Tuynhiên, sau gần 05 năm thi hành, Luật Doanh nghiệp 2014 đã bộc lộ một số vấn đề bấtcập, hạn chế như: Người thành lập doanh nghiệp kê khai không đúng địa chỉ trụ sởchính của doanh nghiệ
Trang 1ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA LUẬT -*** -
BÀI TẬP LỚN
MÔN HỌC PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆPTên bài tập: Phân tích những điểm mới trong quy định của Luật Doanh nghiệp 2020 so với Luật Doanh nghiệp
2014 về công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh
và tổ chức lại, giải thể, phá sản doanh nghiệp
Người hướng dẫn : PGS TS Bùi Ngọc Sơn
Hà Nội, tháng 12 - 2021
Trang 2ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA LUẬT -*** -
BÀI TẬP LỚN
MÔN HỌC PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆPTên bài tập: Phân tích những điểm mới trong quy định của Luật Doanh nghiệp 2020 so với Luật Doanh nghiệp
2014 về công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh
và tổ chức lại, giải thể, phá sản doanh nghiệp
Người hướng dẫn : PGS TS Bùi Ngọc Sơn
Hà Nội, tháng 12 - 2021
Trang 3DANH SÁCH NHÓM
-Duyệt và kiểm tra lại bài
Phương
-Phân tích những điểm mớitrong quy định về công ty tráchnhiệm hữu hạn (Mục 1 ChươngII)
-Duyệt và kiểm tra lại bài
-Duyệt và kiểm tra lại bài
Thảo
-Phân tích những điểm mới bài trễ
Trang 5Phương trong quy định về công ty trách
nhiệm hữu hạn (Mục 1 ChươngII)
-Duyệt và kiểm tra lại bài
27 Trần Thị 2011810036 -Viết phần Sơ lược về Luật 10
Phương
-Phân tích những điểm mớitrong quy định về công ty tráchnhiệm hữu hạn (Mục 1 ChươngII)
-Duyệt và kiểm tra lại bài
28 Trần Anh 1712210269 -Viết phần Sự cần thiết phải 9 Nộp
2020-Phân tích những điểm mớitrong quy định về công ty tráchnhiệm hữu hạn (Mục 1 ChươngII)
-Duyệt và kiểm tra lại bài
Thu
-Phân tích những điểm mới vềTrang
Trang 6doanh nghiệp (Mục 3 ChươngII)
-Duyệt và kiểm tra lại bài
31 Hoàng 2014810066 -Sưu tầm, tổng hợp tài liệu 10
Yến
-Phân tích những điểm mới về
tổ chức lại, giải thể, phá sảndoanh nghiệp (Mục 3 ChươngII)
-Duyệt và kiểm tra lại bài
32 Lê Hải 2014810067 -Phân công viết các phần còn 10 Nhóm
điểm mới (Chương II)-Viết phần Những hạn chế củaLuật Doanh nghiệp 2014-Phân tích những điểm mới về
tổ chức lại, giải thể, phá sảndoanh nghiệp (Mục 3 ChươngII)
-Duyệt và kiểm tra lại bài
Linh
-Phân tích những điểm mới về
tổ chức lại, giải thể, phá sảndoanh nghiệp (Mục 3 ChươngII)
-Duyệt và kiểm tra lại bài
Trang 8MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 3
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ LUẬT DOANH NGHIỆP 2014 VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA LUẬT DOANH NGHIỆP 2020 3
1.1 Sơ lược về Luật Doanh nghiệp 2014 3
1.2 Những hạn chế của Luật Doanh nghiệp 2014 5
1.3 Sự cần thiết phải ban hành Luật Doanh nghiệp 2020 12
CHƯƠNG 2: NHỮNG ĐIỂM MỚI TRONG QUY ĐỊNH CỦA LUẬT DOANH NGHIỆP 2020 VỀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN, CÔNG TY HỢP DANH VÀ TỔ CHỨC LẠI, GIẢI THỂ, PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP 15
2.1 Điểm mới trong quy định về công ty trách nhiệm hữu hạn 15
2.1.1 Điểm mới trong quy định về công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên 15
2.1.2 Điểm mới trong quy định về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 29
2.2 Điểm mới trong quy định về công ty hợp danh 32
2.3 Điểm mới về tổ chức lại, giải thể, phá sản doanh nghiệp 34
CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT VỀ CÁC ĐIỂM MỚI TRONG QUY ĐỊNH CỦA LUẬT DOANH NGHIỆP 2020 VỀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN, CÔNG TY HỢP DANH VÀ TỔ CHỨC LẠI, GIẢI THỂ, PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP 45
KẾT LUẬN 49
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
Kể từ khi Đạo luật đầu tiên về doanh nghiệp ra đời vào năm 1999 (dựa trên sựhợp nhất của Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty 1990), phụ thuộc vào sự thayđổi của tình hình kinh tế xã hội, tính đến nay, Luật Doanh nghiệp đã trải qua 03 lầnthay thế: Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Doanh nghiệp 2014 và Luật Doanh nghiệp
2020 Trong đó có thể nói Luật Doanh nghiệp 2014 đã và đang góp phần trong việc tạohành lang pháp lý an toàn, thông thoáng đối với việc thành lập, tổ chức và hoạt độngcủa doanh nghiệp, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh ở nước ta hiện nay Tuynhiên, sau gần 05 năm thi hành, Luật Doanh nghiệp 2014 đã bộc lộ một số vấn đề bấtcập, hạn chế như: Người thành lập doanh nghiệp kê khai không đúng địa chỉ trụ sởchính của doanh nghiệp hoặc địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp không phù hợp vớiquy định của pháp luật; sổ đăng ký thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thànhviên trở lên;… Tất cả những vấn đề này đang gây khó khăn cho bản thân doanh nghiệpcũng như các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan, đòi hỏi cần phải có những giảipháp khắc phục trong thời gian tới
