1 ĐỀ CƯƠNG ÔN TÂP̣ LTQTKD Câu 1 Phân biêṭ lý thuyết hành đôṇg hơp̣ lý và lý thuyết hành vi có kế hoac̣h? Hãy choṇ môṭ sản phẩm cần thiết trong mùa dic̣h Covid 19 để phân tích ha.
Trang 1ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP LTQTKD
Câu 1: Phân biê ̣t lý thuyết hành đô ̣ng hợp lý và lý thuyết hành vi có kế hoa ̣ch? Hãy cho ̣n
mô ̣t sản phẩm cần thiết trong mùa di ̣ch Covid-19 để phân tích hành vi người tiêu dùng thành phố Hà Nô ̣i theo 3 nô ̣i dung chính của lý thuyết hành vi có kế hoa ̣ch?
Phân biê ̣t lý thuyết hành vi có kế hoa ̣ch và lý thuyết hành đô ̣ng hợp lý:
- Lý thuyết hành vi có kế hoa ̣ch:
+ Là một lý thuyết thể hiện mối quan hệ
giữa niềm tin và hành vi của một người nào đó,
trong đó niềm tin được chia làm ba loại: niềm
tin hành vi tạo ra một thái độ hành vi (có thể
tiêu cực hay tích cực), niềm tin theo chuẩn mực
chung dẫn đến một chuẩn mực chủ quan, và
niềm tin về sự tự chủ làm phát sinh nhận thức
kiểm soát hành vi
+ Hành vi mô tả những gì đã diễn ra
trước mắt chúng ta
Khi nói tới hành vi tức là quan tâm đến
những cái gì bô ̣c lô ̣ ra bên ngoài của con người
(ví du ̣: nhếch mép, liếc mắt, nghiêng đầu,…)
- Lý thuyết hành đô ̣ng hơ ̣p lý:
Nhằm giải thích mối quan hệ giữa thái
độ và hành vi trong hành động của con người Thuyết này được sử dụng để dự đoán cách mà các cá nhân sẽ hành xử dựa trên thái độ và ý định hành vi đã có từ trước của họ Các cá nhân
sẽ hành động dựa vào những kết quả mà họ mong đợi khi thực hiện hành vi đó
Hành đô ̣ng được sử du ̣ng khi chúng ta đã quan tâm đến những gì ẩn đằng sau hành vi đó
Khi nói tới hành đô ̣ng thì người ta cũng nói tới hành vi nhưng đi kèm với đó là những cảm xúc, suy nghĩ, tình cảm, đô ̣ng cơ, đô ̣ng lực các thứ đằng sau hành vi đó
Lý thuyết hành vi có kế hoạch ra đời sau nhằm khắc phục những nhược điểm của lý thuyết hành động hợp lý trước đó Tuy nhiên lý thuyết này vẫn có những điểm chưa hoàn thiện của nó Đó là:
- Các yếu tố như tính cách cá nhân và các yếu tố nhân khẩu học không được đưa vào xem xét
- Các yếu tố kiểm soát hành vi khó xác định, không rõ ràng và gây khó khăn cho việc đo lường
- Giả định cho rằng nhận thức về kiểm soát hành vi dự đoán các yếu tố kiểm soát hành vi thực
tế Điều này không phải luôn luôn đúng
- Lý thuyết hành vi có kế hoạch chỉ dự đoán được hành vi khi một số khía cạnh của hành vi không nằm dưới sự kiểm soát của ý chí Khoảng thời gian giữa ý định thực hiện hành vi và hành vi càng lớn thì càng ít có khả năng hành vi sẽ xảy ra
- Lý thuyết này dựa trên giả định rằng con người luôn luôn hành động một cách hợp lý và đưa
ra quyết định có hệ thống dựa trên các thông tin có sẵn Động cơ vô thức không được xem xét trong
lý thuyết này
Mô ̣t sản phẩm cần thiết trong mùa di ̣ch Covid – 19: khẩu trang y tế:
- Mô hình hành vi người tiêu dùng:
Tác đô ̣ng Các tác nhân
Marketing kích thích ≠
- Sản phẩm - MT kinh tế
- Giá cả - KH – KT
- Phân phố i - Chính tri ̣
- Xúc tiến - Văn hóa
“Hô ̣p đen” ý thức của người mua
- Các đă ̣c tính của người mua
- Quá trình quyết
đi ̣nh mua hàng
Phản ứng đáp la ̣i của người mua
- Lựa cho ̣n hàng hóa
- Lựa cho ̣n nhãn hiê ̣u
- Lựa cho ̣n nhà KD
- Lựa cho ̣n khối lượng
Trang 2- Phân tích đối với loa ̣i hàng hóa là khẩu trang:
Tác đô ̣ng Marketing và các tác nhân kích thích khác: trong trường hợp sản phẩm là khẩu trang trong mùa di ̣ch Covid-19, các tác nhân kích thích khác (cu ̣ thể là môi trường kinh tế) ảnh hưởng nhiều hơn tới hành vi mua của người tiêu dùng Trong đa ̣i di ̣ch, mo ̣i người nhâ ̣n biết được rằng khẩu trang rất cần thiết cho viê ̣c phòng di ̣ch lây lan giữa người với người khi tiếp xúc gần Tuy nhiên, tác đô ̣ng của Marketing cũng ảnh hưởng tới hành vi mua của ho ̣, các doanh nghiê ̣p chuyển sang sản xuất khẩu trang để phân phối cho NTD thông qua các kênh phân phổi bán lẻ, bán buôn và kể cả online nhằm thuâ ̣n tiê ̣n cho viê ̣c mua và bán Ngoài ra, về chính sách giá, vào thời điểm di ̣ch Covid-19 mới tràn vào Viê ̣t Nam viê ̣c thay đổi khẩu trang đã ảnh hưởng ma ̣nh mẽ đến hành vi mua của người tiêu dùng Và sau đó, các tác nhân kích thích khác (cu ̣ thể là chính tri ̣) đã ảnh hưởng đến quyết đi ̣nh mua của NTD
“Hộp đen ý thức” của người mua: khi di ̣ch Covid-19 tràn vào VN đã thay đổi nhâ ̣n thức NTD NTD chi tiêu nhiều tiền hơn cho các ngành hàng thiết yếu về sức khỏe và trên thị trường cũng hình thành nên các dịch vụ mới về y tế như thải độc cơ thể, tăng cường sức đề kháng, làm đẹp thẩm mỹ…đặc biê ̣t là khẩu trang Ho ̣ đổ xô đi mua khẩu trang cho bản thân và gia đình nhằm phòng di ̣ch, ngẫu nhiên khẩu trang là sản phẩm được đă ̣t lên top hàng hóa cần thiết nhất
