1. Trang chủ
  2. » Tất cả

MỘT SỐ TRAO ĐỔI VỀ NỘI DUNG

9 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Trao Đổi Về Nội Dung Hướng Dẫn Khóa Luận Tốt Nghiệp
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại Bài viết hướng dẫn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 187,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỘT SỐ TRAO ĐỔI VỀ NỘI DUNG 1 MỘT SỐ TRAO ĐỔI VỀ NỘI DUNG HƯỚNG DẪN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Lê Thị Thanh Trong quá trình hướng dẫn viết và đánh giá bài khóa luận tốt nghiệp trong đại học hiện nay chắc ch[.]

Trang 1

MỘT SỐ TRAO ĐỔI VỀ NỘI DUNG HƯỚNG DẪN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Lê Thị Thanh

Trong quá trình hướng dẫn viết và đánh giá bài khóa luận tốt nghiệp trong đại học hiện nay chắc chắn còn những vấn đề mà chúng ta còn băn khoăn Tác giả bài viết này mạnh dạn đưa ra một số trao đổi với các giảng viên đại học nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và hi vọng đem đến những kinh nghiệm tốt cho các thầy

cô giáo trẻ và các em sinh viên

Quy trình học gồm các bước: hiểu, thuộc, vận dụng và sáng tạo Nhờ đó khi đi làm sinh viên bắt nhịp nhanh với công việc được giao và không những thế sau đó còn sáng tạo làm cho công việc được cải tiến tốt hơn Muốn vậy, khi ngồi trên ghế nhà trường, sinh viên đã được trang bị phương pháp và rèn khả năng (kỹ năng) phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề Việc rèn luyện này được thể hiện nhiều nhất trong các bài nghiên cứu khoa học từ tiểu luận, thu hoạch thực tập, khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, đến các bài dự thi nghiên cứu khoa học của sinh viên Phát hiện vấn đề được thể hiện trong việc lựa chọn đề tài, còn đề cương thể hiện hướng giải quyết vấn đề và bài viết thể hiện cách giải quyết

Bài viết tập trung vào loại hình khóa luận tốt nghiệp nhưng cũng có thể áp dụng cho các hình thức nghiên cứu khác Có 6 nội dung mà tác giả muốn trao đổi như sau:

1 Tìm hiểu các ý của đề tài (phân tích đề tài)

Việc tìm hiểu tốt các ý của đề tài giúp các em tránh bị lạc đề hoặc tránh được việc trình bày thiếu, thừa nội dung; đồng thời còn giúp các em có kinh nghiệm trong việc tự mình xây dựng đề tài Mỗi đề tài bao gồm ba ý:

- Mục đích nghiên cứu của đề tài: thường các đề tài đều có mục đích chung là

đưa ra các giải pháp trong thời gian tới, nhằm giải quyết vấn đề thực tế tồn tại, yếu kém đang đặt ra trong hoạt động kinh doanh hoặc trong quản lý vĩ mô Đề tài cũng có thể đặt ra mục đích nghiên cứu cơ bản, có ý nghĩa khoa học, nhưng hiện nay ít áp dụng đối với sinh viên đại học Đối với hoạt động kinh doanh mục đích là phát triển

Trang 2

hoặc nâng cao hiệu quả, đối với quản lý vĩ mô nhằm hoàn thiện pháp luật và chính sách của nhà nước

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài trả lời cho câu hỏi nghiên cứu cái gì: là lĩnh

vực khoa học sinh viên lựa chọn, ví dụ về thanh toán quốc tế, tỉ giá, lãi suất

- Phạm vi nghiên cứu chỉ rõ giới hạn về mặt không gian và thời gian:

Có 3 cấp độ về phạm vi không gian (gọi tắt là phạm vi) là phạm vi một doanh nghiệp, một quốc gia và phạm vi quốc tế, khu vực

Thời gian nghiên cứu thực trạng (tình hình thực tế): do giải pháp đề ra trong một vài năm tới nên thời gian nghiên cứu thực trạng thường khoảng ba đến năm năm trước thời điểm nộp khóa luận Phạm vi thời gian nghiên cứu quá khứ và tương lai thường tương xứng với nhau