So với Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2020 ra đờinhằm tác động tích cực đến việc thúc đẩy phát triển doanh nghiệp, thu hút vốn đầu
tư và nâng cao quản trị doanh nghiệp, hướng tới sự phát triển bền vững của doanhnghiệp chứ không kỳ vọng tăng cao số lượng doanh nghiệp Bộ luật đã có nhiều nộidung sửa đổi mang tính đột phá, đổi mới cơ bản về các quy định của Nhà nước đốivới doanh nghiệp, thể chế hóa những quan điểm, chủ trương mới của Đảng về cảicách kinh tế; nhất quán với tiến trình cắt giảm thủ tục hành chính và tạo thuận lợihơn cho việc đăng ký doanh nghiệp; bổ sung các quy định không được thành lập vàquản lý doanh nghiệp; cập nhật kịp thời các quy định mới phù hợp với xu hướngphát triển nền kinh tế thị trường; đồng thời, nội luật hóa các quy định có liên quantrong các Điều ước quốc tế nước ta là thành viên, góp phần tạo cơ sở pháp lý đầy
đủ, thuận lợi cho việc hợp tác quốc tế của các doanh nghiệp trong và ngoài nước.Nhận thấy những điểm mới nổi bật trong Luật Doanh nghiệp 2020, nhómchúng em đã lựa chọn đề tài “Phân tích những điểm mới trong quy định của LuậtDoanh nghiệp 2020 so với Luật Doanh nghiệp 2014 về công ty trách nhiệm hữu
Trang 10hạn, công ty hợp danh và tổ chức lại, giải thể, phá sản doanh nghiệp” làm vấn đềnghiên cứu cho bài báo cáo bộ môn Pháp luật doanh nghiệp của mình Qua bài báocáo so sánh, phân tích, chúng em mong rằng thông qua việc vận dụng những kiếnthức đã học, tham khảo từ tài liệu và những trường hợp thực tế, chúng em có thểphần nào góp phần trong vấn đề xây dựng phát triển doanh nghiệp tại Việt Nam.Mặc dù nhóm chúng em đã cố gắng tìm hiểu song do kiến thức còn nhiều hạnchế nên chắc chắn không thể tránh khỏi những sai sót Vì vậy chúng em rất mongthầy góp ý bổ sung để chúng em có thể hoàn thiện thêm kiến thức của mình Chúng
em xin cảm ơn sâu sắc nhất đến giảng viên giảng dạy, PGS.TS Bùi Ngọc Sơn đãnhiệt tình giải đáp, chỉ dạy để chúng em có thể hoàn thành bài báo cáo một cáchtrọn vẹn nhất!
Trang 11NỘI DUNG CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ LUẬT DOANH NGHIỆP 2014 VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA LUẬT DOANH NGHIỆP 2020
1.1 Sơ lược về Luật Doanh nghiệp 2014
Hoàn cảnh ra đời
Luật Doanh nghiệp 2014 được Quốc hội khóa 13 thông qua ngày 26/11/2014
đã được phổ biến tới các doanh nghiệp, với mục tiêu cao nhất là đưa doanh nghiệptrở thành một công cụ kinh doanh với chi phí hợp lý hơn, an toàn hơn và hấp dẫnhơn cho các nhà đầu tư để qua đó tăng cường thu hút và huy động hơn nữa mọinguồn lực và vốn đầu tư vào sản xuất, kinh doanh Trên cơ sở kế thừa và phát huynhững kết quả đã đạt được của Luật Doanh nghiệp 1999 và Luật Doanh nghiệp
2005, đồng thời khắc phục những điểm hạn chế, bất cập của quy định hiện hành vàthể chế hóa các vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn, Luật Doanh nghiệp 2014 đã cónhững quy định mới nhằm tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi hơn nữa chodoanh nghiệp
Sau cuộc đột phá về thể chế của văn bản mang tên “Luật Doanh nghiệp 1999”,thì Luật Doanh nghiệp 2014 được coi là cuộc đột phá thể chế lần hai, thể hiện đúngtinh thần Hiến pháp 2013 về quyền tự do kinh doanh của công dân, của doanhnghiệp, theo đó, những gì luật pháp không cấm thì người dân, doanh nghiệp được tự
do đầu tư, kinh doanh
Luật Doanh nghiệp 2014 hướng tới sự phù hợp với thực tế kinh doanh hiện tạicủa doanh nghiệp và tháo gỡ nhiều khó khăn, hạn chế góp phần tạo điều kiện mở ramột môi trường kinh doanh thuận lợi phù hợp với thông lệ thế giới
Thực tiễn áp dụng
Luật Doanh nghiệp 2014 sẽ có hiệu lực từ 01/07/2015
Luật Doanh nghiệp 2014 với nhiều cải cách đáng kể, trao quyền tự chủ nhiềuhơn cho doanh nghiệp đã đi vào thực tiễn Số lượng doanh nghiệp thành lập mớitrong thời gian đầu tăng cao liên tục so với cùng kỳ các năm trước Đây là tín hiệu
Trang 12tốt cho nền kinh tế của đất nước Luật Doanh nghiệp 2014 đã góp phần trong việctạo hành lang pháp lý an toàn, thông thoáng đối với việc thành lập, tổ chức và hoạtđộng của doanh nghiệp, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh ở nước ta.