Phản ứng đáp la ̣i của người mua: trước các tác nhân kích thích về sản phẩm và môi trường kinh tế và giá cả, ho ̣ nhanh chóng quyết đi ̣nh mua mă ̣c dù giá cả được cho là không phù hợp, tuy nhiên NTD đến đây đươ ̣c chia làm 2 phe: mô ̣t bên thì mua nhiều để dự trữ, còn mô ̣t bên chỉ mua để dùng cho qua mùa di ̣ch và rất ít người quan tâm đến nhãn hiê ̣u và nhà sản xuất Cho đến khi các quyết
đi ̣nh chế tài của nhà nước về xử pha ̣t các hành vi tăng giá khẩu trang được ban hành, lúc này NTD coi như đã bão hòa về khẩu trang và mă ̣t hàng này trở la ̣i tra ̣ng thái như cũ, mua lúc nào cũng được
Câu 2: Hãy nêu các tiêu chuẩn của mô ̣t nguồn lực mà doanh nghiê ̣p phải có? Cho ̣n mô ̣t doanh nghiê ̣p mà ba ̣n biết phân tích các tiêu chuẩn của nguồn lực trong doanh nghiê ̣p đó?
Theo quan điểm quản trị dựa trên nguồn lực (Resources based view), nguồn lực doanh nghiệp bao gồm tất cả những tài sản, các khả năng, các quá trình của tổ chức, các đặc tính doanh nghiệp, thông tin, kiến thức, được kiểm soát bởi một doanh nghiệp, cho phép doanh nghiệp xây dựng và triển khai những chiến lược tăng cường hiệu suất và hiệu quả của doanh nghiệp đó
(Draf, 1983)
Nguồn lực doanh nghiệp có thể được sắp xếp thành ba nhóm sau: nguồn lực vật chất, nguồn lực con người, và nguồn lực tổ chức
- Nguồn lực vật chất: bao gồm công nghệ kỹ thuật được sử dụng trong doanh nghiệp, nhà máy
và dụng cụ của doanh nghiệp, vị trí địa lý của nó, cùng khả năng tiếp cận các nguồn nguyên liệu thô
- Nguồn lực con người: là sự đào tạo, kinh nghiệm, khả năng đánh giá, khả năng sáng tạo, mối
quan hệ, và tri thức của toàn bộ những người quản lý và nhân viên trong doanh nghiệp
- Nguồn lực tổ chức: bao gồm quy trình quản lý chính thức của doanh nghiệp, việc lập kế hoạch chính thức và phi chính thức, các hệ thống kiểm soát và phối hợp, cũng như những mối liên hệ không chính thức giữa các nhóm trong doanh nghiệp và giữa doanh nghiệp và môi trường hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó
Mô hình nguồn lực VRIN:
- Nguồn lực có giá tri ̣: Những nguồn lực của doanh nghiệp chỉ có thể trở thành nguồn gốc của lợi thế cạnh tranh hoặc lợi thế cạnh tranh bền vững khi chúng có giá trị Theo định nghĩa của Barney, những nguồn lực được gọi là có giá trị khi chúng cho phép một doanh nghiệp xây dựng hoặc triển khai những chiến lược nhằm cải thiện hiệu suất và hiệu quả doanh nghiệp đó Mô hình cổ điển SWOT gợi rằng những doanh nghiệp có khả năng cải thiện sức mạnh của chúng chỉ khi những chiến lược cho phép khai thác những cơ hội hoặc vô hiệu hóa những nguy cơ Như vậy giá trị của nguồn lực
Trang 3chính là khả năng mà nguồn lực cho phép doanh nghiệp xây dựng và thực hiện chiến lược có thể tận dụng các cơ hội và giảm thiểu thách thức từ môi trường bên ngoài
- Nguồn lực hiếm: Theo quan điểm của Barney, Một nguồn lực được gọi là hiếm nếu số doanh nghiệp sở hữu nguồn lực đó ít hơn số doanh nghiệp không sở hữu nguồn lực đó; và những doanh nghiệp sở hữu nguồn lực hiếm sẽ có khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh Hai tiêu chuẩn có giá trị (V)
và hiếm (R) được một số học giả tổng kết và coi là hai tiêu chuẩn “cần” (điều kiện cần) để tạo ra lợi thế cạnh tranh Tuy nhiên để tạo dựng được lợi thế cạnh tranh bền vững thì điều kiện “đủ” là nguồn lực phải thỏa mãn hai tiêu chuẩn tiếp theo (I-N)
- Nguồn lực không thể bắt trước hoàn toàn: Nguồn lực không thể bắt chước hoàn toàn là các nguồn lực có những đặc điểm riêng mà các doanh nghiệp cạnh tranh làm cách nào cũng không thể bắt chước được, hoặc chỉ có thể bắt chước được 1 phần
Chỉ khi sở hữu nguồn lực giá trị và hiếm không thể bị bắt chước hoàn toàn thì lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp mới được duy trì lâu dài và bền vững
Những nguồn lực không bị bắt chước hoàn toàn có thể đến từ ba nguyên nhân sau:
Nguồn lực có được vì các lý do lịch sử,
Mqh nhân quả giữa nguồn lực và lợi thế cạnh tranh bền vững không được hiểu rõ
Nguồn lực có tính phức tạp về mặt xã hội (Dierickx và Cool, 1989)
- Nguồn lực không thể thay thế: Yêu cầu cuối cùng đối với nguồn lực doanh nghiệp để tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững là không thể thay thế được Một câu hỏi được đặt ra là: Nếu một nguồn lực có giá trị, hiếm, và không thể bắt chước hoàn toàn tạo ra lợi thế cạnh tranh thì liệu nguồn lực đó
có thể bị thay thế bởi các nguồn lực tương tự khác?
