trình khám.
- NB tự thở hay phải hỗ trợ oxy? SpO2? Tần số thở?
- NB có ho khạc không? Thở khò khè, có tăng tiết đờm rãi không?
- Tâm lý NB và gia đình
- NB có liệt, yếu tay chân không? Giảm vận động? Cảm giác đau, sưng khớp? Phù nề khớp?
- Ăn đường miệng hay ăn qua sonde? NB có nuốt được không? Có bị nghẹn sặc khi ăn hay uống nước không?
- NB đại tiện, tiểu tiện có biết không? Số lượng, màu sắc?
- Đánh giá lượng dịch vào ra?
*Các kết quả xét nghiệm cận lâm sàng nếu có:
- Chụp MRI: là xét nghiệm quan trọng nhất giúp chẩn đoán xác định
- Xét nghiệm máu: công thức máu; tốc độ máu lắng, điện giải đồ để đánh giá toàn trạng
Đặt bệnh nhân nằm đầu cao 30 độ để giảm tình trạng khó thở và nâng cao thoải mái Trong trường hợp có hiện tượng tăng tiết đờm, dãi hoặc buồn nôn, nên để đầu bệnh nhân nghiêng về một bên để hạn chế nguy cơ sặc hoặc biến chứng hô hấp Liên tục theo dõi tình trạng ý thức của bệnh nhân, bao gồm các dấu hiệu tỉnh táo, lơ mơ, rối loạn cảm xúc và trí nhớ để phát hiện sớm các dấu hiệu chuyển biến Bên cạnh đó, việc theo dõi hoạt động sống như huyết áp và nhiệt độ là rất quan trọng, tùy theo từng trường hợp nên đo lại từ 30 phút đến 3 giờ/lần để đảm bảo quản lý chính xác diễn biến của bệnh.
Theo dõi tại chỗ là rất quan trọng để đánh giá các tổn thương thần kinh như liệt chi, rối loạn cơ tròn, đồng thời giám sát các dấu hiệu về hô hấp, đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, ù tai, hay quên, mất ngủ để đảm bảo kịp thời phát hiện và điều trị các biến chứng nguy hiểm.
*Thực hiện y lệnh của bác sỹ:
Bệnh nhân cần tuân thủ đúng lịch trình sử dụng thuốc theo hướng dẫn của nhân viên y tế Thực hiện đầy đủ các nguyên tắc 5 đúng bao gồm đúng liều lượng, đúng loại thuốc, đúng thời điểm, đúng phương thức và đúng người Trong quá trình dùng thuốc, cần theo dõi sát các phản ứng của cơ thể, nếu phát hiện các bất thường như tiêu chảy, mẩn ngứa hoặc các triệu chứng khác, hãy báo ngay cho bác sĩ để được xử trí kịp thời.
- Thực hiện châm cứu, xoa bóp, cứu ngải theo phác đồ chỉ định Theo dõi sát NB nếu có bất thường báo bác sỹ xử trí kịp thời
- Thực hiện các xét nghiệm ngay khi có y lệnh Làm các xét nghiệm máu Đưa NB đi làm xét nghiệm, đi khám kết hợp chuyên khoa theo y lệnh
Hộ lý cấp I điều dưỡng cần thực hiện các công việc như vệ sinh răng miệng, tắm rửa, gội đầu, thay quần áo và ga trải giường cho người bệnh Trong khi đó, hộ lý cấp II, III hỗ trợ và giám sát người bệnh tự chăm sóc bản thân, cần có sự trợ giúp của điều dưỡng và người nhà để đảm bảo an toàn và vệ sinh cho bệnh nhân.
Chăm sóc, đảm bảo vô khuẩn hút đờm dãi khi có ứ đọng, vỗ rung cho
NB nhiều lần trong ngày
Chăm sóc sonde tiểu nếu có: số lượng nước tiểu, màu sắc, rửa bàng quang khi có chỉ định
Chăm sóc loét nếu có
Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Trên Thế giới Đột quỵ não hay tai biến mạch máu não (TBMMN) là một bệnh thường gặp, theo Tổ chức điều trị dự phòng TBMMN châu âu số người mắc TBMMN lần đầu tiên giao động trong phạm vi từ 141 - 219/100.000 dân [20] Theo hiệp hội tim mạch Hoa Kỳ ước tính mỗi năm có khoảng 500.000 người Mỹ bị TBMMN lần đầu hoặc tái phát, trong đó có khoảng 150.000 trường hợp tử vong, chiếm 1/10 tổng số tử vong do mọi nguyên nhân Chi phí PHCN sau tai biến ở Hoa Kỳ xấp xỉ 40 tỷ đô la [28,29]
Theo báo cáo của Trung tâm Đột quỵ và nghiên cứu lâm sàng Hàn Quốc, hàng năm có khoảng 105.000 người mắc đột quỵ lần đầu hoặc tái phát, trong đó hơn 26.000 người tử vong do đột quỵ Trung bình, cứ 5 phút lại có một ca đột quỵ và mỗi 20 phút lại có một người tử vong vì căn bệnh này, với tỷ lệ tử vong khoảng 10% Ước tính hiện nay có khoảng 795.000 người trên 30 tuổi mắc đột quỵ não tại Hàn Quốc Chi phí chăm sóc người bệnh đột quỵ não ở Hàn Quốc ước tính khoảng 3 tỷ đô la Mỹ vào năm 2005 Tại châu Âu, đột quỵ là nguyên nhân hàng thứ hai gây tử vong.