Giải phóng quyền tự do kinh doanh
Với tư tưởng cải cách sâu rộng, Luật Doanh nghiệp đã lan tỏa một luồng sinhkhí mới cho môi trường kinh doanh Trong suốt 12 tháng triển khai vừa qua, sốlượng doanh nghiệp gia nhập thị trường tăng liên tục hai con số so với cùng kỳ và
số vốn cam kết đưa vào thị trường duy trì ở mức cao cho thấy doanh nghiệp vẫntiếp tục tin tưởng và nhìn thấy nhiều cơ hội kinh doanh từ thị trường Báo cáo tạiHội nghị, Ông Bùi Anh Tuấn - Phó Cục trưởng Cục Quản lý đăng ký kinh doanhcho biết, những quy định mang tính cải cách mạnh mẽ của Luật Doanh nghiệp “giảiphóng quyền tự do kinh doanh” Trong vòng 01 năm từ khi thực hiện Luật Doanhnghiệp (1/7/2015 - 1/7/2016), cả nước đã có hơn 105.975 doanh nghiệp được thànhlập mới, với số vốn 767.900 tỷ đồng, bình quân vốn là 7,25 tỷ đồng/doanh nghiệp.Như vậy, số doanh nghiệp thành lập mới tăng 27,8%, vốn đăng ký mới cũng tăngtrên 42% và bình quân vốn tăng 11% so với cùng kỳ năm trước Cùng với đó, trongtrong giai đoạn này cũng đã có 23.950 lượt doanh nghiệp tăng vốn điều lệ với tổng
số vốn đăng ký tăng thêm là 690 nghìn tỷ đồng
Thủ tục hành chính thuận lợi, thân thiện
Bên cạnh việc phát huy nội lực của cộng đồng doanh nghiệp, nỗ lực của hệthống cơ quan đăng ký đầu tư, đăng ký kinh doanh đã đóng góp một phần lớn tạonên những chuyển biến mạnh mẽ này Trong đó, sự thay đổi đáng kể nhất là chất
Trang 13lượng dịch vụ công thể hiện ở thời gian tiếp nhận, xử lý hồ sơ, thủ tục đăng ký kinhdoanh và thái độ, tính chuyên nghiệp của cán bộ nghiệp vụ tại các địa phương HàTĩnh là địa phương xử lý hồ sơ doanh nghiệp nhanh nhất chỉ trong 01 ngày; TiềnGiang là 1,3 ngày; Hậu Giang là 1,32 ngày và Đà Nẵng là 2,52 ngày Thời giantrung bình xử lý hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp mới của cả nước là 2,9 ngày.
Tỷ lệ hồ sơ được chấp thuận ngay lần đầu tiên và tỷ lệ hồ sơ được trả kết quả đúnghẹn cũng tăng lên đáng kể
Tỷ lệ sử dụng dịch vụ đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử cũng đã đượccải thiện; trong đó, Thủ đô Hà Nội đạt bước tiến ấn tượng nhất, chỉ trong một thờigian ngắn đã trở thành địa phương có số lượng hồ sơ đăng ký doanh nghiệp caonhất trên cả nước, đạt tỷ lệ 40%
Tại một số địa phương đã áp dụng những sáng kiến tốt nhằm tạo điều kiệnthuận lợi trong thực hiện thủ tục hành chính về đăng ký kinh doanh cho doanhnghiệp trên địa bàn
Ở các tỉnh thành phố, từ cán bộ đến lãnh đạo Sở Kế hoạch và Đầu tư thườngxuyên trao đổi, vận động doanh nghiệp tìm hiểu, thực hiện đăng ký doanh nghiệp quamạng điện tử Khi lần đầu doanh nghiệp đến làm thủ tục, nếu chưa biết đến tiện ích trênthì sẽ được cán bộ đăng ký kinh doanh hướng dẫn về việc lựa chọn nộp hồ sơ giấy hay
hồ sơ qua mạng Nếu doanh nghiệp chọn nộp hồ sơ qua mạng thì nhân viên ngồi tạiquầy, hỗ trợ chi tiết cho đến khi doanh nghiệp khai xong hồ sơ trên máy Sau lần đầutiên, doanh nghiệp hoàn toàn có thể ngồi tại nhà để thực hiện thủ tục Doanh nghiệp nộp
hồ sơ qua mạng sẽ được giải quyết trong vòng 02 ngày thay vì 03 ngày như quy định
1.2 Những hạn chế của Luật Doanh nghiệp
2014 Về việc đăng ký kinh doanh
Tại Điều 3 Luật Doanh nghiệp năm 2014 có quy định về áp dụng Luật Doanhnghiệp và các luật chuyên ngành, mà theo đó: “Trường hợp luật chuyên ngành cóquy định đặc thù về việc thành lập, tổ chức quản lý, tổ chức lại, giải thể và hoạtđộng có liên quan của doanh nghiệp thì áp dụng quy định của Luật đó.” Nhưng hiện
5
Trang 14nay, hoạt động luật sư, công chứng, giám định, giáo dục và đào tạo, trọng tài thươngmại, cũng đã được xác định rõ là các ngành, nghề đầu tư kinh doanh theo LuậtĐầu tư năm 2014 Tuy nhiên các ngành, nghề này lại không được đăng ký kinhdoanh tại Cơ quan đăng ký kinh doanh, mà chỉ được thực hiện việc cấp giấy phép
và đăng ký hoạt động riêng theo Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm2012); Luật Công chứng năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); Luật Giám định tưpháp năm 2012, Luật Giáo dục đại học năm 2012; Luật Giáo dục nghề nghiệp năm
2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), Luật Trọng tài thương mại năm 2010; Hậu quả
là nhiều tổ chức hành nghề luật sư, như công ty luật và tổ chức khác hoạt động nhưmột doanh nghiệp, nhưng lại hoàn toàn không có thông tin trên “Cơ sở dữ liệu quốcgia về đăng ký doanh nghiệp” theo quy định tại khoản 6, Điều 4 về Giải thích từngữ của Luật Doanh nghiệp năm 2014.Tương tự, ngân hàng thương mại, công ty tàichính thì đăng ký doanh nghiệp như các doanh nghiệp khác, trong khi Công ty bảohiểm, là một doanh nghiệp điển hình, thì lại không thực hiện thủ tục này Vì theoĐiều 65 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010), quyđịnh: “Giấy phép thành lập và hoạt động đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinhdoanh.” Trong khi đó, hộ kinh doanh hay hợp tác xã, tuy không được xác định làdoanh nghiệp theo theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 hay Luật Hợptác xã năm 2012, nhưng vẫn thực hiện việc đăng ký kinh doanh như đối với doanhnghiệp Do vậy, đề nghị xem xét quy định này của Luật Doanh nghiệp năm 2014hoặc Luật Đầu tư năm 2014 theo hướng yêu cầu thống nhất đăng ký kinh doanh tậptrung đối với tất cả các công ty và tổ chức có hoạt động kinh doanh