Ví dụ: Doanh nghiê ̣p Vinamlik:
Nguồn nhân lực và trang thiết bi ̣
Đội ngũ bán hàng nhiều kinh nghiệm gồm 1.787 nhân viên bán hàng trên khắp cả nước Thiết bị và công nghệ sản xuất hiện đại và tiên tiến theo tiêu chuẩn quốc tế Công ty Vinamilk
có một đội ngũ tiếp thị và bán hàng có kinh nghiệm về phân tích và xác định thị hiếu và xu hướng tiêu dùng, đồng thời hỗ trợ các nhân viên bán hàng trực tiếp, những người hiểu rõ thị hiếu người tiêu cũng thông qua việc tiếp cận thường xuyên với khách hàng tại nhiều điểm bán hàng Chẳng hạn, sự
am hiểu về thị hiếu của trẻ em từ 6 đến 12 tuổi đã giúp Vinamilk đưa ra thành công chiến lược tiếp thị mang tên Vinamilk Milk Kid vào tháng 5 năm 2007 Kết quả của chiến lược tiếp thị này là Vinamilk Milk Kid trở thành mặt hàng sữa bán chạy nhất trong khúc thị trường trẻ em từ 6 đến 12 tuổi vào tháng 12 năm 2007
Ngoài ra, Vinamilk còn có khả năng nghiên cứu và phát triển sản phẩm trên quan điểm nâng cao chất lượng sản phẩm và mở rộng dòng sản phẩm cho người tiêu dùng Vinamilk có đội ngũ nghiên cứu và phát triển gồm 10 kỹ sư và một nhân viên kỹ thuật Các nhân sự làm công tác nghiên cứu phối hợp chặt chẽ với bộ phận tiếp thị, bộ phận này liên tục cộng tác với các tổ chức nghiên cứu thị trường
để xác định xu hướng và thị hiểu tiêu dùng
Các quyết đi ̣nh của Chính phủ
Việc ổn định chính trị hay đưa ra những quyết định trong sản xuất kinh doanh sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh danh của doanh nghiệp Ở Việt Nam, các chính sách của Chính phủ về sữa nhập khẩu chưa thúc đẩy sự tăng trưởng của ngành sữa nội địa Trước hết là do giá của sữa nhập khẩu tăng trong khi sữa nội địa chỉ đáp ứng được khoảng 20% nhu cầu người dân Mặt khác Nhà nước tham gia vào ngành sữa với nhiều ngành, nhiều dịch vụ trùng lặp và các mối quan hệ cực kỉ phức tạp
Trang 4giữa các bên tham gia điều này tạo ra một môi trường không thuận lợi cho sự hợp tác giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân trong ngành sữa
Tuy nhiên, Nhà nước đã có chính sách thúc đẩy ngành sữa phát triển như khuyến khích mở các trang trại bò sữa, hỗ trợ công nghệ chế biến và thay thể dẫn nguyên liệu nhập từ nước ngoài Một số chính sách khác khuyến khích xuất khẩu cũng giúp cho ngành có cơ hội tăng trưởng, ví dụ như từng
có chính sách bảo hộ trong một thời gian không cấp phép vào lĩnh vực sửa hộp chính sách này tạo ra rào cản nhập ngành sản xuất nhưng lại có thuận lợi cho những hãng trong nước mở rộng quy mô sản xuất
Vinamilk hiện đang là một trong hai công ty sản xuất sữa có quy mô lớn nhất cả nước và chiếm 16% thị phần Năm 2015, Chính phủ vừa có quyết định thoái toàn bộ 45,1% vốn Nhà nước tại Công
ty cổ phần sữa Việt Nam (Vinamilk-mã chứng khoán VNM) Điều này giúp Vinamilk không phải chia cổ tức hàng năm cho SCIC với số tiền lên tới hàng nghìn tỷ
Tính kinh tế theo quy mô
Yếu tố kinh tế là một yếu tố rất quan trọng đối với các doanh nghiệp nói chung và công nghiệp sữa nói riêng Theo số liệu thống kê, mức sống của người dân Việt Nam nằm ở mức thấp (năm 2016, thu nhập bình quân đầu người ở VN là 7,6 triệu đồng), cho nên phần lớn dân cư ở những thành phố lớn mới tiêu thụ sữa thường xuyên Tuy vậy, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đang ngày càng tăng, thu nhập bình quân đầu người theo đó cũng tăng lên, đó là tiền đề để nâng cao đời sống của người dân đồng nghĩa với việc tiêu thụ sữa nhiều hơn Đó là cơ hội để doanh nghiệp phát triển thị phần sữa Tuy nhiên, lạm phát xảy ra ở năm 2008-2009 đã khiến người dân thận trọng hơn trong việc tiêu thụ sữa, gây trở ngại và khó khan đối với doanh nghiệp bởi doanh số bán hàng giảm trong khi
DN cũng phải chịu ảnh hưởng của lạm phát và khủng hoảng
Vinamilk có một quy mô lớn và với quy mô sản lượng lớn cho phép doanh nghiệp khai thác được lợi thế của việc chuyên môn hóa, tiết kiệm được nhiều chi phí giao dịch Lợi thế kinh tế nhờ quy mô thể hiện ở trong hầu hết các bộ phận trong doanh nghiệp: sản xuất, mua hàng, nghiên cứu và phát triển, marketing, mạng lưới dịch vụ, sử dụng đội ngũ bán hàng và phân phối Lợi thế kinh tế nhờ quy mô cũng có thể xuất hiện khi công ty có chi phí chung Chi phí chung nảy sinh khi một doanh nghiệp sản xuất sản phẩm A cũng có năng lực để sản xuất sản phẩm B Lợi thế kinh tế nhờ quy mô cũng sẽ xuất hiện khi có lợi thể do tích hợp theo chiều dọc nghĩa là công ty hoạt động trong những giai đoạn sản xuất hoặc phân phối nối tiếp nhau