Trên bìa khóa luận, không chỉ ghi năm hoàn thành mà nên ghi cả tháng, vì đầu năm và cuối năm tình hình đã có những thay đổi làm thay đổi giải pháp đề xuất Qua

đó nhắc nhở sinh viên phải cập nhật đúng với yêu cầu của đề tài Với phạm vi quốc gia thì số liệu cập nhật đến 6 tháng đầu năm hoặc cả năm, với phạm vi doanh nghiệp thì số liệu cập nhật đến quý, 6 tháng, 9 tháng hoặc cả năm tính tới thời điểm nộp khóa luận

Nếu cần có thể giới hạn quy mô của vấn đề nghiên cứu, khi đối tượng hoặc phạm vi nghiên cứu quá rộng, hoặc gặp khó khăn về số liệu

Đề tài này khác đề tài kia ở đối tượng và phạm vi nghiên cứu khác nhau, có thể khác cả hai, có thể chỉ khác đối tượng hoặc phạm vi, cho nên đề tài nào cũng phải viết đầy đủ đối tượng và phạm vi Thời gian nghiên cứu của các đề tài đều giống nhau, nên để ngắn gọn trong tên đề tài không cần phải có giới hạn thời gian Mục tiêu đưa ra giải pháp là giống nhau nhưng là từ quan trọng nên không thể không ghi Ví

dụ đề tài: Chính sách tỷ giá của VN- Thực trạng và giải pháp hoàn thiện

2 Lựa chọn đề tài

Các cấp độ sinh viên tập dượt nghiên cứu từ thấp đến cao: tiểu luận, thu hoạch thực tập, khóa luận, luận văn, luận án (gọi chung là luận văn khoa học) có các yêu cầu khác nhau về quy mô nghiên cứu và gắn với nó là số trang tương ứng Số trang tối thiểu tối đa được quy định theo từng thể loại càng cấp độ cao số trang càng nhiều

Trang 3

hơn Số trang và tên đề tài phải tương thích với nhau Vì vậy tránh đề tài rộng quá, hẹp quá dẫn đến giải quyết được đề tài thì vi phạm số trang Càng cấp độ nghiên cứu cao thì đối tượng và phạm vi càng rộng hơn Thu hoạch thực tập thường viết về phạm

vi một doanh nghiệp; còn khóa luận viết về phạm vi quốc gia hoặc về doanh nghiệp như các tổng công ty, tập đoàn, ngân hàng có quy mô tương đối lớn Ví dụ về đối tượng nghiên cứu là thanh toán quốc tế nói chung hoặc thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ, không nên chọn thanh toán bằng chuyển tiền vì vấn đề này không lớn và không phức tạp

Lựa chọn tên đề tài như thế nào thể hiện khả năng phát hiện vấn đề của sinh viên Vì vậy các em thường được khuyến khích viết về những vấn đề mới và hoặc có tính thời sự Những em này còn được đánh giá cao vì phải sáng tạo nhiều hơn trong quá trình viết do không có sẵn các bài khóa luận cũ

Sinh viên có được chọn đề tài đã được viết trước đó? Hàng năm số lượng sinh viên viết khóa luận rất đông nên việc này khó tránh được Sau 2-3 năm tình hình doanh nghiệp và nền kinh tế thường đã có sự thay đổi nhiều nên có thể chọn lại đề tài nghiên cứu trước đó Nếu sau một năm mà có nhiều sự chuyển biến lớn thì ngay năm sau có thể lặp lại đề tài Vì lúc này đòi hỏi sinh viên phải đánh giá tình hình và đưa ra giải pháp có sự khác biệt tương đối so với khóa trước Hơn nữa với trình độ đại học chưa cần phải đưa ra những đóng góp mới về lý luận hay thực tiễn nên có thể kế thừa nhiều hơn của những người đi trước Trong cùng một kỳ tốt nghiệp mới không nên trùng đề tài nhau, trừ khi vấn đề đó rất thời sự hoặc quan trọng thì có thể cho phép vài

em

3) Lời mở đầu, mục lục, kết luận, tài liệu tham khảo

a) Lời mở đầu (lời nói đầu) gồm có 3 nhóm vấn đề cần làm rõ Nhóm đầu nói

về sự cần thiết, ý nghĩa của đề tài từ đó dẫn đến lựa chọn đề tài Nhóm hai làm rõ đề tài về sự lựa chọn mục đích, phạm vi, đối tượng và mốc thời gian nghiên cứu nhằm khẳng định, giới hạn vấn đề cho người đọc và có tác dụng cho người viết nắm rõ vấn