Về việc kê khai địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp khi thực hiện thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp
Theo quy định tại khoản 7, Điều 4 Luât Doanh nghiêp 2014, doanh nghiệp là “tổchức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy địnhcủa pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” Trụ sở giao dịch của doanh nghiệp khônghẳn chỉ là một địa chỉ để các khách hàng đến giao dịch, đây còn là nơi tập trung hệthống các cơ quan đầu não của doanh nghiêp Đồng thời, nó cũng là một trong nhữngminh chứng quan trọng cho sự tồn tại trên thực tế của doanh nghiêp Để xác định đượcđịa chỉ trụ sở giao dịch của doanh nghiệp, khi quy định về
Trang 15nội dung của giấy đề nghị đăng kí doanh nghiêp, khoản 2, Điều 24 Luât Doanhnghiêp 2014 đã quy định người đăng kí doanh nghiêp phải tiến hành kê khai địa chỉtrụ sở chính của mình Tuy nhiên, trên thực tế, đã có không ít trường hợp ngườiđăng ký thành lập doanh nghiệp đã kê khai không đúng địa chỉ như: Ghi địa chỉ ởmột nơi nhưng thực tế đặt trụ sở chính tại một nơi khác; lấy địa chỉ nhà riêng củangười khác hoàn toàn không liên quan đến doanh nghiệp làm địa chỉ trụ sở chínhcho công ty mình hoặc lấy địa chỉ nhà chung cư (có mục đích để ở) làm địa chỉ trụ
sở chính của Doanh nghiệp Chính điều này đã khiến các cơ quan nhà nước (như cơquan thuế, công an,…) khó liên hệ công tác và kiểm soát, sinh ra các hệ lụy “dởkhóc dở cười” Bên cạnh đó, hiện tượng lấy địa chỉ nhà chung cư (có mục đích đểở) làm địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp là hành vi vi phạm pháp luật về nhà ở.Bởi lẽ, theo quy định của pháp luật về nhà ở, nhà chung cư có hai loại: Loại để ở vàloại có mục đích sử dụng hỗn hợp - là vừa để ở và vừa kinh doanh Tuy nhiên, tạikhoản 11, Điều 6 Luật nhà ở năm 2014 có quy định nghiêm cấm việc “sử dụng căn
hộ chung cư vào mục đích không phải để ở; sử dụng phần diện tích được kinhdoanh trong nhà chung cư theo dự án được phê duyệt vào mục đích kinh doanh vậtliệu gây cháy, nổ, kinh doanh dịch vụ gây ô nhiễm môi trường, tiếng ồn hoặc cáchoạt động khác làm ảnh hưởng đến cuộc sống của các hộ gia đình, cá nhân trongnhà chung cư theo quy định của Chính phủ” Do đó, nhà chung cư có mục đích để ởkhông được phép sử dụng làm địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp Nguyên nhândẫn đến tình trạng này là do pháp luật doanh nghiệp hiện hành trao cho người đăng
ký toàn quyền kê khai địa chỉ mà thiếu xác minh đối chiếu Tức là, thực hiện theothủ tục “tiền buông hậu kiểm”, đến khi có vấn đề xảy ra thì cơ quan chức năng rấtkhó có thể liên lạc được với doanh nghiệp
Về sổ đăng ký thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên
Theo quy định tại Điều 49 Luật Doanh nghiệp 2014 thì “Công ty phải lập sổđăng ký thành viên ngay sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
Sổ đăng ký thành viên phải có các nội dung chủ yếu sau đây: a) Tên, mã số doanhnghiệp, địa chỉ trụ sở chính của công ty; b) Họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, sốThẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá
Trang 16nhân hợp pháp khác đối với thành viên là cá nhân; tên, số quyết định thành lập hoặc
mã số doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở chính đối với thành viên là tổ chức; c) Phần vốngóp, giá trị vốn đã góp, thời điểm góp vốn, loại tài sản góp vốn, số lượng, giá trị củatừng loại tài sản góp vốn của từng thành viên; d) Chữ ký của thành viên là cá nhânhoặc của người đại diện theo pháp luật của thành viên là tổ chức; đ) Số và ngày cấpgiấy chứng nhận phần vốn góp của từng thành viên” Theo tinh thần của Điều luậtnày, sổ đăng ký thành viên chỉ đóng vai trò là nơi lưu giữ các thông tin cần thiết liênquan đến cá nhân, tổ chức góp vốn vào công ty và các thông tin liên quan đến phầnvốn góp của họ Nếu có biến động khi trong công ty có thành viên chuyển nhượngmột phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình cho người ngoài công ty hoặc công
ty tiếp nhận thêm thành viên mới để tăng vốn điều lệ thì thành viên mới đó chỉ trởthành thành viên chính thức của công ty khi công ty hoàn tất xong thủ tục đăng kýthay đổi thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên (Điều 45Nghị định số 78/2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp) Trong khi đó, đốivới công ty cổ phần, khi có sự thay đổi về tư cách cổ đông trong công ty, họ khôngcần phải làm thủ tục đăng ký thay đổi cổ đông tại phòng đăng ký kinh doanh nữa
mà tư cách cổ đông đã được xác lập vào thời điểm khi bên bán được thanh toán đủ
và những thông tin về người mua quy định tại khoản 2, Điều 121 của Luật Doanhnghiệp 2014 được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký cổ đông Kể từ thời điểm đó, ngườimua cổ phần trở thành cổ đông của công ty Quy định này giúp công ty cổ phầngiảm bớt được thủ tục thông báo thay đổi cổ đông đến cơ quan đăng ký kinh doanh,tiết kiệm được thời gian và chi phí Do đó, việc bổ sung thêm vai trò của sổ đăng kýthành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên để tiết giảm về thờigian, chi phí cho loại hình công ty này cũng cần phải được tính đến
Về cơ cấu tổ chức công ty cổ phần