Tính đặc trưng của tài sản
Cơ cấu tài sản của công ty Sữa Vinamilk thay đổi theo hướng tăng tỷ trọng tài sản ngắn hạn và giảm tỷ trọng tài sản dài hạn
Sự gia tăng của tỷ trọng nguồn vốn dài hạn và sự giảm xuống của tỷ trọng tài sản dài hạn đã làm cho năng lực tự chủ tài chính của công ty thêm mạnh
Công ty đã thu hồi các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn và dài hạn để hạn chế rủi ro Tỷ trọng tiền và các khoản tương đương tiền cao chứng tỏ khả năng thanh khoản của công ty càng cao
Hiê ̣u quả của mạng lưới phân phối
Vinamilk là mô ̣t doanh nghiê ̣p sữa lớn với ma ̣ng lưới trải dài và bao phủ rô ̣ng Với hai kênh phân phối là phân phối trực tiếp và phân phối gián tiếp, Vinamilk đã ta ̣o ra được mô ̣t ma ̣ng lưới trung gian để mang sản phẩm tới tay người tiêu dùng Nhờ ma ̣ng lưới trung gian đó mà doanh nghiê ̣p có thể:
- Giảm chi phí phân phối: Nếu các nhà sản xuất tự tổ chức lấy mạng lưới sản xuất thì họ phải chịu chi phí lớn do không chuyên môn hóa và quy mô nhỏ bé
Trang 5- Tăng phạm vi tiếp cận khách hàng cho nhà sản xuất trong khi giảm đầu mỗi tiếp xúc giữa nhà sản xuất và khách hàng: Nhờ có mạng lưới phân phối mà Vinamilk có thể tiếp cận với mọi khách hàng ở khắp mọi nơi Nhà sản xuất chỉ cần tiếp xúc với một nhà phân phối là có thể bán được cho nhiều khách hàng
- Chia sẻ rủi ro giữa nhà sản xuất và mạng lưới phân phối: Trong trường hợp mua đứt bán đoạn với nhà phân phối, các trung gian thương mại đã chia sẻ rủi ro do giá cả biến động với nhà sản xuất
Do vậy, nhà sản xuất có thể thu hồi vốn nhanh để tái đầu tư vào chu kỳ sản xuất tiếp theo
- Giúp cho cung cầu gặp nhau.Nhiều khi bên bán không biết bên mua đâu và ngược lại, lúc này, các nhà phân phối đóng một vai trò rất quan trọng
- Tăng cường khả năng cạnh tranh: Khi sử dụng trung gian trong kênh phân phối, tiết kiệm chi phí, rủi ro giảm, tăng khả năng tiếp cận khách hàng cho nên nhà sản xuất nâng cao khả năng cạnh tranh của mình
Sự trung thành của khách hàng
Sự trung thành này chỉ sự yêu thích của khách hàng đối với nhãn hiê ̣u sữa Vinamilk hiê ̣n ta ̣i:
- Hệ thống khách hàng Ngành sữa có một hệ thống khách hàng đa dạng từ trẻ nhỏ đến người lớn tuổi, mỗi loại sữa có một đặc trưng riêng tạo nên sự khác biệt dành cho một lứa tuổi nhưng yêu cầu của người tiêu dùng ngày càng tăng nên ngành sữa đang chịu áp lực không hề nhỏ từ hệ thống khách hàng, đây là một vấn đề tác động tới một cách khách quan không chỉ là nỗi lo của công ty tham gia vào ngành lâu năm mà còn là khó khăn cho ngành mới gia nhập
- Ở vùng nông thôn: Không ít nhóm người tiêu dùng phản ánh rằng khi đi mua sữa ở các đại lý,
họ thường nhờ sự tư vấn của người bán hàng mà những người bán hàng thì chỉ am hiểu những mặt hàng sữa được tra chuộng, vậy nên khi tư vấn cho khách hàng thì lần sau khách hàng tiếp tục dùng lại những loại đó mà không quan tâm mấy tới độ dinh dưỡng và chất lượng
- Ở vùng thành phố: nhìn chung tại thị trường này hầu hết người tiêu dùng có thu nhập cao, có hiểu biết do vậy họ có những quan niệm là tiêu dùng sản phẩm mà chất lượng cao, thương hiệu nổi tiếng hơn trong các gian hàng đại lý và tỉ trọng tiêu dùng sữa ngoại lớn như Vinamilk Nestle Nutifut
dù răng giả có đắt hơn
- Việc tạo lập thương hiệu trong ngành sữa cũng rất khó khăn do phải khẳng định được chất lượng sản phẩm cũng như cạnh tranh các công ty lớn Mỗi một hãng có maột thương hiệu riêng, đặc trưng riêng tạo nên sự khác biệt nhau đối với các hãng cùng ngành
Vinamilk có một số lượng khách hàng lớn và khá trung thành Nhờ đó mà thi ̣ phần của Vinamilk
sẽ được bảo vệ vì sự trung thành của khách hàng về sản phẩm là rào cản cho các ngành mới nhập cuộc Các đối thủ có ý muốn nhập cuộc sẽ phải thấy rằng nhiệm vụ xua đi sở thích được hình thành trong khách hàng là điều hết sức khó khăn và tốn kém
Câu 3: Hãy trình bày các nô ̣i dung về mối quan hê ̣ đa ̣i diê ̣n? Phân tích các mâu thuẫn lợi ích về mối quan hê ̣ đa ̣i diê ̣n?