đề, tránh lạc đề Nhóm ba đưa ra phương pháp nghiên cứu và kết cấu bài viết (gồm tên các chương trình và cách bố cục) nhằm đạt được mục đích nghiên cứu đã đề ra ở trên

Trang 4

Đoạn cuối cùng là lời cảm ơn những người giúp mình hoàn thành bài viết Nếu có mong thầy cô tha thứ cho những sai sót thì không nên đưa lý do thời gian có hạn vì Bộ giáo dục và nhà trường đã đưa ra các quy định về thời gian viết cũng như giới hạn của đề tài ở mức hợp lí Các em không cần có câu “Mong được các thầy cô, bạn đọc góp ý” Tính chất của bài tập dượt nghiên cứu này khác về bản chất với so với các bài báo, các sách Báo chí là diễn đàn của các nhà nghiên cứu, sách còn tiếp tục tái bản; vì vậy việc góp ý là rất cần và góp ý không phải là cho điểm như khóa luận Nếu có viết thì viết trong bài trình bày khi bảo vệ

b) Mục lục: Mục lục đặt trước lời mở đầu hay ngược lại thì hợp lí hơn? Theo

tôi thì lời mở đầu đặt trước vì theo quá trình tư duy người viết cũng như người đọc phải nắm được nội dung trong lời mở đầu rồi mới có thể viết và hiểu được mục lục, nhất là đối với sinh viên lần đầu tập nghiên cứu Về tên gọi cũng nói lên điều này: chữ “mở đầu” hay nói đầu có nghĩa là trước tiên và ý cuối cùng trong lời mở đầu là kết cấu với tên các chương (thể hiện hướng nghiên cứu chính), nếu mục lục có trước thì đã biết được tên các chương không cần nói lại nữa Trước đây kể cả sách, mục lục còn được đăt ở cuối, nhưng vì bất tiện nên nay rất ít người dùng

c) Kết luận: là kết quả của nghiên cứu lý luận, khẳng định những vấn đề được

tác giả rút ra sau một quá trình nghiên cứu Vì vậy sự cần thiết nghiên cứu đề tài hay tại sao lựa chọn đề tài này không cần được đưa vào đoạn mở đầu của kết luận nữa

d) Tài liệu tham khảo: Để được đánh giá cao, phải có phong phú, đầy đủ các

thể loại chính là sách giáo trình, sách tham khảo, các bài viết trên báo tạp chí, các văn bản pháp luật chính sách của nhà nước, tài liệu nội bộ của doanh nghiệp (nếu phạm vi nghiên cứu là doanh nghiệp) Ngoài ra khuyến khích các em tham khảo thêm các tài liệu khác như tài liệu hội thảo, các chiến lược, kế hoạch phát triển của nhà nước, các

khóa luận, luận văn, công trình nghiên cứu khoa học cấp bộ, ngành, nhà nước

4 Một số trao đổi về nội dung, bố cục và đề cương

- Nội dung được xuất phát từ mục đích nghiên cứu Mục đích là đưa ra giải

pháp nhằm phát huy hay hoàn thiện một vấn đề thực tế đặt ra Nếu là bài viết cho điểm của sinh viên thì giải pháp đưa ra phải thuyết phục thầy cô Nếu là bài viết của các nhà nghiên cứu thì phải thuyết phục được các đồng nghiệp hoặc hội đồng nghiệm

