1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Quản lý dịch vụ ví điện tử

13 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản lý Dịch vụ Ví Điện Tử
Trường học Trường Đại Học Ngân Hàng TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản lý dịch vụ ví điện tử
Thể loại Báo cáo chuyên đề
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 323,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về cơ sở pháp lý Dịch vụ Ví điện tử là dịch vụ cung cấp cho khách hàn g một tài kho ản điện tử định danh do các t ổ chức cung ứng dịch vụ TGTT lập trên vật mang tin như chíp điện tử, s

Trang 1

Quản lý dịch vụ ví điện tử

Luật Ngân hàng Nhà nư ớc (NHNN) năm 2010 đã đ ịnh nghĩa dịch vụ trung gian thanh toán (TGTT) là ho ạt động làm trung gian k ết nối, truyền dẫn và xử lý dữ liệu điện tử các giao d ịch thanh toán gi ữa tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và ngư ời sử dụng dịch vụ thanh toán (khoản 10 Điều 6) Hi ện nay, ho ạt động cung ứng dịch vụ TGTT đư ợc thực hiện theo quy định tại Nghị định số 101/2012/NĐ-CP (đã đư ợc sửa đổi, bổ sung), Thông tư số 39/2014/TT-NHNN (đã được sửa đổi, bổ sung) và m ột số văn bản liên quan khác Theo đó, hi ện có 06 lo ại hình dịch vụ TGTT được NHNN cấp phép, trong đó có d ịch vụ Ví điện tử

1 Hoạt động cung ứng dịch vụ Ví điện tử

1.1 Về cơ sở pháp lý

Dịch vụ Ví điện tử là dịch vụ cung cấp cho khách hàn g một tài kho ản điện

tử định danh do các t ổ chức cung ứng dịch vụ TGTT lập trên vật mang tin (như chíp điện tử, sim điện thoại di động, máy tính…), cho phép lưu gi ữ một giá trị tiền tệ được đảm bảo bằng giá trị tiền gửi tương đương v ới số tiền được chuyển từ tài khoản thanh toán c ủa khách hàng t ại ngân hàng vào tài khoản đảm bảo thanh toán (TKĐBTT) c ủa tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử theo tỷ lệ 1:1

Theo các quy định quản lý hiện hành, tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử không được: (i) Phát hành hơn một Ví điện tử cho một tài khoản thanh toán của khách hàng t ại một ngân hàng; (ii) C ấp tín dụng cho khách hàng s ử dụng Ví điện tử, trả lãi trên số dư Ví điện tử hoặc bất kỳ hành đ ộng nào có thể làm tăng giá trị tiền tệ trên Ví điện tử Tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử phải có công cụ để NHNN kiểm tra, giám sát theo thời gian thực tổng số tiền của khách hàng trên các Ví đi ện tử và tổng số tiền trên

TKĐBTT của tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử tại các ngân hàng Việc nạp tiền vào Ví đi ện tử, rút tiền ra khỏi Ví đi ện tử của khách hàng ph ải thực hiện thông qua tài kho ản thanh toán c ủa khách hàng t ại ngân hàng

1.2 Về tình hình hoạt động cung ứng dịch vụ Ví điện tử

Trang 2

Hơn 10 năm trước, dịch vụ Ví điện tử đã được NHNN bắt đầu cho phép triển khai thí điểm Kể từ khi Thông tư số 39/2014/TT-NHNN có hiệu lực (ngày 01/3/2015) đến 30/6/2019, NHNN đã ti ếp nhận Hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT của 82 tổ chức và đã thực hiện cấp giấy phép cho 31 t ổ chức, trong đó có 27 t ổ chức cung ứng dịch

vụ Ví điện tử Đến cuối Quý I/2019, có 25/27 t ổ chức đư ợc cấp giấy phép

đã triển khai cung ứng 10,5 triệu Ví điện tử ra thị trường với tổng số dư khoảng 1.258,17 t ỷ đồng Trong quý I/2019, t ổng số lượng giao dịch bằng