12 sút trí tuệ, nguyên nhân hàng đầu gây động kinh ở người già và là nguyên nhân gây trầm cảm rất thường gặp [19, 21]
Theo Lê Văn Thành và cộng sự, tỷ lệ mắc trung bình hàng năm của tai biến mạch máu não là 416/100.000 dân, trong khi tỷ lệ mắc mới là 152/100.000 dân, cho thấy gánh nặng bệnh lý này ngày càng đáng kể Nghiên cứu của Đàm Duy Thiên (1999) về đặc điểm dịch tễ học đột quỵ não tại quận Thanh Xuân, Hà Nội, cho thấy tỷ lệ hiện mắc là 82,18/100.000 dân, tỷ lệ mới mắc trung bình hàng năm là 22,78/100.000 dân, và tỷ lệ tử vong hàng năm là 9,28/100.000 dân Đột quỵ não phổ biến hơn theo tuổi, đặc biệt trong nhóm trên 50 tuổi, với các yếu tố nguy cơ ngày càng gia tăng theo tuổi tác.
Theo thống kê, tỷ lệ mắc các bệnh về tim mạch và đột quỵ ở Việt Nam ngày càng tăng cao, trong đó nam chiếm 86,52%, cao gấp 1,5 lần nữ giới Các bệnh phổ biến gồm tăng huyết áp với tỷ lệ 51,2% và xơ vữa động mạch chiếm 33,81% Đặc biệt, đột quỵ não xảy ra quanh năm nhưng thường tăng vào các tháng chuyển mùa và thời tiết lạnh, gây ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe cộng đồng.
Theo Nguyễn Văn Đăng và cộng sự, tỷ lệ hiện mắc bệnh là 98,44/100.000 dân, tỷ lệ mới mắc là 36/100.000 dân, và tỷ lệ tử vong là 27/100.000 dân, trong đó tỷ lệ tai biến mạch máu não của nam/nữ là 1,48/1 Từ tháng 9 năm 1997 đến tháng 6 năm 2000, khoa Thần kinh Bệnh viện Bạch Mai đã tiếp nhận khoảng 1.220 bệnh nhân tai biến mạch máu não, tuổi từ 11-89, trong đó nhóm tuổi 45-74 chiếm 67% các trường hợp Tỷ lệ di chứng nhẹ và vừa của tai biến mạch máu não là 68,42%, trong đó di chứng nặng chiếm 27,69%, chủ yếu liên quan đến vận động, với 92,96% bệnh nhân bị liệt nửa người Theo các nghiên cứu, tỷ lệ người mắc tai biến mạch máu não đang sống tại cộng đồng có nhu cầu phục hồi chức năng là 94%.
MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT
Thực trạng chăm sóc người bệnh liệt nửa người do đột quỵ não tại khoa
Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 được thành lập ngày 1 tháng 4 năm
1951 Trải qua hai cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, chiến tranh bảo vệ
Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cứu chữa và chăm sóc sức khỏe cho bộ đội, nhân dân, góp phần vào thành tựu chung của ngành Quân y và nền y học nước nhà Trường phát triển không ngừng trở thành bệnh viện đa khoa, chuyên khoa sâu, tuyến cuối toàn quân, đạt hạng đặc biệt quốc gia, phục vụ chăm sóc lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước, Quân đội và các nước bạn Lào, Campuchia Ngoài ra, viện nghiên cứu khoa học y dược lâm sàng và đào tạo sau đại học của bệnh viện đã đạt trình độ tiến sĩ, góp phần nâng cao chất lượng y học và đào tạo nguồn nhân lực y tế chất lượng cao.
Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 sở hữu đội ngũ y bác sĩ và nhân viên y tế xuất sắc, được đào tạo chuyên sâu trong và ngoài nước Hiện nay, bệnh viện có gần 3.000 cán bộ nhân viên, trong đó trên 700 bác sĩ, dược sĩ, gồm 45 Giáo sư, Phó giáo sư, 150 Tiến sĩ, hơn 250 Thạc sĩ, cùng đội ngũ bác sĩ chuyên khoa cấp I, cấp II, và gần 1.500 điều dưỡng, kỹ thuật viên, đảm bảo cung cấp dịch vụ y tế chất lượng cao.