Theo quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 134 Luật Doanh nghiệp 2014, Công
ty cổ phần có quyền lựa chọn tổ chức quản lý và hoạt động theo một mô hình: “Đạihội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Trường hợpnày ít nhất 20% số thành viên Hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập và cóBan kiểm toán nội bộ trực thuộc Hội đồng quản trị Các thành viên độc lập thựchiện chức năng giám sát và tổ chức thực hiện kiểm soát đối với việc quản lý điều
Trang 17hành công ty” Trong mô hình tổ chức này, có sự xuất hiện của Ban kiểm toán nội
bộ Ban này có chức năng “giám sát và tổ chức thực hiện kiểm soát đối với việcquản lý điều hành công ty” Tức là, Ban kiểm toán nội bộ phải hỗ trợ Đại hội đồng
cổ đông giám sát việc quản lý, điều hành công ty của Hội đồng quản trị, Giám đốchoặc Tổng giám đốc và các cấp quản lý điều hành khác trong công ty Tuy nhiên,quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 134 Luật Doanh nghiệp 2014 lại quy định Bankiểm toán nội bộ phải trực thuộc Hội đồng quản trị, tức là Ban này do Hội đồngquản trị lập ra và thực hiện nhiệm vụ được Hội đồng quản trị giao phó Điều nàykhiến cho việc thực hiện nhiệm vụ kiểm soát của Ban đối với hoạt động của Hộiđồng quản trị gặp rất nhiều khó khăn, “ngược” với lẽ thường nếu không muốn nói là
bị tê liệt Không những vậy, Luật Doanh nghiệp năm 2014 và các văn bản hướngdẫn thi hành cũng không có bất cứ quy định nào về cơ cấu tổ chức quản lý của Bankiểm toán nội bộ, trách nhiệm của Ban kiểm toán nội bộ, điều kiện, tiêu chuẩnthành viên và Trưởng Ban kiểm toán nội bộ, các chế độ về lương lẫn các quyền lợicủa thành viên Ban kiểm toán nội bộ, việc bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên
và Trưởng Ban kiểm toán nội bộ;… Điều này khiến các công ty cổ phần gặp nhiềukhó khăn, dung túng khi muốn áp dụng mô hình vào cơ cấu tổ chức quản lý công ty
Về vấn đề họp Hội đồng quản trị công ty cổ phần
Theo quy định tại khoản 8, Điều 153 Luật Doanh nghiêp 2014 thì “Cuộc họpHội đồng quản trị được tiến hành khi có từ ba phần tư tổng số thành viên trở lên dựhọp Trường hợp cuộc họp được triệu tập theo quy định khoản này không đủ sốthành viên dự họp theo quy định thì được triệu tập lần thứ hai trong thời hạn 07ngày, kể từ ngày dự định họp lần thứ nhất, trừ trường hợp Điều lệ quy định thời hạnkhác ngắn hơn Trường hợp này, cuộc họp được tiến hành, nếu có hơn một nửa sốthành viên Hội đồng quản trị dự họp” Theo tinh thần của quy định này, cuộc họpHội đồng quản trị chỉ được tiến hành khi có từ 3/4 tổng số thành viên dự họp (đốivới lần triệu tập thứ nhất) và khi có hơn 1/2 thành viên Hội đồng quản trị dự họp(đối với lần triệu tập họp thứ hai ngay sau lần thứ nhất) Tuy nhiên trên thực tế, sẽ
có không ít trường hợp người có thẩm quyền triệu tập cuộc họp Hội đồng quản trị
đã gửi thông báo mời họp hợp lệ đến các thành viên 02 lần nhưng vẫn không tiến
Trang 18hành họp được do không đủ số lượng, làm ảnh hưởng đến quá trình điều hành hoạtđộng của công ty, phương hại đến lợi ích của các cổ đông trong công ty.
Về hợp đồng, giao dịch phải được Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị chấp thuận
Điều 162 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định về trường hợp mà những hợpđồng, giao dịch của doanh nghiệp phải được Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồngquản trị chấp thuận Theo đó thì những hợp đồng, giao dịch giữa công ty với các đốitượng sau đây phải được Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị chấp thuận:a) Cổ đông, người đại diện ủy quyền của cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông của công ty và những người có liên quan của họ;
b) Thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người có liên quan của họ;
c) Doanh nghiệp quy định tại khoản 2, Điều 159 Luật này
Quy định này đặt ra nhằm mục đích hạn chế những rủi ro có thể xảy ra chodoanh nghiệp khi ký kết hợp đồng với những người có quyền và lợi ích liên quantrực tiếp hoặc gián tiếp tới nội dung hợp đồng đó
Tuy nhiên, phạm vi hạn chế của Điều luật này quá rộng mà đặc biệt là tại điểm
c, khoản 1, Điều 162 Quy định là:
"Doanh nghiệp quy định tại khoản 2, Điều 159 Luật này” Cụ thể, tại khoản 2,Điều 159 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định như sau: “Thành viên Hội đồng quảntrị, Kiểm soát viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác của công
ty phải kê khai các lợi ích liên quan của họ với công ty, bao gồm:
a) Tên, mã số doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở chính, ngành, nghề kinh doanh củadoanh nghiệp mà họ có sở hữu phần vốn góp hoặc cổ phần; tỷ lệ và thời điểm sở hữuphần vốn góp hoặc cổ phần đó;
b) Tên, mã số doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở chính, ngành, nghề kinh doanh củadoanh nghiệp mà những người có liên quan của họ cùng sở hữu hoặc sở hữu riêng phầnvốn góp hoặc cổ phần trên 10% vốn điều lệ”
Trang 19Theo quy định trên thì phạm vi mà những Hợp đồng, giao dịch phải được Đạihội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị chấp thuận sẽ rất rộng mà đặc biệt lànhững doanh nghiệp mà những người có liên quan của họ cùng sở hữu hoặc sở hữuriêng phần vốn góp hoặc cổ phần trên 10% vốn điều lệ.