Ví điện tử đạt gần 77.454 nghìn giao dịch với tổng giá trị giao dịch đạt gần 29,5 nghìn tỷ đồng (tăng 55,5% về số lượng và tăng 77,7% v ề giá trị so với cùng kỳ năm 2018), bình quân kho ảng 380.864 đ ồng/giao d ịch; số

lượng giao dịch bình quân của 01 Ví điện tử là khoảng 2,54 giao

dịch/tháng, giá tr ị giao d ịch bình quân c ủa 01 Ví điện tử là khoảng hơn 966.000 đồng/tháng

Trong thời gian qua, d ịch vụ Ví điện tử đã đạt đư ợc những kết quả nhất định, khẳng định được những ưu điểm về tính năng, sự tiện lợi, an toàn, nhanh chóng v ới chi phí h ợp lý Nhìn chung, d ịch vụ Ví điện tử được khách hàng đánh giá cao, bư ớc đầu khẳng định đư ợc lòng tin đối với khách hàng

và ngày càng nhận được sự quan tâm t ừ các ngân hàng và đơn v ị cung ứng dịch vụ, hàng hóa

1.3 Một số khó khăn, hạn chế và nguyên nhân

Trang 3

Trong quá trình tri ển khai cung ứng dịch vụ Ví điện tử thời gian qua cũng

có những khó khăn, h ạn chế, do một số nguyên nhân, như sau:

Một là, một số quy định pháp lý hiện hành c ần được quy định rõ hơn và có hướng dẫn cụ thể hơn:

Cơ sở pháp lý hiện hành về hoạt động cung ứng dịch vụ Ví điện tử còn mang tính t ổng quan, chưa quy đ ịnh và hư ớng dẫn cụ thể; các quy đ ịnh mới tập trung ch ủ yếu vào đi ều kiện, hồ sơ, quy trình, th ủ tục cấp giấy phép, định nghĩa dịch vụ Ví điện tử, TKĐBTT cho dịch vụ Ví điện tử, quyền và trách nhiệm của các bên liên quan D ịch vụ Ví điện tử ở Việt Nam v ẫn đang trong giai đoạn khởi đầu, thu hút nhiều sự quan tâm của cộng đồng công nghệ thông tin và s ự tham gia c ủa các doanh nghi ệp khởi nghiệp trong nước Do đó, việc hoàn thiện hành lang pháp lý, cơ chế quản lý, thanh tra, kiểm tra, giám sát, x ử lý cấp phép vẫn còn là một thách th ức, khó khăn đ ối với Việt Nam

Theo quy định hiện hành, tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử phải tuân thủ các quy định của pháp lu ật về phòng, ch ống rửa tiền; tuy nhiên, hi ện nay đối tượng báo cáo quy định tại Luật Phòng, chống rửa tiền không bao gồm tổ chức cung ứng dịch vụ TGTT, nên các t ổ chức cung ứng Ví đi ện tử gặp khó khăn trong quá trình tri ển khai, tuân th ủ các quy định về phòng, chống rửa tiền

Tại Việt Nam, thuật ngữ tiền điện tử (e-money) đã xuất hiện và xâm nh ập vào đời sống kinh tế - xã hội; tuy nhiên, do chưa đư ợc định nghĩa, khái niệm cụ thể trong các văn b ản quy phạm pháp lu ật, dẫn đến cách hiểu chưa thống nhất; khuôn kh ổ pháp lý hiện hành chưa làm rõ b ản chất của tiền điện tử để có cơ sở xác định phạm vi và đối tượng chịu sự quản lý

Hai là, m ột số khó khăn của hoạt động cung ứng dịch vụ Ví điện tử

Các tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử còn gặp khó khăn trong vi ệc phát triển dịch vụ, nhất là cho các đối tượng không có tài kho ản tại ngân hàng, những người sống ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa

Trang 4

Đối với dịch vụ Ví điện tử, các quy định cụ thể về phân loại, áp dụng tài khoản ngân hàng/tài kho ản Ví điện tử theo c ấp độ (với các tiêu chí phân loại cấp độ như: tài khoản cơ bản; hạn mức giao d ịch; chức năng giao dịch, mục đích sử dụng và m ức độ cung cấp thông tin xác th ực của khách hàng) cần đư ợc nghiên cứu, áp dụng trong th ực tế, tạo thuận lợi hơn cho d ịch vụ

Ví điện tử phát triển

Ba là, một số rủi ro liên quan đ ến Ví điện tử cần phòng ng ừa:

Hoạt động cung ứng dịch vụ Ví điện tử hiện nay tại Việt Nam là lĩnh v ực mới, còn khá phức tạp và thách thức trong việc kiểm tra, giám sát Do đư ợc phát triển, ứng dụng trong môi trư ờng công nghệ thông tin, viễn thông, trong khi t ội phạm sử dụng công ngh ệ cao ngày càng tinh vi, do đó, d ịch vụ

Ví điện tử có thể phát sinh những rủi ro hoạt động, thanh khoản, hay bị lợi dụng vào các mục đích phi pháp

Mặc dù đã có những quy đ ịnh quản lý khá chặt chẽ, qua công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra vừa qua cho thấy, sự tuân thủ các quy định của một số

tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử còn chưa cao; còn tình tr ạng cho phép

mở và kích ho ạt các Ví đi ện tử không gắn với tài khoản thanh toán c ủa khách hàng tại ngân hàng, cho phép Ví đi ện tử được gắn và nạp tiền từ thẻ tín dụng của khách hàng ho ặc bằng các hình thức khác

Cùng với sự phát triển của kỹ thuật công nghệ là sự xuất hiện của nhiều loại hình d ịch vụ mới do các t ổ chức không ph ải là ngân hàng cung c ấp, có đặc điểm tương tự như các dịch vụ Ví điện tử hiện nay Trên thị trường xuất hiện một số loại ví nhưng không đúng b ản chất dịch vụ và không đư ợc NHNN cấp phép, nhưng v ẫn cung ứng trên th ị trư ờng, như ví không đư ợc liên kết với tài kho ản thanh toán của khách hàng tại ngân hàng, không ch ịu

sự kiểm tra, giám sát c ủa các cơ quan quản lý nhà nư ớc Hoạt động này s ẽ dẫn đến những rủi ro hoạt động, rủi ro thanh kho ản, dễ bị lợi dụng vào các hoạt động bất hợp pháp và gây khó khăn trong công tác qu ản lý

2 Kinh nghi ệm quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ Ví điện tử

Trang 5

Ví điện tử tại Việt Nam về bản chất tương tự như hình thức phương tiện thanh toán trả trước - tiền điện tử (e-money) trên thế giới Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, khái niệm, bản chất và hình thái bi ểu hiện của tiền điện

tử mang các đặc tính cơ bản sau: Ti ền điện tử là giá tr ị tiền tệ được lưu tr ữ trên thiết bị/phương tiện điện tử và có các đặc tính như: (i) đư ợc đảm bảo bằng giá trị tiền gửi theo tỷ lệ 1:1 tại ngân hàng; (ii) đư ợc thể hiện bằng quyền truy đòi đối với tổ chức cung ứng tiền điện tử; (iii) đư ợc thể hiện dưới dạng thẻ trả trước do ngân hàng cung ứng và Ví điện tử do tổ chức TGTT cung ứng; và (iv) đư ợc sử dụng như phương ti ện thanh toán đ ể thực hiện các giao dịch thanh toán Hi ện các qu ốc gia đã c ụ thể hóa các quy định về tiền điện tử thành văn bản luật, chỉ thị, hướng dẫn phù hợp tại từng quốc gia và ho ạt động này ch ịu sự giám sát và qu ản lý chặt chẽ của ngân hàng trung ương