Lý thuyết đại diện được tiến hành theo hai nhánh, nghiên cứu thực chứng (Positivist Agency Theory) và các nghiên cứu chuẩn tắc (Principal – Agent Research)
Cả hai nhánh đều có mục tiêu nghiên cứu như nhau, dựa trên những giả thiết như nhau về con người, về tổ chức và về thông tin Nếu nghiên cứu thực chứng đưa ra kết luận dựa trên việc điều tra khảo sát đánh giá một số lượng lớn các doanh nghiệp thì nghiên cứu chuẩn tắc đưa ra kết luận dựa trên việc mô hình hóa và phân tích toán học chặt chẽ Các kết luận mà nghiên cứu thực chứng và nghiên cứu chuẩn tắc đưa ra không mâu thuẫn nhau mà luôn bổ sung cho nhau
Thực tế không thể có một hợp đồng hoàn hảo giữa người ủy quyền và người đại diện, vì vậy vấn đề người đại diện luôn tạo ra một chi phí gọi là chi phí người đại diện Chi phí người đại diện là
Trang 6những chi phí tiền tệ và phi tiền tệ mà các bên phải gánh chịu do sự cần thiết phải thiết lập những hệ thống kiểm tra
Theo Coriat và Weinstein, chi phí người đại diện gồm 3 bộ phận cấu thành: chi phí cho việc kiểm tra và động viên, chi phí nghĩa vụ và chi phí do mất mát phụ trội
Chi phí cho việc kiểm tra và động viên là những chi phí do người ủy quyền bỏ ra để kiểm tra, định hướng hành vi của người đại diện
Chi phí nghĩa vụ là những chi phí mà người đại diện gánh chịu để đảm bảo là mình không gây
ra những hành động làm thiệt hại người ủy quyền hay để có thể bồi thường cho người ủy quyền khi cần thiết
Chi phí do mất mát phụ trội là phần chênh lệch không thể tránh được giữa kết quả hành động thật sự vì mục đích tối đa hóa lợi ích của người ủy quyền mang lại
Lý thuyết đại diện tập trung vào trả lời những câu hỏi sau đây: Làm thế nào để xây dựng một
hệ thống động viên và theo dõi khiến người đại diện có thể ứng xử với mục tiêu tối đa hóa lợi ích của người ủy quyền? Làm thế nào để giảm chi phí người đại diện trong điều kiện thông tin không hoàn hảo bằng những cơ chế thị trường?
Nghiên cứu thực chứng của Lý thuyết đại diện tập trung tìm hiểu cấu trúc hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt là các công ty cổ phần để nhận biết tình huống mà người ủy quyền và người đại diện
có thể có những mục tiêu mâu thuẫn và mô tả những cơ chế quản lý nhằm hạn chế hành vi phục vụ lợi ích cá nhân của người đại diện
Nghiên cứu chuẩn tắc của Lý thuyết đại diện đưa ra những kết luận sau:
- Người đại diện hành xử vì lợi ích của người ủy quyền nhiều hơn khi hợp đồng giữa người ủy quyền và người đại diện dựa trên kết quả, hay nói cách khác, hợp đồng dựa trên kết quả là hiệu quả trong việc kiềm chế hành vi cơ hội của người đại diện;
- Người đại diện hành xử vì lợi ích của người ủy quyền nhiều hơn khi người ủy quyền có hệ thống thông tin kiểm tra hoạt động của người đại diện, hay nói cách khác hệ thống thông tin kiểm tra hoạt động của người đại diện có khả năng kiềm chế hành vi cơ hội của người đại diện;
- Chi phí người đại diện càng lớn khi người đại diện sở hữu ít hoặc không sở hữu cổ phần sở hữu cổ phiếu của công ty hay nói cách khác sở hữu của người đại diện trong doanh nghiệp tăng lên thì hành vi cơ hội của người đại diện sẽ giảm đi
Nghiên cứu chuẩn tắc chỉ ra rằng trong trường hợp việc quan sát hoạt động của người đại diện không dễ dàng (liên quan với rủi ro đạo đức hay lựa chọn nghịch), người ủy quyền có hai sự lựa chọn Thứ nhất, xây dựng hệ thống thông tin để phát hiện hành vi của người đại diện (như xây dựng hệ thống ngân sách, quá trình báo cáo, hội đồng quản trị, các lớp bổ sung về quản trị); thứ hai là ký kết hợp đồng dựa trên kết quả hoạt động của người đại diện, tức là với một cái giá nào đó để chuyển rủi
