Phân loại phần tư thị trường của chuỗi cung ứng đó

Một phần của tài liệu Tiểu luận môn quản lý chuỗi cung ứng (Trang 22 - 26)

PHẦN 2. GIỚI THIỆU VỀ CHUỖI CUNG ỨNG CÔNG TY

2.3. Phân loại phần tư thị trường của chuỗi cung ứng đó

Như đã đề cập đến khái niệm ở phần Cơ sở lý luận, để phân loại được doanh nghiệp thuộc góc phần tư nào của thị trường, ta cần xem xét đến 2 yếu tố cơ bản là cung và cầu trong thị trường mà công ty đang phục vụ, mà cụ thể ở đây là thị trường Cà phê Việt Nam.

CẦU

Ngành cà phê có một thị trường rộng lớn trong nước và trên toàn thế giới, là một thức uống quen thuộc đối với đại đa số người tiêu dùng.Các vấn đề về phong tục tập quán, lối sống, trình độ dân trí, tín ngưỡng dường như cafe không là đồ uống bị cấm kị

ở bất cứ quốc gia nào, thông thường người tiêu dùng có thói quen sử dụng cafe vào buổi sáng, tuy nhiên đối với cafe sẽ có đặc tính khác biệt tùy theo từng quốc gia.

Theo VHLSS, Cà phê tại thị trường Việt Nam có đến 90% trong toàn bộ khối lượng thị trường tiêu thụ cà phê là những người dùng trung thành, chính vì thế khi đặt cà phê trong thị trường của chính nó, cà phê được coi là một loại hàng hoá thiết yếu, vì dù giá có tăng nhưng người yêu cà phê vẫn sẽ mua, chỉ có khoảng 10% những người dùng cà phê quyết định sự thay đổi của cầu khi giá thay đổi chính vì vậy có thể kết luận rằng: hàng hoá cà phê có cầu ít co giãn theo giá. Thêm Vào đó, cà phê không phải là một sản phẩm có giá quá cao so với phần đông dân số, giá biến động trong biên độ không lớn, vì vậy sự thay đổi của giá so với thu nhập là không đáng kể. Từ đó, có thể thấy thị hiếu người tiêu dùng vẫn rất thích cà phê.

Tiêu thụ cà phê đầu người tăng dần từ nhóm có thu nhập thấp nhất đến nhóm có thu nhập cao nhất và phổ biến ở thành thị (cao gần gấp 2 lần so với nông thôn). Tuy nhiên vào các dịp lễ Tết thì số lượng người tiêu dùng cà phê cũng tăng lên đáng kể.

Trong tổng loại thức uống được lựa chọn dùng trong 1 tuần ở Thành phố Hồ Chí Minh thì loại thức uống này chiếm tới 26%. Con số này có thể nói là khá cao so với hàng loạt loại thức uống mà thị trường hiện có 5,4% và 13,9%. Cà phê tiêu thụ ở Việt Nam được phân chia rõ ràng, cà phê rang xay chiếm ⅔ tổng lượng cà phê tiêu thụ, còn lại là cà phê hoà tan.

Hình 2.7. Sản lượng và tiêu thụ cà phê Việt Nam qua các năm

Theo như thống kê, có khoảng 19.2% người Việt Nam tiêu thụ cà phê, trong đó 47% tiêu thụ cà phê uống liền và 53% tiêu thụ cà phê bột. Lượng cà phê tiêu thụ bình quân đầu người tại Việt Nam khoảng 1.15kg/ người/ năm. Về người tiêu dùng, những khách hàng của cà phê thường rất trung thành, 65% người tiêu dùng có sử dụng cà phê Việt Nam uống cà phê 7 lần trên tuần. Theo báo cáo ngành nông nghiệp Việt Nam của BMI research, trong giai đoạn 2005-2015 lượng tiêu thụ cà phê của Việt Nam tăng trưởng từ 0,43kg trên đầu người/ năm lên 1,38kg trên đầu người/ năm. Đây là mức tăng trưởng cao nhất trong số các quốc gia xuất khẩu cà phê trên thế giới. Sản lượng tiêu thụ cà phê rang xay của Việt Nam trong niên vụ 2016-2017 đạt 2,5 triệu bao và tăng nhẹ lên 2,55 triệu bao trong niên vụ 2017-2018 do sự phát triển nhanh chóng của các cửa hàng cà phê. Đặc biệt, trong đại dịch COVID-19, khi nền kinh tế của toàn cầu bị ảnh hưởng nặng nề nhưng nhu cầu tiêu thụ cà phê vẫn không hề giảm mà ngày càng tăng. Việt Nam cũng không ngoại lệ, xu hướng tiêu dùng cà phê trong nước cũng tăng mạnh.