Trang 5

thu đề tài Vậy giải pháp phải dựa trên cơ sở khoa học nào và lần lượt theo trình tự quan trọng như thế nào? Tác giả xin được đề xuất như sau: thứ nhất là lí luận khoa học, thứ hai là thực tiễn của đối tượng, phạm vi nghiên cứu đó, thứ ba là bối cảnh (triển vọng) kinh tế xã hội trong nước, quốc tế trong thời gian tới (phương pháp nghiên cứu động) thứ tư là kinh nghiệm của các quốc gia khác (phạm vi nghiên cứu quốc gia), của các doanh nghiệp khác có điều kiện tương tự (phạm vi doanh nghiệp)

- Nguyên tắc bố cục một bài viết: cái viết trước phục vụ cái viết sau hay nói cách khác cái viết sau dựa trên cơ sở cái viết trước Cách bố cục cơ bản nhất của

khóa luận tốt nghiệp là chia làm ba chương và với những nội dung chính là: chương 1

về lý luận, chương 2 về tình hình hay thực trạng, chương 3 về giải pháp Cách này được xuất phát từ cơ sở khoa học đưa ra giải pháp nêu ô trên và trình tự sắp xếp chúng

Lý luận là một cơ sở khoa học quan trọng, phức tạp cần phải trình bày vài chục trang, cho nên viết thành một chương Thực trạng cũng là vấn đề quan trọng, phức tạp phải trình bày vài chục trang, cho nên cũng cần viết thành một chương Lý luận là cơ sở phân tích thực tiễn nên viết đầu tiên ở chương 1 Giải pháp là mục tiêu nghiên cứu của đề tài nên cần phải làm nổi bật và cũng được viết thành một chương

và phải dựa vào các cơ sở trên nên bố cục ở chương 3 Bối cảnh kinh tế xã hội trọng tâm vào hai khía cạnh thuận lợi, khó khăn để thấy tác động tích cực hay hạn chế đến tương lai mà đưa ra giải pháp phù hợp Số trang cần viết không nhiều nên không cần viết thành một chương mà ghép vào chương 3 và để ở đầu chương Chương 2 và chương 3 khác nhau không chỉ về nội dung mà còn về thời gian; chương 2 gắn với thực tế đã qua, chương 3 là giải pháp trong thời gian tới

Cứ nguyên tắc bố cục như vậy thì một số đề tài đặc biệt có thể viết 2 hoặc 4 chương, không nhất thiết cứ phải 3 chương

Mục kinh nghiệm tham khảo từ các nước hoặc các doanh nghiệp khác thường được khái quát trong vài trang nên không cần đưa thành một chương Có người bố trí

ở cuối chương 1, người bố trí ở cuối chương 2, hoặc đầu chương 3 Theo quan điểm của tác giả Nếu xuất phát từ nguyên tắc bố cục thì mục kinh nghiệm nên để cuối chương 1 vì nó cũng là một cơ sở khoa học trong việc đánh giá thực tiễn vì vậynó

Trang 6

phải được viết trước thực tiễn, không nên để ở đầu chương 2 vì những kinh nghiệm này như là sự bổ sung cho lý luận

- Nguyên tắc phải tuân thủ khi xây dựng đề cương là: Tên các chương phải giải quyết yêu cầu của đề tài, tên các mục lớn trong chương giải quyết yêu cầu của chương, tên các mục nhỏ giải quyết yêu cầu của mục lớn Nội dung viết đủ giải quyết yêu cầu của mục nhỏ Nguyên tắc này giúp ta tránh được mục và nội dung viết thừa hoặc thiếu, nhất là các mục trong chương 1 Thực tế vẫn xảy ra, nguyên nhân do tác giả không xác định được mục đích, yêu cầu của từng mục nghiên cứu kể cả tên đề tài

5 Phân biệt một số thuật ngữ hay dùng

- Giải pháp, biện pháp, kiến nghị, đề xuất

Trước hết phân biệt giải pháp và biện pháp Giống nhau là đều đưa ra phương pháp hay cách thức để giải quyết vấn đề đang đặt ra, người đưa ra là tác giả của bài viết (kể cả bài báo, công trình nghiên cứu khoa học các cấp ), người có trách nhiệm thực hiện hay giải quyết là các doanh nghiệp, nhà nước, bộ ngành liên quan (sinh viên

và các nhà khoa học không có quyền và trách nhiệm giải quyết) Vậy khác nhau ở chỗ nào?