ro đến người đại diện Kết quả hoạt động của người đại diện thường là không chắc chắn Khi sự không chắc chắn của kết quả thấp thì chi phí chuyển rủi ro đến người đại diện cũng thấp và hợp đồng dựa trên kết quả là hấp dẫn Tuy nhiên khi tính không chắc chắn của kết quả tăng lên, chi phí chuyển rủi
ro đến người đại diện tăng lên
Mâu thuẫn người chủ - người đại diện
Trong công ty cổ phần, đây được xem là loại mâu thuẫn cơ bản nhất do sự tách biệt giữa sở hữu
và quản lý trong mô hình doanh nghiệp hiện đại, các mâu thuẫn này gồm:
- Mâu thuẫn về lợi nhuận giữ lại
Lợi nhuận giữ lại là thu nhập sau thuế (nói chung) còn nằm trong cơ cấu tài chính doanh nghiệp Khoản tài chính này được công ty tích tụ từ năm này sang năm khác thành một giá trị lớn hoặc rất lớn
Lợi nhuận giữ lại năm N = lợi nhuân giữ lại năm N-1 + LNST – Cổ tức
Trang 7Lợi nhuận giữ lại được tính toán bằng cách thêm vào lợi nhuận giữ lại ban đầu (các năm trước đó) thu nhập thuần và trừ đi cổ tức trả cho các cổ đông
Trong hầu hết các trường hợp, công ty giữ lại lợi nhuận nhằm đầu tư vào các khu vực mà công
ty có thể tạo ra các cơ hội tăng trưởng tốt, thí dụ như mua máy móc thiết bị mới hoặc chi tiền chi nhiều hơn cho việc nghiên cứu và phát triển (R&D)
Nếu khoản lỗ trong năm nay lớn hơn thu nhập giữ lại ban đầu thì lợi nhuận giữ lại có thể là một
số âm, tạo nên một khoản thiếu hụt trong doanh nghiệp
Các cuộc họp cổ đông thường niên đều dành khá nhiều thời lượng cho những tranh luận về vấn
đề phân bổ lợi nhuận Các cổ đông thường muốn chia cổ tức tiền mặt, vì họ muốn trông thấy rõ hiệu quả và gặt hái từ việc đầu tư Trong khi người điều hành mong muốn giữ lại lợi nhuận nhiều hơn để phục vụ đầu tư phát triển công ty trong tương lai Điều đó sẽ khiến quy mô hoạt động của công ty được mở rộng , dẫn tới kết quả quyền của người điều hành lớn hơn, lợi ích nhiều hơn và vị trí của họ được củng cố hơn (Jensen 1986, 1993)
- Mâu thuẫn về dòng tiền
Mâu thuẫn lợi ích còn có thể phát sinh từ thời gian của dòng tiền Chủ sở hữu sẽ quan tâm tới tất cả các dòng tiền tương lai ở tất cả các thời điểm Tuy nhiên, người điều hành thông thường chỉ quan tâm tới dòng tiền của công ty trong thời gian hợp đồng làm việc của họ
Tâm lí này dẫn tới hiện tượng người đại diện (người quản lý) có xu hướng thích các dự án ngắn hạn hơn các dự án dài hạn với khả năng sinh lời cao hơn, bởi các dự án ngắn hạn có thể mang lại kết quả nhanh chóng và uy tín của họ cũng sẽ được tăng cường nhanh hơn
Trong khi chủ sở hữu của doanh nghiệp muốn dòng tiền được sử dụng linh hoạt, hiệu quả, do
đó họ muốn tập trung vào các dự án dài hạn với khả năng phát triển lâu dài và bền vững Chính điều này dẫn tới mâu thuẫn về dòng tiền giữa chủ sở hữu và người đại diện Nếu kết quả kinh doanh không được như mong muốn, sự mâu thuãn về dòng tiền có thể trở thành tác nhân dẫn đến việc nhà quản
lý đưa ra các thông tin không chính xác về tình hình hoạt động của doanh nghiệp để đánh lừa các cổ đông và các bên liên quan
- Mâu thuẫn về phân bổ rủi ro
Theo Denis (2000) người ủy quyền thường muốn chuyển giao càng nhiều rủi ro cho người đại diện càng tốt, trong khi vẫn muốn tối thiểu hóa chi phí quản lý Trong khi đó, người được ủy quyền muốn đảm nhiệm tối thiểu các yếu tố rủi ro, trong khi vẫn muốn nhận được nhiều hơn lợi ích từ công
ty
Câu 4: Trình bày nô ̣i dung lý thuyết hành vi có kế hoa ̣ch, cho ví du ̣ minh ho ̣a?