Việc triển khai thực hiện Quyết định của Thủ tướng về xây dựng và phát triển Bệnh viện lên tầm cao mới là trách nhiệm nặng nề và vinh dự của toàn thể cán bộ nhân viên bệnh viện Đây là bước tiếp nối quan trọng trong việc xây dựng thương hiệu khám chữa bệnh ưu việt của bệnh viện Với cơ cấu tổ chức mới, bệnh viện đã thành lập các Viện, Trung tâm và chuyên khoa sâu nhằm triển khai các kỹ thuật cao và kỹ thuật mới Các đơn vị này sẽ ứng dụng vào các ca bệnh khó, hiếm gặp như Viện điều trị các bệnh tiêu hóa, Viện chấn thương chỉnh hình Quân đội và Viện lâm sàng các bệnh truyền nhiễm.
Viện Tim Mạch Quân Đội, Viện Thần Kinh, Viện Phẫu Thuật Tiêu Hóa, Viện Ung Thư, Trung Tâm Hồi Sức Tích Cực, Trung Tâm Phẫu Thuật Sọ Mặt Và Tạo Hình, Trung Tâm Máy Gia Tốc (Cyclotron) Sản Xuất Các Dược Chất Phóng Xạ, Trung Tâm Chẩn Đoán Hình Ảnh, Trung Tâm Cyberknife và Trung Tâm Nghiên Cứu đều là những cơ sở y tế và nghiên cứu hàng đầu tại Việt Nam, góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và thúc đẩy nghiên cứu y học.
Y học Việt Đức along with Trung tâm Huấn luyện đào tạo và chỉ đạo tuyến, Trung tâm hỗ trợ sinh sản, và Trung tâm tư vấn di truyền và sàng lọc ung thư là những đơn vị hàng đầu trong lĩnh vực y tế tại Việt Nam Các trung tâm này cung cấp dịch vụ đa dạng như đào tạo y bác sĩ, hỗ trợ sinh sản, tư vấn về di truyền và sàng lọc ung thư, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cộng đồng Nhờ các hoạt động chuyên nghiệp và tiên tiến, hệ thống y học Việt Đức ngày càng khẳng định vị thế trong lĩnh vực y học hiện đại.
Khoa điều trị bệnh ống tiêu hóa gồm 17 cán bộ, nhân viên, trong đó có 7 bác sĩ và 10 điều dưỡng, đảm nhận khám bệnh, chẩn đoán, thu dung, điều trị các bệnh liên quan đến ống tiêu hóa Khoa thực hiện các kỹ thuật nội soi tiêu hóa, siêu âm nội soi và nội soi ổ bụng chẩn đoán cho bệnh nhân nội trú và ngoại trú Ngoài ra, khoa phối hợp với Bộ môn Nội tiêu hóa để đào tạo sau đại học, huấn luyện, chuyển giao kỹ thuật và bồi dưỡng các chuyên gia giỏi về lĩnh vực bệnh đường tiêu hóa Khoa còn tham gia thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học mới cấp cơ sở nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.
15 cấp Bộ và cấp nhà nước để góp phần nâng cao hiệu quả điều trị và chăm sóc người bệnh
2.1.2 Thực trạng chăm sóc người bệnh liệt nửa người do đột quỵ não tại khoa Y học cổ truyền Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 năm 2022
2.1.2.1 Đối tượng và phương pháp khảo sát
Đối tượng khảo sát gồm những bệnh nhân liệt nửa người do đột quỵ não, đang điều trị tại Khoa Y học cổ truyền của Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 trong khoảng thời gian từ tháng 5 đến tháng 6 năm 2022.
- Người bệnh được chẩn đoán liệt nửa người do đột quỵ não
- Người bệnh đồng ý tham gia nghiên cứu
- Người bệnh có khả năng nhận thức và trả lời câu hỏi Tiêu chuẩn loại trừ:
- Người bệnh đang trong tình trạng nguy kịch
- Người bệnh không đồng ý tham gia nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang
Trong nghiên cứu này, cỡ mẫu được lấy toàn bộ, bao gồm tất cả các bệnh nhân bị liệt nửa người do đột quỵ não điều trị tại Khoa Y học cổ truyền - Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 trong thời gian khảo sát Việc tuyển chọn toàn bộ mẫu nhằm đảm bảo tính đại diện và độ chính xác của kết quả nghiên cứu về hiệu quả điều trị và phục hồi chức năng cho bệnh nhân đột quỵ liệt nửa người Đây là phương pháp phù hợp để nghiên cứu các đặc điểm lâm sàng và đánh giá tác động của các phương pháp điều trị truyền thống trong bối cảnh thực tế của bệnh viện.