Giải pháp là phương pháp giải quyết vấn đề đang đặt ra, có tính khái quát

chung Để giải pháp có khả năng áp dụng khi thực hiện thì người ta chi tiết thành các biện pháp cụ thể và hay gọi tắt là biện pháp

Kiến nghị, đề xuất cái gì, nói đầy đủ là kiến nghị hay đề xuất các giải pháp, biện pháp cho người có quyền lợi và trách nhiệm giải quyết, đó là doanh nghiệp, nhà nước Tác giả các luận văn khoa học kể cả các công trình nghiên cứu khoa học các

cấp của các nhà khoa học luôn đứng ở góc độ người đề xuất kiến nghị nên để cho ngắn gọn tên đề tài có thể bỏ qua cụm từ này mà chỉ viết cụm từ giải pháp Để ngắn gọn tên đề tài và tên chương 3 chỉ dùng từ giải pháp

Ví dụ hàng năm DN lập Báo cáo Tổng kết năm qua và phương hướng năm tới Trong báo cáo này DN là tác giả vừa là người thực hiện những giải pháp do mình đề xuất, những giải pháp tầm vĩ mô hoặc do đối tác thì DN không thể thực hiện được Vì vậy vừa có mục giải pháp vừa có mục kiến nghị

Trang 7

- Định hướng, phương hướng : Dựa trên 4 cơ sở khoa học ở trên tác giả đưa ra

hướng chính cần làm để đạt được mục tiêu đề ra, có tác dụng chỉ ra hướng đến cho các giải pháp sẽ đưa ra sau đó

- Chính sách và pháp luật: Là 2 khái niệm giao nhau Phần giống nhau là phần

chính sách nằm trong các văn bản pháp luật,ví dụ chính sách ưu đãi về thuế nằm trong các luật thuế Phần khác nhau là phần luật mang tính chất của người trọng tài và phần chính sách mang tính chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của ngành hoặc quốc gia

- Kinh nghiệm của các nước (của các doanh nghiệp) khác và kinh nghiệm của các nước (doanh nghiệp) khác cho Việt Nam( cho doanh nghiệp X)

Kinh nghiệm của các nước, các DN khác được áp dụng cho tất cả các nước, các

DN chứ không phải chỉ cho riêng VN, DN X nên mới để ở cuối chương 1 Kinh nghiệm cho VN, DN X còn phải dựa trên cơ sở thực tế của VN, DN X nữa nên không để thành mục riêng mà lồng vào khi phân tích các giải pháp ở chương 3

-Bảng, biểu đồ, số liệu, sơ đồ và hình vẽ

Nếu số liệu nhiều nên đưa vào bảng cho dễ phân tích Nếu được thì từ bảng các số liệu được biểu diễn dưới dạng biểu đồ (hình cột, hình quạt) và hình vẽ

6 Đánh giá

Một Khóa luạn tốt nghiệp được đánh giá tốt, không chỉ có giá trị khoa học, thực tiễn mà còn phải có bố cục hợp lý, trình bày đẹp, đúng quy định Bởi vì điều đó cũng thể hiện tác giả có biết cách nghiên cứu, có tư duy lô gic và có thái độ nghiên cứu tích cực

Năm cuối sinh viên thường chọn môn học, đề tài tốt nghiệp liên quan đến khả năng xin việc làm Vì vậy nếu các em sẵn sàng chấp nhận khó khăn nhận những đề tài không liên quan nhiều đến lĩnh vực được đào tạo thì cũng nên đánh giá cao, điều đó chứng tỏ các em có khả năng tự nghiên cứu rất tốt

Trang 8

Tài liệu tham khảo

1 Hoàng Văn Châu (2005),” Làm thế nào để viết tốt một luận văn khoa học” http://www.ftu.edu.vn

2 Vũ Cao Đàm (2002), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Khoa

học và kỹ thuật, Hà Nội

Ngày đăng: 04/01/2023, 10:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w