Ngoài ra, theo quy định tại khoản 17, Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014 thì
“Người có liên quan là tổ chức, cá nhân có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp vớidoanh nghiệp trong các trường hợp sau đây:
a) Công ty mẹ, người quản lý công ty mẹ và người có thẩm quyền bổ nhiệm người quản lý đó đối với công ty con trong nhóm công ty;
b) Công ty con đối với công ty mẹ trong nhóm công ty;
c) Người hoặc nhóm người có khả năng chi phối việc ra quyết định, hoạt độngcủa doanh nghiệp đó thông qua cơ quan quản lý doanh nghiệp;
d) Người quản lý doanh nghiệp;
đ) Vợ, chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chịruột, em ruột, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người quản lý công ty hoặc củathành viên, cổ đông sở hữu phần vốn góp hay cổ phần chi phối;
e) Cá nhân được ủy quyền đại diện cho những người, công ty quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản này;
g) Doanh nghiệp trong đó những người, công ty quy định tại các điểm a, b, c,
d, đ, e và h khoản này có sở hữu đến mức chi phối việc ra quyết định của các cơ quanquản lý ở doanh nghiệp đó;
h) Nhóm người thỏa thuận cùng phối hợp để thâu tóm phần vốn góp, cổ phần hoặc lợi ích ở công ty hoặc để chi phối việc ra quyết định của công ty.”
Với những dẫn chứng nêu trên có thể thấy những hợp đồng, giao dịch phảiđược Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị chấp thuận sẽ rất rộng Vậy cócần thiết phải quy định một phạm vi rộng như vậy không hay là nên thu hẹp lại đểtạo điều kiện cho các doanh nghiệp có thể hoạt động tự do hơn
Trang 20Cũng theo quy định tại Điều này thì: “Hội đồng quản trị chấp thuận các hợpđồng và giao dịch có giá trị nhỏ hơn 35% tổng giá trị tài sản doanh nghiệp ghi trongbáo cáo tài chính, gần nhất hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công
ty Trường hợp này, người đại diện công ty ký hợp đồng phải thông báo các thànhviên Hội đồng quản trị, Kiểm soát viên về các đối tượng có liên quan đối với hợpđồng, giao dịch đó; đồng thời kèm theo dự thảo hợp đồng hoặc nội dung chủ yếucủa giao dịch Hội đồng quản trị quyết định việc chấp thuận hợp đồng hoặc giaodịch trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo trừ trường hợp Điều lệcông ty quy định một thời hạn khác và “Đại hội đồng cổ đông chấp thuận các hợpđồng và giao dịch khác ngoài các giao dịch quy định tại khoản 2 Điều này”
Có thể thấy rằng, những trường hợp cần được Hội đồng quản trị chấp thuận sẽ
có thời hạn trong 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo; những trường hợp cầnđược Đại hội đồng cổ đông chấp thuận thì không quy định thời hạn nhưng phải tiếnhành cuộc họp đại Hội đồng cổ đông hoặc lấy ý kiến bằng văn bản thì thời gian sẽkéo dài hơn rất nhiều Như vậy sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của công ty cũngnhư những đối tác có liên quan
1.3 Sự cần thiết phải ban hành Luật Doanh nghiệp 2020
Pháp luật về doanh nghiệp với trọng tâm là Luật Doanh nghiệp cùng nhữngNghị định có liên quan đã xây dựng lên một môi trường kinh doanh thuận lợi, bìnhđẳng cho các doanh nghiệp kinh doanh trên địa bàn lãnh thổ Việt Nam Luật Doanhnghiệp năm 2014 đã có tác động tích cực trong môi trường kinh doanh, thúc đẩyhuy động vốn, phát triển và mở rộng kinh doanh, góp phần duy trì tăng trưởng vàgiải quyết các vấn đề xã hội Một số nội dung quan trọng của Luật như đăng kýdoanh nghiệp, bảo vệ cổ đông thiểu số được ghi nhận đã được Luật Doanh nghiệpnăm 2014 thay đổi mạnh mẽ so với trước đây
Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp 2014 sau 06 năm có hiệu lực đã bộc lộ một sốhạn chế không còn phù hợp trong hoàn cảnh mới, tạo gánh nặng về mặt chi phí, thờigian cho doanh nghiệp trong việc tuân thủ một số nội dung của Luật Bên cạnh đó,một số Luật mới có liên quan mới ban hành gần đây cũng tác động khiến LuậtDoanh nghiệp 2014 không còn phù hợp Quan trọng hơn, nội dung của Luật cần
Trang 21phải được hoàn thiện thêm để nhằm nâng cao chất lượng môi trường kinh doanhcủa doanh nghiệp theo yêu cầu của Chính phủ và đạt chuẩn mực theo thông lệ quốc
tế Một số hạn chế mà cần phải nâng cao hơn bao gồm như sau:
Một, so với các quốc gia trong khu vực và thế giới thì quá trình khởi nghiệpkinh doanh và gia nhập thị trường của nước ta đang được đánh giá ở mức thấp Một
số thủ tục trong Luật cũ không còn cần thiết, ngoài ra một số thủ tục còn phải nộp
hồ sơ bản cứng làm chậm quá trình gia nhập thị trường của các doanh nghiệp mới.Hai, các cổ đông, nhà đầu tư chưa thực sự được tạo thuận lợi để thực hiệnquyền của mình Trên thực tế cổ đông lớn và công ty thường còn lạm dụng quyềngây tổn hại cho cổ đông, nhà đầu tư nhỏ
Ba, quy định về tổ chức doanh nghiệp còn có bất cập, hạn chế có thể kể đếnnhư: quy định về sáp nhập và mua lại doanh nghiệp chưa được bao quát hết theocác Luật có liên quan như Luật Cạnh tranh 2018 Các trường hợp chia, tách doanhnghiệp còn hạn chế quyền, lựa chọn trong việc tổ chức lại doanh nghiệp
Bốn, các quy định về đăng ký và tổ chức hoạt động của hộ kinh doanh theocác đánh giá đã cho thấy một số khiếm khuyết như: không rõ về địa vị pháp lý vàtrách nhiệm dân sự, quyền kinh doanh bị giới hạn trong phạm vi cấp huyện, quận,…
Vì có những hạn chế về mặt pháp lý như thế này dẫn đến việc các hộ kinh doanhkhông pháp huy được tối đa cơ hội kinh doanh, dẫn đến việc không phát triển đượctiềm năng phát triển của hộ kinh doanh
Năm, về tổ chức quản trị đối với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp cóphần vốn góp của Nhà nước Nghị quyết số 12 –NQ/TW của Hội nghị Trung ươngkhóa XII đã cơ cấu lại hoạt động của doanh nghiệp nhà nước nhằm đổi mới nângcao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước Qua Nghị quyết số 12-NQ/TW đã chỉ rõ cácquan điểm chỉ đạo về doanh nghiệp nhà nước Vì vậy, các quy định về doanhnghiệp nhà nước của Luật Doanh nghiệp 2014 đã không còn đúng với chỉ đạo củaĐảng và Nhà nước vì vậy cần phải được rà soát lại, bổ sung, sửa đổi bổ sung nhằmthể chế hóa các chỉ đạo trong Nghị quyết số 12-NQ/TW
Trang 22Từ những nội dung nêu trên về các hạn chế mà sau 06 năm có hiệu lực LuậtDoanh nghiệp 2014 đã biểu hiện ra thực tế, thì việc ban hành Luật Doanh nghiệpmới để phù hợp với sự thay đổi về kinh tế xã hội trong bối cảnh các mạng côngnghiệp 4.0, và yêu cầu khắc phục những hạn chế mà Luật Doanh nghiệp 2014 còntồn tại.