Phương pháp thu thập số liệu
Bộ công cụ thu thập số liệu gồm 3 phần chính giúp đảm bảo dữ liệu đầy đủ và chính xác Phần đầu tiên cung cấp thông tin chung về đối tượng nghiên cứu với 8 câu hỏi, giúp xác định các đặc điểm cơ bản của người tham gia Phần thứ hai tập trung vào đặc điểm lâm sàng của người bệnh, gồm 9 câu để ghi nhận các triệu chứng và trạng thái sức khỏe liên quan Phần thứ ba liên quan đến công tác chăm sóc người bệnh liệt nửa người sau đột quỵ não, gồm 13 câu nhằm đánh giá các hoạt động chăm sóc và hỗ trợ hàng ngày Các phần này phối hợp chặt chẽ nhằm thu thập dữ liệu toàn diện, hỗ trợ nghiên cứu và cải thiện công tác chăm sóc bệnh nhân đột quỵ hiệu quả.
Người thu thập số liệu sử dụng bộ câu hỏi để phỏng vấn trực tiếp người bệnh về các nội dung liên quan đến công tác chăm sóc người bệnh liệt nửa người do đột quỵ não Phương pháp này giúp thu thập dữ liệu chính xác, đánh giá tình trạng phục hồi và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chăm sóc sau đột quỵ Việc phỏng vấn trực tiếp cho phép xác định nhu cầu cần hỗ trợ và cải thiện chất lượng chăm sóc người bệnh liệt nửa người, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị và phục hồi chức năng.
* Thông tin chung về đối tượng khảo sát
Bảng 2.1: Đặc điểm nhóm tuổi, giới và nơi cư trú của người bệnh
Nội dung Số lượng (n) Tỉ lệ (%)
Nhận xét: Kết quả bảng 2.1 cho thấy: đa số người bệnh thuộc nhóm tuổi
Chiếm tỷ lệ cao nhất là 65 chiếm 62,5% tổng số ca bệnh Đặc biệt, phần lớn người bệnh là nam giới, chiếm tới 80%, trong khi nữ giới chiếm 20% Thêm vào đó, số lượng người bệnh sinh sống tại khu vực thành thị chiếm tỷ lệ lớn, lên đến 97,5%, còn ở khu vực nông thôn chỉ chiếm 2,5%.
Biểu đồ 2.1: Đặc điểm về trình độ học vấn của người bệnh
Nhận xét cho thấy, tỷ lệ người bệnh có trình độ học vấn đại học hoặc sau đại học chiếm cao nhất, đạt 47,5%, thể hiện mức độ trình độ học vấn cao trong nhóm này Ngược lại, người bệnh có trình độ học vấn trung học cơ sở chiếm tỷ lệ thấp nhất là 12,5%, cho thấy trình độ học vấn trung học cơ sở còn khá phổ biến trong cộng đồng Điều này cho thấy mối tương quan giữa trình độ học vấn và khả năng tiếp cận dịch vụ y tế, đồng thời phản ánh xu hướng phát triển kiến thức và nâng cao trình độ học vấn trong xã hội.
Biểu đồ 2.2: Đặc điểm về nghề nghiệp của người bệnh
Kết quả khảo sát cho thấy, tỷ lệ người bệnh đã nghỉ hưu chiếm đa số với 58,8%, phản ánh tình hình sức khỏe của nhóm này Trong khi đó, nhóm nông dân chiếm tỷ lệ khá thấp với 6,2%, còn viên chức chiếm 16,2%, và số người bệnh là công nhân chỉ chiếm 1,2% Các số liệu này giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cơ cấu nhóm người mắc bệnh trong cộng đồng, từ đó xây dựng các chiến lược chăm sóc và phòng ngừa phù hợp.
Nội dung Số lượng (n) Tỉ lệ (%)
Kết quả khảo sát về người chăm sóc cho thấy, đa số người được chăm sóc là con cái, chiếm tỷ lệ 42,5% Người giúp việc chiếm 25%, trong khi vợ hoặc chồng là người trực tiếp chăm sóc với tỷ lệ 23,8% Bố mẹ chỉ chiếm 3,8%, và có 2,5% người bệnh tự chăm sóc bản thân.
Viên chức Công nhân Nông dân Hưu trí Nội trợ Khác
* Đặc điểm lâm sàng của người bệnh liệt nửa người do đột quỵ não
Bảng 2.3: Loại tổn thương, vị trí liệt và điểm Glasgow của người bệnh
Nội dung Số lượng (n) Tỉ lệ (%)
Nhồi máu não là dạng tổn thương thường gặp nhất ở bệnh nhân đột quỵ, chiếm tới 90%, trong khi chảy máu não chỉ chiếm 10% Độ tuổi mắc bệnh chủ yếu là ở nhóm trung niên và người cao tuổi Bệnh nhân bị liệt bên trái chiếm tỷ lệ cao hơn so với bên phải (55% so với 45%), cho thấy sự ưu thế của tổn thương phía trái não Phần lớn bệnh nhân rơi vào mức độ liệt cấp 2 (78,8%), trong khi đó mức độ liệt cấp 1 chiếm 17,4%, cấp 3 là 3,8%, không có bệnh nhân nào thuộc cấp độ 4 hoặc 5 Hầu hết bệnh nhân có điểm Glasgow ≥ 13 điểm (82,5%), thể hiện mức độ tỉnh táo tốt, còn lại 17,5% có điểm Glasgow từ 9 đến 12 điểm, cho thấy mức độ ý thức suy giảm nhẹ đến trung bình.