Qua nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước cho thấy, quan đi ểm và cách thức quản lý dịch vụ Ví điện tử (một trong các loại hình ti ền điện tử) tại các quốc gia có nhi ều điểm khác nhau về việc: yêu c ầu Ví điện tử phải liên kết với tài khoản ngân hàng; các kênh cho phép đ ể thực hiện việc nạp

vào/rút tiền ra từ Ví điện tử; quy định về phân loại Ví điện tử; nhận diện, xác thực khách hàng (KYC)

Tùy theo tình hình th ực tế, mức độ rủi ro, m ục tiêu và định hư ớng quản lý của từng quốc gia d ẫn tới quan điểm khác nhau v ề quản lý Ví đi ện tử, như: (i) Kiểm soát ch ặt chẽ hoạt động Ví đi ện tử, quy định Ví điện tử phải liên kết với tài khoản ngân hàng và yêu c ầu các tổ chức cung ứng Ví điện tử phải thực hiện các cách thức, biện pháp xác thực khách hàng khác nhau đ ể đưa ra hạn mức cho từng cấp độ Ví điện tử; tăng cường công tác KYC với việc đưa ra quy đ ịnh phân lo ại tài khoản Ví đi ện tử theo cấp độ tài khoản nhằm mục đích giảm thiểu rủi ro trong quá trình giao d ịch của khách hàng; (ii) Không yêu c ầu Ví đi ện tử phải liên kết với tài kho ản ngân hàng; (iii) Cho phép vi ệc rút tiền mặt tại các đại lý

2.1 Tại Trung Qu ốc

Việc xây dựng khuôn khổ pháp lý, các chính sách, bi ện pháp quản lý dịch

vụ Ví điện tử, phòng ngừa, ngăn chặn việc lợi dụng Ví đi ện tử cho các hoạt động bất hợp pháp; cấp phép, theo dõi, giám sát các t ổ chức không phải là ngân hàng (Non-bank Payment Institutions - NPIs) cung ứng dịch vụ Ví

Trang 6

điện tử được Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC) đánh giá là những yếu tố quan trọng hàng đ ầu trong vi ệc quản lý hoạt động Ví đi ện tử

Thứ nhất, quy đ ịnh về phân loại Ví điện tử của các NPIs

Năm 2015, PBOC ban hành Thông báo s ố 43 quy định các biện pháp quản

lý thanh toán trực tuyến đối với các NPIs; trong đó, yêu c ầu các NPIs phải thiết lập một hệ thống quản lý tên thật, thực hiện các nguyên tắc về KYC, xác minh khách hàng đăng ký m ở Ví điện tử và áp dụng các biện pháp nhận biết khách hàng liên t ục trong su ốt quá trình giao d ịch sau này Nh ững yêu cầu này nhằm đảm bảo NPIs xác minh chính xác danh tính th ực của khách hàng và ngăn chặn việc mở tài khoản vô danh hoặc sử dụng bí danh cũng như ngăn việc trốn tránh thực hiện các biện pháp KYC của một số khách hàng thông qua s ử dụng nhiều tài kho ản khác nhau cùng m ột lúc

Ngoài ra, tài khoản (thanh toán) Ví đi ện tử cũng được tách bi ệt với tài khoản ngân hàng Ti ền trong Ví điện tử không đư ợc coi là tiền gửi và các NPIs không được phép mở tài khoản thanh toán cho các tổ chức tài chính hoặc các tổ chức khác nh ằm cung c ấp các dịch vụ tài chính như cho vay, tài trợ vốn, các hình thức tín dụng, quản lý tài sản, bảo lãnh, d ịch vụ ủy thác, dịch vụ ngoại hối hoặc gửi và rút tiền mặt Đây chính là rào cản

PBOC đặt ra đối với các NPIs so với hệ thống ngân hàng truyền thống

Thứ hai, quy định về cấp độ tài khoản Ví đi ện tử

Thông báo s ố 43 nêu trên quy đ ịnh tài khoản Ví điện tử (có tính năng thanh toán, chuyển tiền như tài kho ản thanh toán c ủa các ngân hàng) do các NPIs cung ứng đư ợc chia thành 03 c ấp độ dựa trên mức độ xác thực khách hàng,

cụ thể:

Về hạn mức: Cấp độ 1 - Ví điện tử với doanh số thanh toán, chi tiêu lũy k ế không quá 1.000 CNY (kho ảng 3,4 tri ệu VND) trong su ốt vòng đ ời sử dụng sản phẩm từ khi Ví điện tử được mở; Cấp độ 2 - Ví điện tử có doanh s ố thanh toán, chi tiêu lũy kế cả năm không quá 100.000 CNY/năm (kho ảng

340 triệu VND/năm); Cấp độ 3 - Ví điện tử có hạn mức lũy kế cả năm

không quá 200.000 CNY/năm (khoảng 680 triệu VND/năm)

Trang 7

Về cách thức và mức độ xác thực khách hàng: Cấp độ 1 - Việc mở và sử dụng Ví điện tử (khi khách hàng l ần đầu tiên giao dịch) không đòi h ỏi phải gặp mặt trực tiếp khách hàng; vi ệc xác định danh tính khách hàng th ực hiện thông qua 01 kênh định danh hợp lệ; Cấp độ 2 - Thực hiện thông qua gặp mặt trực tiếp hoặc xác đ ịnh danh tính khách hàng không g ặp mặt trực tiếp qua xác thực chéo v ới ít nhất 03 kênh đ ịnh danh hợp lệ; Cấp độ 3 - Thực hiện thông qua gặp mặt trực tiếp hoặc định danh không g ặp mặt trực tiếp thông qua xác thực chéo với ít nhất 05 kênh định danh hợp lệ

Về chức năng thanh toán: Ví đi ện tử cấp độ 1 chỉ được sử dụng để thanh toán tiêu dùng và chuy ển tiền; Ví điện tử cấp độ 2 đư ợc sử dụng để thanh toán tiêu dùng và chuy ển tiền; Ví điện tử cấp độ 3 đư ợc sử dụng để thanh toán tiêu dùng, chuy ển tiền và đầu tư vào các tài s ản, sản phẩm tài chính

Thứ ba, quy đ ịnh về cấp phép và quản lý sau c ấp phép đ ối với các NPIs

Các NPIs phải được cấp phép c ủa PBOC m ới đư ợc cung ứng dịch vụ thanh toán trực tuyến qua mạng Internet và thi ết bị di động, điện thoại cố định và truyền hình k ỹ thuật số tương tác ra thị trường, bao g ồm cả Alipay và

WechatPay Các NPIs b ị giới hạn hơn so v ới ngân hàng khi ch ỉ được phép cung ứng các dịch vụ thanh toán nhanh chóng, thu ận tiện cho các giao dịch thanh toán nh ỏ lẻ, phục vụ sinh ho ạt hàng ngày với giá trị thấp

Về hạn mức ký quỹ của các NPIs, PBOC quy đ ịnh tổng số dư trên tất cả các tài khoản Ví đi ện tử của khách hàng mà các NPIs đã nh ận phải được giữ trong tài kho ản ký qu ỹ mở tại PBOC theo tỷ lệ quy định bắt buộc để phòng ngừa, kiểm soát việc NPIs (nhất là các tổ chức có số lượng khách, s ố

dư các Ví điện tử của khách hàng lớn như Ví Alipay, Ví Wechat Pay) sử dụng sai mục đích nguồn tiền đối ứng cho s ố tiền khách hàng n ạp vào Ví điện tử; cũng như để giới hạn hoạt động của các NPIs

Thứ tư, quy đ ịnh về giám sát, đánh giá sau c ấp phép đ ối với các NPIs

Tháng 4/2016, PBOC đã ban hành Thông báo v ề cơ chế, nguyên tắc để phân loại và đánh giá các NPIs; theo đó, đ ịnh kỳ các NPIs sẽ được PBOC đánh giá, phân loại theo 5 nhóm lớn với 11 cấp độ; các tổ chức được đánh giá xếp hạng A sẽ được áp dụng cơ chế giám sát thông thoáng hơn và