Lý thuyết hành vi có kế hoạch hay Lý thuyết hành vi hoạch định (tiếng Anh là Theory of Planned Behavior – TPB) là một lý thuyết thể hiện mối quan hệ giữa niềm tin và hành vi của một người nào
đó, trong đó niềm tin được chia làm ba loại: niềm tin hành vi tạo ra một thái độ hành vi (có thể tiêu cực hay tích cực), niềm tin theo chuẩn mực chung dẫn đến một chuẩn mực chủ quan, và niềm tin về
sự tự chủ làm phát sinh nhận thức kiểm soát hành vi
Cũng như những lý thuyết khác, sự ra đời của Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) là một công trình hữu ích giúp chúng ta có thể thấu hiểu, dự đoán và thay đổi hành vi xã hội của con người, từ đó
đã đóng góp một phần không nhỏ trong việc nghiên cứu liên quan đến những lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống: từ tâm lý học, chính trị đến kinh tế, xã hội, … Chính vì trung tâm của tất cả các lĩnh vực là con người, nên lý thuyết này càng trở nên hữu ích hơn khi nhấn mạnh vào hành vi của con người như thế
Trang 8Khái niệm này được khởi xướng bởi Icek Ajzen năm 1991, nhằm mục đích cải thiện khả năng
dự đoán của Lý thuyết về hành động hợp lý (Tiếng Anh: Theory of reasoned action) bằng cách bổ sung thêm vào mô hình nhân tố nhận thức về kiểm soát hành vi, mang lại nhiều ưu điểm trong việc
dự đoán và giải thích hành vi của một cá nhân trong một bối cảnh nhất định Nó được xem là một trong những lý thuyết được áp dụng và trích dẫn rộng rãi nhất về lý thuyết hành vi (Cooke & Sheeran, 2004) Lý thuyết đã được áp dụng cho các nghiên cứu trong các lĩnh vực khác nhau như quảng cáo, quan hệ công chúng, chiến dịch quảng cáo, y tế, thể thao,
Mô hình TPB giả định rằng một hành vi có thể được dự báo hoặc giải thích bởi các ý định để thực hiện hành vi đó Ajzen (1988) cho rằng ý định lại là một hàm của 3 nhân tố ảnh hưởng: Thứ nhất, các thái độ đối với hành vi; Thứ hai, là quy chuẩn chủ quan Thứ ba, nhận thức kiểm soát hành
vi Glanz và cộng sự (2008) cho rằng lý thuyết TPB là phù hợp đối với các nghiên cứu thực nghiệm trong việc xác định ra các yếu tố quan trọng để từ đó có thể đề xuất các chính sách, giải pháp - nó là một trong những mô hình tốt nhất để thực hiện các chính sách, giải pháp sau nghiên cứu
Theo nguyên tắc chung, thái độ đối với hành vi và tiêu chuẩn chủ quan càng thuận lợi, và nhận thức kiểm soát hành vi càng dễ dàng thì ý định thực hiện hành vi của người đó càng mạnh mẽ Và nếu một mức độ kiểm soát thực tế đối với hành vi đủ lớn thì họ có thể thực hiện ý định mỗi khi có cơ hội
Hình 1 Mô hình lí thuyết hành vi có kế hoạch
Hành vi (Behaviour): là phản ứng có thể quan sát được của một cá nhân trong một tình huống
nhất định đối với một mục tiêu nhất định Ajzen cho biết một hành vi là một chức năng của các ý định tương thích với nhận thức kiểm soát hành vi trong đó kiểm soát hành vi được nhận thức sẽ làm giảm bớt tác động của ý định đối với hành vi, do đó một dự định có lợi chỉ tạo ra hành vi khi nhận thức kiểm soát hành vi là mạnh mẽ
Ý định hành vi (Behavioural intention): một dấu hiệu cho thấy sự sẵn sàng của một cá nhân để
thực hiện một hành vi nhất định Nó được coi là tiền đề của việc thực hiện hành vi Nó dựa trên thái
độ đối với hành vi, quy chuẩn chủ quan và kiểm soát hành vi
Thái độ đối với hành vi (Attitude toward the Behavior)
Theo tâm lý học, thái độ là một tập hợp các cảm xúc, niềm tin và hành vi hướng đến một đối tượng, con người, đồ vật hay một sự kiện cụ thể nào đó Thái độ thường là kết quả của quá trình trải nghiệm hoặc nuôi dưỡng, và có thể ảnh hưởng mạnh mẽ lên hành vi Mặc dù thái độ thường tồn tại lâu dài nhưng chúng vẫn có thể thay đổi được
Thái độ đối với hành vi là đánh giá của một cá nhân về kết quả thu được từ việc thực hiện một hành vi cụ thể, ám chỉ mức độ đánh giá thuận lợi hay bất lợi về một hành vi của một cá nhân
* Chuẩn mực chủ quan (Subjective norm)
Trang 9Chuẩn mực chủ quan là nhận thức của con người về việc phải ứng xử thế nào cho phù hợp với yêu cầu của xã hội Đây là niềm tin của cá nhân về việc người khác sẽ nghĩ thế nào về hành động của mình Chuẩn mực chủ quan đại diện cho việc cá nhân tự nhận thức rằng những người quan trọng đối với việc ra quyết định của họ mong muốn họ thực hiện hoặc không thực hiện một hành động cụ thể nào đó
Nếu một người mong đợi và cho rằng hành động sẽ mang lại kết quả tích cực và cảm thấy những người quan trọng (có ảnh hưởng đối với cá nhân) khuyến khích, ủng hộ việc thực hiện hành động này thì ý định thực hiện hành động sẽ được hình thành Nói cách khác, cá nhân thực hiện hành động xuất phát từ một nguyên nhân cụ thể đó là kỳ vọng về kết quả tích cực của hành động và niềm tin vào việc những người xung quanh ủng hộ hành động của mình
Theo lý thuyết hành động hợp lý, thái độ được hình thành bởi hai nhân tố: (1) những niềm tin của cá nhân về những kết quả của hành động - là niềm tin về việc hành động sẽ mang lại những kết quả có những tính chất nhất định) và (2) đánh giá của người đó về kết quả này - là việc đánh giá giá trị liên quan đến đặc điểm của kết quả hành động