CUNG

Diện tích cà phê ở Việt Nam Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, diện tích cà phê củaViệt Nam trong giai đoạn từ 2015-2020 có nhiều biến động nhưng nhìn chung có xu hướng tăng. Như vậy, diện tích cà phê lớn đã đáp ứng

được nhu cầu của thị trường, không để rơi vào tình trạng thiếu hụt. Tuy nhiên, diện tích gieo trồng cà phê năm 2020 giảm vì nguyên nhân do một số diện tích cà phê vối tái canh chua cho thu hoạch và chuyển sang cây trồng hiệu quả như rau, hoa, và 1 số yếu tố khách quan khác…

Hình 2.8. Diện tích gieo trồng cà phê giai đoạn 2015 - 2020

Sản lượng cà phê: Lượng sản xuất của cà phê mỗi năm đều tăng đáng kể trong vòng 4 năm qua kể từ 2015 được thể hiện qua bảng số liệu sau

Hình 2.9. Sản lượng cà phê Việt Nam từ năm 2015 - 2020

Năng suất cà phê tăng liên tục qua các năm, nhìn vào năng suất có thể thấy nguồn cung của cà phê Việt không hề bị khan hiếm. Như vậy, Việt Nam đã đạt được mức tăng trưởng về sản lượng và diện tích. Chính vì vậy, Việt Nam đã đứng thứ 2 thế giới về lượng tiêu thụ café chỉ sau Brazil.

Số lượng các nhà sản xuất trong ngành Cả nước có 97 cơ sở chế biến cà phê nhân, 160 cơ sở chế biến cà phê rang xay, 8 cơ sở chế biến cà phê hòa tan và 11 cơ sở chế biến cà phê phối trộn. Cụ thể, gồm có: 97 cơ sở chế biến cà phê nhân - với tổng công suất thiết kế 1,503 triệu tấn,tổng công suất thực tế đạt 83,6%; 160 cơ sở chế biến cà phê rang xay - tổng công suất thiết kế 51,7 nghìn tấn sản phẩm/năm; 8 cơ sở chế biến cà phê hòa tan tổng công suất thiết kế 36,5 nghìn tấn sản phẩm/năm, tổng công suất thực tế đạt 97,9%;11 cơ sở chế biến cà phê phối trộn - tổng công suất thiết kế 139,9 nghìn tấn sản phẩm/năm, tổng công suất thực tế đạt 81,6%. Như vậy, với nguồn lực sản xuất dồi dào, cà phê có thể đáp ứng đươc nhu cầu của thị trường nội địa và xuất khẩu, đem lại nhiều giá trị to lớn.

Ngoài ra, Ngành công nghiệp cà phê hiện nay có tác động rất lớn đến đời sống kinh tế xã hội và môi trường. Bởi vậy, việc ứng dụng khoa học – công nghệ trong quá trình sản xuất là điều cần thiết bởi người nông dân và nhà sản xuất toàn cầu luôn gặp nhiều khó khăn trong việc kiểm soát giá cả và mùa vụ chịu ảnh hưởng nhiều bởi biến đổi khí hậu. Nhờ việc ứng dụng khoa học – công nghệ, người nông dân hiểu hơn về nhu cầu dinh dưỡng,nước tưới, chăm sóc của cây cà phê từ đó thay đổi tập quán canh tác theo hướng sản xuất cà phê nhiều hơn với chi phí thấp hơn dựa vào việc quản lý vườn cây hợp lý. Như vậy, nhờ có công nghệ kĩ thuật phát triển mạnh mẽ mà sản lượng cà phê tăng dẫn đến cung cà phê tăng.

Như vậy, qua số lượng và phân tích ở trên về cả 2 khia cạnh là cung và cầu, ta có thể thấy rõ trên cầu và cung về cà phê trên thị trường cà phê Việt Nam đều cao. Chính 2 kết quả này đã giúp ta xác định được chuỗi cung ứng của Vinacafe đang nằm trong góc phần tư của thị trường ( cả cung và cầu đều cao).

Một phần của tài liệu Tiểu luận môn quản lý chuỗi cung ứng (Trang 22 - 26)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(37 trang)