Trang 8

ngược lại, các tổ chức xếp loại kém sẽ bị áp dụng cơ chế giám sát chặt chẽ

2.2 Tại Thái Lan

Nghị định của Hoàng gia Thái Lan ban hành v ề quản lý kiểm soát và giám sát kinh doanh d ịch vụ thanh toán điện tử B.E 2559 quy đ ịnh, ti ền điện tử

là một hình thức thẻ điện tử được phát hành b ởi nhà cung cấp dịch vụ cho người sử dụng Tiền điện tử bao gồm thẻ trả trước và Ví điện tử không liên kết với tài khoản ngân hàng đư ợc phân loại theo 3 lo ại, cụ thể:

- Dịch vụ loại A ch ỉ yêu cầu phải thông báo v ới Ngân hàng Trung ương Thái Lan (BOT) trước khi bắt đầu triển khai dịch vụ, bao gồm: Các dịch vụ tiền điện tử được sử dụng để thanh toán cho các hàng hóa, d ịch vụ nhất định và chỉ chấp nhận thanh toán tại một đơn vị chấp nhận thanh toán

(tương tự như các loại thẻ closed-loop)

- Dịch vụ loại B yêu c ầu phải đăng ký với BOT trư ớc khi tri ển khai d ịch

vụ, bao gồm: Các d ịch vụ tiền điện tử được sử dụng để thanh toán cho các hàng hóa, d ịch vụ nhất định và có thể chấp nhận thanh toán t ại một số đơn

vị chấp nhận thanh toán ho ạt động trong cùng m ột hệ thống hoặc một chuỗi kênh phân phối

- Dịch vụ loại C ph ải được cho phép c ủa BOT trư ớc khi triển khai dịch vụ, bao gồm: Các dịch vụ thanh toán đi ện tử thông qua b ất kỳ một thiết bị hoặc mạng lư ới; dịch vụ thanh toán hóa đơn; d ịch vụ tiền điện tử được sử dụng

để thanh toán cho các hàng hóa, d ịch vụ nhất định và được chấp nhận thanh toán tại tất cả các đơn vị chấp nhận thanh toán mà không có b ất kỳ giới hạn nào về địa điểm hay kênh phân ph ối

Tại Thái Lan, Ví đi ện tử không yêu c ầu phải liên kết với tài khoản ngân hàng Liên quan đến quy định về việc nạp tiền, rút tiền từ Ví điện tử, các tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử phải đáp ứng yêu cầu của BOT khi đăng

ký triển khai dịch vụ của họ, trong đó phải làm rõ quy trình, th ủ tục để thực hiện nạp tiền, rút tiền mặt từ Ví điện tử tại các đại lý

Trang 9

2.3 Tại Indonesia

Năm 2016, Ngân hàng Trung ương Indonesia (BI) ban hành Quy ch ế về hoạt động xử lý giao d ịch thanh toán quy đ ịnh, tổ chức cung ứng tiền điện

tử phải có Giấy phép từ BI trong trư ờng hợp lượng người sử dụng dịch vụ đạt đến hoặc có kế hoạch đạt được ít nhất 300.000 người; các tổ chức cung ứng có số lượng khách hàng ít hơn 300.000 ngư ời sử dụng chỉ cần báo cáo với BI về các hoạt động của mình

Năm 2018, BI ban hành Quy ch ế mới về tiền điện tử (thay thế Quy chế ban hành năm 2009), trong đó đưa ra một số quy định giới hạn đối với tiền điện

tử, như:

Thứ nhất, tiền điện tử được phân thành 2 lo ại: (i) Thanh toán đơn m ục đích (closed loop) là ti ền điện tử chỉ được sử dụng để thanh toán cho nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ chính là người phát hành tiền điện tử; (ii) Thanh toán đa mục đích (open loop) là tiền điện tử được sử dụng để thanh toán hàng hóa, d ịch vụ tại bất kỳ đơn vị chấp nhận thanh toán không ph ải là tổ chức phát hành ti ền điện tử