Chuẩn mực chủ quan được hình thành bởi hai nhân tố: (1) niềm tin mang tính chuẩn tắc - là cảm giác hay niềm tin về việc những người xung quanh ta có đồng tình hay không đồng tình với hành động của chúng ta và (2) động lực để tuân thủ theo những người có ảnh hưởng này ý định hay hành động của cá nhân có bị ảnh hưởng bởi ý nghĩ của những người xung quanh hay không
Theo Lutz, có hai mệnh đề quan trọng gắn với lý thuyết hành động hợp lý: (1) để dự đoán hành động của một người thì phải đo lường thái độ của người đó đối với việc thực hiện hành động này và (2) ngoài thái độ đối với hành động, lý thuyết hành động hợp lý còn nói tới nhân tố chuẩn mực chủ quan với vai trò là một tác nhân ảnh hưởng tới hành động Chuẩn mực chủ quan đo lường những ảnh hưởng xã hội đối với hành động của một người nào đó
* Nhận thức kiểm soát hành vi
Nhận thức kiểm soát hành vi là nhận thức của một cá nhân về sự dễ dàng hoặc khó khăn trong việc thực hiện hành vi cụ thể; điều này phụ thuộc vào sự sẵn có của các nguồn lực và các cơ hội để thực hiện hành vi Ajzen đề nghị rằng nhân tố nhận thức kiểm soát hành vi tác động trực tiếp đến xu hướng thực hiện hành vi, và nếu cá nhân nhận thức chính xác về mức độ kiểm soát của mình, thì kiểm soát hành vi còn dự báo cả hành vi
Như vậy, lý thuyết hành vi có kế hoạch chỉ ra ba nhân tố độc lập về mặt khái niệm quyết định nên ý định hành vi Đầu tiên là thái độ đối với hành vi, đó là mức độ mà mỗi cá nhân đánh giá cao hay thấp một hành vi nào đó Thứ hai là chuẩn mực chủ quan, đó là nhận thức về áp lực mà xã hội đặt lên cá nhân trong việc thực hiện hay không thực hiện hành vi Thứ ba là nhận thức về kiểm soát hành vi, đó là nhận thức về việc dễ hay khó để thực hiện một hành vi cụ thể Nhìn chung, thái độ đối với hành vi càng tích cực, chuẩn mực chủ quan càng ủng hộ việc thực hiện hành vi và nhận thức kiểm soát hành vi càng ít cản trở thì ý định thực hiện hành vi càng mạnh mẽ Tuy nhiên, tầm quan trọng của mỗi nhân tố trong ba nhân tố nêu trên không hoàn toàn tương đồngtrong những mối cảnh nghiên cứu hành vi khác nhau
Câu 5: Để ta ̣o ra lơ ̣i thế ca ̣nh tranh bền vững, nguồn lực trong doanh nghiê ̣p phải có đă ̣c tính gì? Cho ví du ̣ minh ho ̣a trong thực tế?
Theo quan điểm dựa trên nguồn lực (Resources based view) Barney cho rằng, một doanh nghiệp được cho là có lợi thế cạnh tranh khi doanh nghiệp đó có thể triển khai một chiến lược tạo ra giá trị
mà không được thực hiện đồng thời bởi bất cứ đối thủ cạnh tranh hiện tại và tiềm năng khác Một doanh nghiệp được nói là có lợi thế cạnh tranh bền vững khi nó đang triển khai một chiến lược tạo ra
Trang 10giá trị mà không được thực hiện đồng thời bởi bất cứ đối thủ cạnh tranh hiện tại hoặc tiềm năng, đồng thời các doanh nghiệp đối thủ này không thể thu được lợi ích tương tự khi thực hiện chiến lược nói trên
Hai định nghĩa này có một vài điểm cần lưu ý
Trước tiên, những định nghĩa này không tập trung duy nhất vào vị trí cạnh tranh của một doanh nghiệp đối đầu với những doanh nghiệp khác đã hoạt động thực sự trong ngành Nói một cách khác,
đối thủ cạnh tranh của một doanh nghiệp được giả định là tất cả các đối thủ cạnh tranh hiện tại và cả những đối thủ cạnh tranh tiềm năng có thể tham gia vào một ngành công nghiệp tại một thời điểm trong tương lai
Thứ hai, khái niệm lợi thế cạnh tranh bền vững không phụ thuộc vào khoảng thời gian mà một doanh nghiệp có được lợi thế cạnh tranh mà phụ thuộc vào tính khả thể của việc sao chép năng lực cạnh tranh Một lợi thế cạnh tranh được được gọi là bền vững chỉ khi lợi thế đó tiếp tục tồn tại sau khi tất cả những nỗ lực sao chép lợi thế đó đã dừng lại.Nói một cách khác, thời gian không phải là yếu tố xác định tính bền vững của một lợi thế cạnh tranh, mà tính bền vững được tạo ra bởi sự bất lực của những đối thủ cạnh hiện tại và tiềm tàng trong việc sao chép chiến lược đó tạo ra khả năng duy trì lợi thế cạnh trạnh
Cuối cùng, lợi thế cạnh tranh bền vững không có nghĩa là lợi thế cạnh tranh đó sẽ kéo dài mãi mãi Tại một thời điểm, những thay đổi không thể dự đoán từ hệ thống kinh tế của một ngành công nghiệp có thể khiến một nguồn lực đã từng giúp doanh nghiệp tạo dựng lợi thế cạnh tranh bền vững
sẽ không còn giá trị đối với doanh nghiệp đó, và chính vì thế nó sẽ không còn là một nguồn lực của bất kì lợi thế cạnh tranh nào Theo đó, lợi thế cạnh tranh bền vững có thể mất đi do những thay đổi lớn về mặt kĩ thuật và công nghệ dẫn tới sự thay đổi của cả một ngành
Có đă ̣c tính của nguồn lực theo mô hình VRIN
Nguồn lực hội tụ đủ các tiêu chuẩn VRIN sẽ giúp doanh nghiệp sở hữu nguồn lực dó tạo ra hiệu quả kinh doanh vượt trội và lợi thế cạnh tranh bền vững
Trong khung tiêu chuẩn VRIN, tiêu chuẩn có giá trị và hiếm là điều kiện cần để tạo ra lợi thế cạnh tranh, trong khi không thể bắt chước hoàn toàn và không thể thay thế là điều kiện đủ để duy trì lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp Khung tiêu chuẩn VRIN được tóm tắt trong hình:
(i) Có giá trị (ii) Hiếm (iii) Không thể bắt chước hoàn
toàn
- Lý do lịch sử
- Mối quan hệ nhân quả không được hiểu rõ
- Tính phức tạp về mặt xã hội
(iv) Không thể thay thế
Lợi thế cạnh tranh bền vững
- Khác biệt
nguồn lực
- Nguồn lực có
thể di chuyển