19 Bảng 2.4: Thuốc điều trị và thời gian điều trị
Nội dung Số lượng (n) Tỉ lệ (%)
BÀN LUẬN
Thực trạng của vấn đề khảo sát
3.1.1 Đặc điểm của đối tượng khảo sát
Khảo sát được thực hiện trên 80 bệnh nhân liệt nửa người do đột quỵ não tại Khoa Y học cổ truyền – Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 nhằm mục đích đánh giá hiệu quả điều trị Kết quả khảo sát cho thấy mức độ phục hồi chức năng sau điều trị, phản ánh tình hình tiến triển của bệnh nhân Các dữ liệu thu thập giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hồi phục và đề xuất phương pháp điều trị phù hợp Nghiên cứu này góp phần nâng cao nhận thức về vai trò của y học cổ truyền trong phục hồi chức năng sau đột quỵ não.
Trong nghiên cứu, tuổi trung bình của bệnh nhân là 66,16 ± 11,7, trong đó đa số người bệnh thuộc nhóm tuổi trên 65 chiếm tới 62,5%, còn nhóm dưới 65 tuổi chỉ chiếm 37,5% Nhiều nghiên cứu trong nước cho thấy bệnh thường gặp ở người cao tuổi, đặc biệt là từ 60 tuổi trở lên Ví dụ, nghiên cứu của Hoàng Thị Yến Nhi (2010) cho thấy 74,8% bệnh nhân ở nhóm tuổi ≥ 60, trong khi nhóm dưới 60 chiếm 25,2% Đồng thời, nghiên cứu của Dương Đình Chỉnh và cộng sự (2011) cũng ghi nhận tỷ lệ đột quỵ tăng dần theo độ tuổi, với 77% bệnh nhân ở nhóm tuổi ≥ 60 và trung bình là 68,5 ± 12,6 tuổi.
Trong nghiên cứu về giới tính liên quan đến đột quỵ não, tỷ lệ nam giới chiếm đến 80% trong khi nữ giới chỉ chiếm khoảng 20%, điều này phù hợp với nhiều kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước, cho thấy nam giới có nguy cơ đột quỵ cao hơn nữ giới Theo bác sĩ Hoàng Thị Yến Nhi (2010), tỷ lệ nam giới mắc đột quỵ là 64,4% so với 35,6% ở nữ, còn theo các nghiên cứu của Cao Phi Phong và Trần Trung Thành (2013), tỷ lệ này gần bằng nhau, lần lượt là 50,6% và 49,4%, cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các nghiên cứu về giới tính liên quan đến đột quỵ.
Trong tổng số người bệnh, tỷ lệ sinh sống tại thành phố chiếm đến 97,5%, trong khi đó, tỷ lệ ở khu vực nông thôn chỉ đạt 2,5% Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Tấn Dũng (2012), cho thấy tỷ lệ người bệnh sống ở nông thôn rất thấp, chỉ khoảng 5,9%.
Trong số các bệnh nhân, tỷ lệ người có trình độ học vấn đại học trở lên cao nhất, chiếm 47,5%, trong khi đó, nhóm có trình độ trung học cơ sở chiếm tỷ lệ thấp nhất là 12,5% Kết quả này cho thấy sự khác biệt so với một số nghiên cứu trước đây, như của Đặng Thị Hân (2017), trong đó nhóm bệnh nhân có trình độ trung học cơ sở hoặc thấp hơn chiếm đến 41,9%.
Theo nghiên cứu của Cao Phi Phong và Trần Trung Thành (2013), có đến 69,8% người tham gia khảo sát có trình độ trung học cơ sở hoặc thấp hơn, trong khi chỉ có 19,3% đạt trình độ trung học phổ thông và 10,9% có trình độ đại học hoặc sau đại học Trong tổng số các cấp học được phân tích, 24% người có trình độ thông (36,4%), 16,6% trình độ trung cấp hoặc cao đẳng, còn lại là người có trình độ đại học hoặc sau đại học (5,1%) Những số liệu này phản ánh rõ rệt mức độ phân bố trình độ học vấn trong cộng đồng, góp phần cung cấp thông tin quan trọng cho các chiến lược phát triển giáo dục và chính sách xã hội.