Thứ hai, các dịch vụ thanh toán c ủa các tổ chức không ph ải là ngân hàng được phép cung cấp có thể bao gồm: chuyển tiền, thanh toán, Ví điện tử

Thứ ba, hạn mức tổng giá trị giao dịch một tháng c ủa tiền điện tử là 20 triệu Rupi (tương đương 1.422 USD) và các tổ chức phát hành tiền điện tử chỉ có thể cung cấp các tính năng n ạp tiền, thanh toán cho vi ệc mua sắm, thanh toán hóa đơn nhưng đ ối với giao dịch chuyển tiền và rút tiền mặt chỉ được phép thực hiện đối với các tổ chức phát hành tiền điện tử thanh toán

đa mục đích đã được BI cấp phép

3 Một số khuyến nghị về quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ Ví điện

tử

Trên cơ sở đánh giá tình hình hoạt động cung ứng dịch vụ Ví điện tử hiện nay, kinh nghiệm quản lý của một số nước, một số giải pháp tăng cư ờng quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ Ví điện tử trong th ời gian trư ớc mắt

Trang 10

được xác định như sau:

3.1 Rà soát, sửa đổi và bổ sung các quy định về Ví điện tử

Thứ nhất, duy trì cấp phép ho ạt động cung ứng dịch vụ Ví điện tử:

Dịch vụ Ví điện tử về bản chất có liên quan đến huy động tiền của các tổ chức, cá nhân, nên có th ể phát sinh nh ững rủi ro hoạt động, thanh kho ản và lợi dụng dịch vụ để tham gia vào các giao d ịch bất hợp pháp Do đó, vi ệc tiếp tục duy trì cấp phép cho ho ạt động cung ứng dịch vụ Ví điện tử là cần thiết, đáp ứng yêu c ầu của thị trường, tạo điều kiện cho các t ổ chức có nhu cầu hoạt động theo đúng quy đ ịnh của pháp lu ật, chịu sự quản lý của các cơ quan quản lý, ho ạt động an toàn, bền vững

Thứ hai, ban hành các quy đ ịnh liên quan đến tiền điện tử:

Tiền điện tử tại Việt Nam hiện được thể hiện dưới dạng thẻ trả trước do ngân hàng cung ứng và Ví điện tử do tổ chức TGTT cung ứng Tiền điện tử không phải là một loại tiền tệ mới mà chỉ là hình thái biểu hiện của đồng tiền pháp đ ịnh dư ới dạng công cụ hoặc phương tiện thanh toán đư ợc sử dụng để thực hiện các giao dịch thanh toán và đư ợc đảm bảo theo t ỷ lệ 1:1 của đồng tiền pháp định

Do đó, việc nghiên cứu bổ sung các quy định về tiền điện tử là cần thiết; trong đó làm rõ khái niệm, bản chất, hình thái biểu hiện của tiền điện tử và các vấn đề liên quan đ ến tiền điện tử trong văn bản pháp lý, th ẩm quyền cấp phép, đi ều kiện cung ứng tiền điện tử; quy trình qu ản trị, kiểm soát r ủi

ro đảm bảo an toàn, bảo mật thông tin giao dịch của khách hàng, cũng như tuân thủ các quy đ ịnh về phòng, ch ống rửa tiền, bảo vệ quyền lợi của khách hàng, quy ền và trách nhi ệm của các bên liên quan, đáp ứng tốt hơn yêu cầu quản lý nhà nư ớc, theo xu hư ớng phát tri ển của kỹ thuật công ngh ệ và

thông lệ quốc tế

Đồng thời, xác định phạm vi và đối tượng cung ứng tiền điện tử để ban hành quy định quản lý phù hợp; xác định tiền điện tử là phương tiện thanh toán giúp cơ quan quản lý nhà nước có biện pháp hiệu quả hơn để ngăn

Ngày đăng: 01/01/2023, 05:46

w