Trang 23CHƯƠNG 2: NHỮNG ĐIỂM MỚI TRONG QUY ĐỊNH CỦA LUẬT DOANH NGHIỆP 2020 VỀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN, CÔNG TY HỢP DANH VÀ TỔ CHỨC LẠI, GIẢI THỂ, PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP
2.1 Điểm mới trong quy định về công ty trách nhiệm hữu hạn
2.1.1 Điểm mới trong quy định về công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên
Về quyền phát hành cổ phần và trái phiếu
Về cổ phần
Khoản 3, Điều 47 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định: “Công ty tráchnhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên không được quyền phát hành cổ phần” Quyđịnh này hiện nay đang tạo ra vướng mắc là: Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thànhviên phải chờ hoàn tất các thủ tục chuyển đổi thành công ty cổ phần rồi mới có thểphát hành cổ phần chứ không được phép chuyển đổi thành công ty cổ phần bằngcách phát hành cổ phần Điều này tạo nên những sự lãng phí về thời gian, khó khănkhông đáng có trong quá trình huy động thành viên và vốn
Để giúp các doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng này, khoản 3, Điều 46 Luật
2020 đã đưa ra quy định “Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên không đượcphát hành cổ phần, trừ trường hợp để chuyển đổi thành công ty cổ phần” Ví dụ,Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên X thực hiện chuyển đổi thành Công ty
cổ phần X năm 2015 Trước khi ban hành Luật Doanh nghiệp 2020, công ty Cổphần X không được phép phát hành cổ phần để huy động vốn Sau thời điểm banhành và thực hiện Luật Doanh nghiệp 2020, công ty Cổ phần X được phép pháthành cổ phần để chuyển đổi thành Công ty cổ phần
Có thể thấy, đây là một quy định sửa đổi nhằm phù hợp với thực tiễn và giảiquyết các vướng mắc đang tồn tại, giúp các doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việchuy động vốn, mở rộng quy mô thành viên Tuy vậy, Điều này mặt khác lại mộtphần tạo điều kiện cho người xấu thao túng, chiếm đoạt công ty qua việc mua,chiếm giữ tỉ lệ vốn công ty
Về trái phiếu
Trang 24Mặc dù Luật Doanh nghiệp 2014 không quy định rõ công ty trách nhiệm hữuhạn hai thành viên trở lên được quyền phát hành trái phiếu như theo quy định tạikhoản 1, Điều 2 Nghị định số 163/2018/NĐ-CP ngày 04/12/2018 của Chính phủquy định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghịđịnh số 81/2020/NĐ-CP) thì đối tượng áp dụng đối với Nghị định này có nêu rõ:
“Doanh nghiệp phát hành trái phiếu là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữuhạn được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam” Và đến năm 2020 đãchính thức bổ sung thêm quy định về quyền của công ty trách nhiệm hữu hạn haithành viên về quyền được phát hành trái phiếu, tuy nhiên phải phù hợp với quy địnhcủa Luật này và của pháp luật khác có liên quan
Có thể nói đây là quyền lợi chính đáng mà công ty trách nhiệm hữu hạn haithành viên được hưởng và đã được pháp luật thừa nhận, do đó việc ghi nhận quyềnnày cụ thể trong khoản 4, Điều 46 Luật Doanh nghiệp 2020 là điều cần thiết và phùhợp Điều này không chỉ tạo hành lang pháp lý vững chắc và minh thị cho công tác
áp dụng và thực thi pháp luật mà còn giúp doanh nghiệp và các chủ thể khác trong
xã hội an tâm hơn trong vấn đề phát hành trái phiếu của doanh nghiệp để huy độngvốn
Về vốn góp doanh nghiệp
Về thời hạn góp vốn
Khoản 2, Điều 47 Luật Doanh nghiệp 2020 bổ sung quy định: “Thời hạn gópvốn là 90 ngày kể từ ngày doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanhnghiệp, không kể thời gian vận chuyển, nhập khẩu tài sản góp vốn, thực hiện thủ tụchành chính để chuyển quyền sở hữu tài sản.”