Trong nghề nghiệp, tỷ lệ người bệnh hưu trí chiếm cao nhất với 58,8%, tiếp đến là viên chức chiếm 16,2%, nông dân chiếm 6,2%, và người bệnh là công nhân chiếm tỷ lệ thấp nhất với 1,2% Kết quả này có sự khác biệt so với nghiên cứu của tác giả Đặng Thị Hân (2017), trong đó người bệnh là nông dân chiếm tỷ lệ lớn nhất đạt 45,5%, còn người bệnh hưu trí chiếm 36,8%.
Có sự khác biệt này là do nghiên cứu của Đặng Thị Hân được thực hiện tại Nam Định, tỷ lệ người bệnh sống tại nông thôn khá cao (59,7%)
Kết quả khảo sát về người chăm sóc cho thấy, đa số là con cái chăm sóc (42,5%), tiếp đến là người giúp việc (25%) và vợ/chồng (23,8%) Bố/mẹ chỉ chiếm 3,8%, trong khi chỉ có 2,5% người bệnh tự chăm sóc bản thân Điều này phản ánh đặc điểm nhóm tuổi trên 65 của đối tượng nghiên cứu và phù hợp với văn hóa Việt Nam, nơi người cao tuổi thường phụ thuộc vào con cái hoặc người thân để có cuộc sống sinh hoạt hàng ngày.
Khảo sát về đặc điểm lâm sàng của người bệnh liệt nửa người do đột quỵ não cho thấy, nhồi máu não chiếm tỷ lệ lớn nhất với 90%, trong khi chảy máu não chỉ chiếm 10% Người bệnh liệt bên trái chiếm 55%, còn bên phải là 45% Theo Đặng Thị Hân (2017), tỷ lệ người bệnh liệt nửa người bên phải là 52,6% và bên trái là 47,4%.
Trong nghiên cứu năm 2012, tỷ lệ bệnh nhân liệt nửa người phải chiếm 55,4%, trong khi đó, bệnh nhân liệt nửa người trái chiếm 44,6% Trong tổng số 80 người tham gia, có 78,8% bệnh nhân ở mức độ liệt 2, 17,4% ở mức độ liệt 1, và 3,8% ở mức độ liệt 3, không có người nào bị liệt ở mức độ 4 và 5 Hầu hết các bệnh nhân đều có điểm Glasgow ≥, cho thấy mức độ ý thức trung bình đến tốt.
13 điểm chiếm 82,5%; Glasgow 9 – 12 điểm là 17,5%
Phương pháp điều trị liệt nửa người do đột quỵ não hiệu quả nhất là kết hợp đông y và tây y để đa dạng hóa phương pháp can thiệp Điều trị bao gồm sử dụng thuốc y học hiện đại kết hợp với thuốc y học cổ truyền nhằm tối ưu khả năng phục hồi chức năng Bên cạnh đó, các dịch vụ phục hồi chức năng như điện châm, điện xung, chiếu đèn hồng ngoại, tập vận động và xoa bóp toàn thân đóng vai trò quan trọng trong quá trình hồi phục Theo bảng 2.4, việc phối hợp các phương pháp này mang lại hiệu quả cao trong điều trị liệt nửa người do đột quỵ.
Trong điều trị bệnh này, 92,5% người bệnh sử dụng phương pháp kết hợp giữa Tây y và Đông y, cho thấy sự phổ biến của phương pháp đa dạng trong chăm sóc sức khỏe Thời gian điều trị tại viện lần mắc bệnh chủ yếu dưới một thời gian ngắn, phản ánh hiệu quả và sự nhanh chóng trong quá trình điều trị Việc kết hợp các phương pháp y học truyền thống và hiện đại giúp nâng cao khả năng điều trị và giảm thiểu các biến chứng cho bệnh nhân.
4 tuần chiếm 76,2%; 4 – 12 tuần là 21,2%; chỉ có 2,5% người bệnh điều trị >
Trong nghiên cứu về tiền sử bệnh nhân 12 tuần, có tới 75% người bệnh có tiền sử tăng huyết áp, trong đó các bệnh khác như tiểu đường chiếm 14 người, đột quỵ 12 người, mỡ máu 6 người, stress 2 người và tê bì chân tay 1 người Kết quả này cho thấy nhân viên y tế cần tăng cường công tác giáo dục sức khỏe để giúp người dân kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ cao gây đột quỵ như tăng huyết áp, tiểu đường và các bệnh tim mạch khác.
3.1.2 Thực trạng công tác chăm sóc người bệnh liệt nửa người do đột quỵ não
Người bệnh liệt nửa người do đột quỵ não có nguy cơ bị loét rất cao do nằm lâu, do đó việc chăm sóc dự phòng loét là rất quan trọng Trong nghiên cứu của tôi, tất cả người bệnh đều nhận được các biện pháp dự phòng, trong đó 100% người được thay đổi tư thế 2 giờ/lần để tránh áp lực lâu trên da, 83,3% giữ vệ sinh vùng tỳ đè để ngăn ngừa vi khuẩn gây viêm nhiễm, và 68,8% được xoa bóp vùng tỳ đè nhằm cải thiện tuần hoàn máu Tuy nhiên, chỉ có 37,5% người bệnh được sử dụng đệm hơi hoặc đệm nước để hỗ trợ giảm áp lực và phòng ngừa loét.
Vận động phục hồi chức năng cần được bắt đầu sớm ngay khi người bệnh có ý thức tỉnh, hô hấp bình thường và huyết áp ổn định để đạt hiệu quả tốt nhất Quá trình phục hồi vận động sau đột quỵ não phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của các di chứng, đặc biệt là tình trạng yếu liệt nửa người Đối với người bệnh bị liệt nửa người, mỗi ngày nên dành ít nhất 30 phút để giúp họ vận động nhằm phòng tránh cứng khớp, thông qua các động tác như thay đổi tư thế nằm nghiêng trái, nghiêng phải, nằm ngửa, gập khớp gối, nâng khớp đùi, gập khuỷu tay, xoay cổ chân, cổ tay Theo các số liệu nghiên cứu, mọi người bệnh đều được chăm sóc vận động, với tỷ lệ 100% thực hiện tập các khớp chi trên và chi dưới, 92,5% tập ngồi, và 86,2% duy trì tư thế nằm đúng trên giường.
Đề xuất một số giải pháp nâng cao công tác chăm sóc người bệnh liệt nửa người do đột quỵ não tại Khoa Y học cổ truyền – Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
3.2.1 Ưu điểm và nhược điểm, tồn tại hạn chế
Công tác chăm sóc người bệnh luôn nhận được sự quan tâm và chỉ đạo chặt chẽ từ Ban giám đốc Bệnh viện, các phòng chức năng, trưởng các khoa phẫu thuật cùng toàn thể nhân viên y tế Nhờ vậy, chất lượng chăm sóc người bệnh ngày càng được nâng cao, đảm bảo an toàn và sự hài lòng cho bệnh nhân Đội ngũ y bác sĩ và nhân viên bệnh viện phối hợp hiệu quả để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người bệnh, góp phần thúc đẩy uy tín và hiệu quả công tác chăm sóc tại bệnh viện.
Bệnh viện sở hữu cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế hiện đại, đáp ứng đầy đủ nhu cầu điều trị của người bệnh Đội ngũ nhân viên y tế gồm bác sĩ, điều dưỡng và kỹ thuật viên thường xuyên được đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn và tinh thần phục vụ Đặc biệt, các điều dưỡng chủ động trong công tác chăm sóc, tư vấn và hướng dẫn người bệnh về chế độ dinh dưỡng, vận động và vệ sinh, đồng thời thực hiện đúng các y lệnh của bác sĩ Các điều dưỡng đã áp dụng hiệu quả Thông tư 07/2011/TT-BYT về hướng dẫn công tác điều dưỡng trong phòng bệnh viện Họ luôn tận tình quan tâm, lắng nghe và tiếp thu ý kiến của người bệnh và gia đình, góp phần nâng cao trải nghiệm chăm sóc sức khỏe.
* Nhược điểm, tồn tại hạn chế:
Hiện nay, số lượng bệnh nhân đông và có nhiều người bệnh nặng, gây áp lực lớn đối với hệ thống y tế Trong khi đó, nguồn nhân lực y tế hạn chế, phải phục vụ nhiều đối tượng khác nhau, dẫn đến công tác chăm sóc và điều trị người bệnh gặp nhiều khó khăn.
Đội ngũ điều dưỡng hiện vẫn chưa đồng đều về trình độ chuyên môn, một số điều dưỡng chưa phát huy tối đa khả năng của mình Sự chủ động trong công việc còn hạn chế, chủ yếu phụ thuộc vào sự phân công của điều dưỡng trưởng và y lệnh của bác sĩ, ảnh hưởng đến hiệu quả chăm sóc và điều trị bệnh nhân.
Các lớp tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ điều dưỡng còn hạn chế về số buổi và nội dung
Vật tư trang thiết bị cho công tác chăm sóc người bệnh chưa đáp ứng đầy đủ ở một số thời điểm người bệnh đông
Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 là bệnh viện tuyến trung ương có lượng bệnh nhân đông đảo, trong đó nhiều người mắc các bệnh nặng, dẫn đến tình trạng thiếu nhân lực chăm sóc người bệnh Đội ngũ điều dưỡng tại bệnh viện chủ yếu còn trẻ và thiếu kinh nghiệm trong công tác chăm sóc bệnh nhân liệt nửa người do đột quỵ não, ảnh hưởng đến chất lượng điều trị và phục hồi cho bệnh nhân.
Sự phối hợp giữa bác sĩ, điều dưỡng và kỹ thuật viên trong công tác chăm sóc người bệnh còn chưa thực hiện thường xuyên
Hiểu biết của người bệnh và người nhà về cách chăm sóc người bị đột quỵ não còn hạn chế, do đó cần cung cấp kiến thức đầy đủ để phòng ngừa biến chứng Việc trang bị kiến thức chăm sóc phù hợp giúp giảm nguy cơ biến chứng nặng và nâng cao hiệu quả điều trị sau đột quỵ não Đào tạo chăm sóc người bệnh đột quỵ não là cần thiết để người nhà có thể hỗ trợ tốt nhất, đảm bảo an toàn và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.
3.2.2 Đề xuất giải pháp nâng cao công tác chăm sóc người bệnh liệt nửa người do đột quỵ não
* Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
- Bổ sung thêm nhân lực nhằm giảm tải công việc cho nhân viên y tế để chăm sóc phòng bệnh cho người bệnh được đầy đủ hơn thường xuyên hơn
Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của hội đồng chuyên môn đối với việc tuân thủ quy trình, quy định và phác đồ chăm sóc người bệnh giúp đảm bảo chất lượng dịch vụ y tế Việc này cũng góp phần nâng cao trách nhiệm và năng lực của nhân viên y tế trong công tác khám chữa bệnh Tăng cường công tác kiểm tra sẽ giúp phát hiện và xử lý kịp thời những vi phạm, nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe người bệnh Đây là một yếu tố quan trọng để đảm bảo an toàn, chất lượng dịch vụ y tế và nâng cao uy tín của cơ sở y tế trong cộng đồng.
- Ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện quản lý người bệnh đột quỵ não có thể khám điều trị thường xuyên hơn
Tổ chức hội thảo nhóm giữa nhân viên y tế và người bệnh, người nhà nhằm lắng nghe ý kiến, tâm tư và nguyện vọng của người bệnh về phòng tránh và chăm sóc đột quỵ não Qua các buổi thảo luận nhóm, người bệnh sẽ được hướng dẫn và thực hành các kỹ năng tự chăm sóc sức khỏe, giúp nâng cao kiến thức và khả năng kiểm soát tình trạng bệnh Hoạt động này góp phần tăng cường truyền thông y tế, nâng cao nhận thức cộng đồng về đột quỵ não và thúc đẩy sự phối hợp hiệu quả giữa nhân viên y tế và người bệnh trong quá trình điều trị và phòng ngừa.
Việc thành lập đội chăm sóc khách hàng tại bệnh viện là rất cần thiết để nâng cao trải nghiệm người bệnh Mỗi khóa điều trị nên xây dựng thành một tổ chăm sóc khách hàng riêng biệt nhằm đảm bảo sự tận tâm và chuyên nghiệp trong phục vụ Nhờ đó, bệnh viện có thể triển khai hiệu quả chương trình quản lý bệnh đột quỵ, nâng cao tỷ lệ cứu sống và giảm thiểu biến chứng cho bệnh nhân.
- Tích cực tham gia các khóa đào tạo về chuyên môn, kỹ năng giao tiếp của bệnh viện cũng như ngoài bệnh viện tổ chức
Chủ động cập nhật kiến thức và thực hành về chăm sóc người bệnh đột quỵ não là yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng điều trị Việc thường xuyên trao đổi kiến thức giữa các điều dưỡng và bác sĩ giúp đảm bảo sự thống nhất trong phương pháp chăm sóc và thực hành đúng chuẩn Điều này góp phần tối ưu hiệu quả phục hồi cho bệnh nhân đột quỵ não và nâng cao năng lực chuyên môn của nhân viên y tế.
- Chủ động, sáng tạo trong xây dựng các quy trình chăm sóc người bệnh liệt nửa người do đột quỵ não phù hợp với từng người bệnh
- Vận dụng các ứng dụng của khoa học kỹ thuật vào công tác chăm sóc người bệnh từ đó nâng cao được chất lượng chăm sóc người bệnh
* Đối với người bệnh và gia đình
- Chủ động tìm hiểu những kiến thức về chăm sóc người bệnh liệt nửa
Có tới 30 người bị đột quỵ não do cán bộ y tế không nhận biết hoặc xử lý kịp thời, gây nguy hiểm đến tính mạng và sức khỏe Các phương tiện truyền thông như vô tuyến, sách và Internet đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp kiến thức về dấu hiệu nhận biết và xử lý đột quỵ Việc cập nhật kiến thức đúng đắn giúp cộng đồng chủ động phòng ngừa các biến chứng nghiêm trọng do đột quỵ não gây ra Đào tạo y tế và tuyên truyền rộng rãi góp phần nâng cao ý thức của người dân trong việc xử lý tình huống khẩn cấp liên quan đến đột quỵ.