Việc bổ sung quy định mới này là để đảm bảo tính khả thi của hoạt động gópvốn trên thực tế Hiện nay, nhiều trường hợp người thành lập doanh nghiệp khôngthể hoàn tất việc góp vốn bằng tài sản là máy móc, thiết bị trong thời hạn 90 ngàynhư quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 Bởi vì, việc vận chuyển, nhập khẩumáy móc, thiết bị là tài sản góp vốn có thể mất nhiều thời gian, như: Thời gian vậnchuyển sang Việt Nam, thời gian làm các thủ tục hành chính nhập khẩu cần thiết…
Trang 25Nhiều trường hợp, thời gian này kéo dài hơn nhiều so với thời hạn phải hoàn thànhviệc góp vốn trong 90 ngày theo yêu cầu của doanh nghiệp Ví dụ, Chủ sở hữu Acam kết góp vốn thành lập Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên A một tàisản cố định là chiếc xe nhập khẩu từ Mỹ Thời gian vận chuyển và thủ tục hànhchính là 30 ngày Trường hợp công ty thành lập ngày 30/06/2015 (ngày được cấpGiấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp): Nếu ngày 05/10/2015 quá 90 ngày thựchiện góp vốn, chiếc xe mới về đến công ty thì A đã vi phạm Điều 74 Luật Doanhnghiệp 2014 Trường hợp công ty thành lập ngày 30/06/2021: nếu ngày 05/10/2021,chiếc xe mới về đến công ty, thì A không vi phạm Điều 75 Luật Doanh nghiệp
2020 Vì hạn góp vốn là 30/10/2021
Ngoài ra tại điều khoản này, Luật cũng đưa ra định nghĩa rõ ràng hơn về kháiniệm “sự tán thành của đa số thành viên” so với Luật Doanh nghiệp 2014 khi điềuchỉnh thêm: “Trong thời hạn này, thành viên góp vốn vào doanh nghiệp có cácquyền và nghĩa vụ tương ứng với tỷ lệ phần vốn đã cam kết; Thành viên công ty chỉđược góp vốn cho công ty bằng loại tài sản khác với tài sản đã cam kết nếu được sựtán thành của trên 50% số thành viên còn lại” Việc sửa đổi này góp phần giúp luậtchặt chẽ, dễ hiểu, dễ áp dụng hơn
Về việc điều chỉnh vốn điều lệ
Khoản 4, Điều 47 Luật Doanh nghiệp 2020 đã rút ngắn thời hạn thay đổi vốnđiều lệ, tỷ lệ vốn góp của các thành viên từ 60 xuống còn 30 ngày kể từ ngày cuốicùng phải góp đủ phần vốn góp Có thể thấy việc rút ngắn thời hạn này là phù hợpsau khi đã nới lỏng thời hạn góp vốn ở khoản 2 nói trên Giả dụ nếu hạn góp vốncủa anh A là 1/3/2016 mà anh vẫn chưa góp đủ phần vốn góp của mình thì công typhải làm thủ tục thay đổi vốn điều lệ, vốn góp của các thành viên trước ngày30/4/2016 Nhưng nếu trong cùng tình huống tại năm 2021 thì hạn sẽ là ngày31/3/2021
Về thời điểm người góp vốn trở thành thành viên
Luật Doanh nghiệp 2020 đã bổ sung thêm khoản 5, Điều 47: “Trừ trường hợpquy định tại khoản 2, Điều này, người góp vốn trở thành thành viên của công ty kể
Trang 26từ thời điểm đã thanh toán phần vốn góp và những thông tin về người góp vốn quyđịnh tại các điểm b, c và đ, khoản 2, Điều 48 của Luật này được ghi đầy đủ vào sổđăng ký thành viên Tại thời điểm góp đủ phần vốn góp, công ty phải cấp giấychứng nhận phần vốn góp cho thành viên tương ứng với giá trị phần vốn đã góp.”Như vậy, Luật Doanh nghiêp 2020 đã bổ sung quy định cụ thể về thời điểm
mà thành viên góp vốn chính thức trở thành thành viên của công ty, cụ thể là “Từthời điểm đã thanh toán phần vốn góp và được ghi nhận đầy đủ thông tin vào sổđăng ký thành viên” Việc đưa ra quy định rõ ràng góp phần đảm bảo quyền lợi cảhai bên thành viên cũng như công ty
Về nội dung chủ yếu trong giấy tờ liên quan
Khoản 6, Điều 47 và khoản 2, Điều 48 Luật Doanh nghiệp 2020 đã điều chỉnhlại nội dung chủ yếu của giấy chứng nhận cũng như sổ đăng ký thành viên Cụ thể:Thứ nhất, Luật Doanh nghiêp 2020 sửa đổi “Địa chỉ thường trú” thành “Địachỉ liên lạc” Ở đây, địa chỉ thường trú về mặt pháp lý là nơi thường cư trú, tuynhiên trên thực tế, một người có thể có địa chỉ thường trú nhưng không thường hay
cư trú ở nơi đó Ví dụ thường trú ở Láng Thượng nhưng mua nhà ở Times City vàphải tới Times City mới gặp được, liên lạc được Trong khi địa chỉ liên lạc là nơihiện nay đang cư trú, có thể liên lạc được, là Times City trong ví dụ trên Như vậy,Luật Doanh nghiệp 2020 đưa vào địa chỉ liên lạc là hợp lý hơn
Thứ hai, Luật Doanh nghiệp 2020 thay thế “Số thẻ Căn cươc công dân, giấyChưng minh thư nhân dân, hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác” và
“Số quyết định thành lập hoặc mã số doanh nghiệp” bằng “Số giấy tờ pháp lý” Căn
cứ khoản 16, Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định rõ giấy tờ pháp lý của cánhân là một trong các loại giấy tờ (Thẻ Căn cước công dân; Giấy chứng minh thưnhân dân; Hộ chiếu; Giấy tờ chứng thực cá nhân hợp pháp khác) Việc này đã giúplược bớt được những phần dài dòng, lặp lại nhiều lần trong điều luật
Thứ ba, Luật Doanh nghiệp 2020 đã chỉnh “Giá trị vốn góp của thành viên” thành “Tỷ lệ phần vốn góp của thành viên” Có thể dễ thấy, tỷ lệ phần vốn góp là
Trang 27con số có ý nghĩa về mặt toán học hơn vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền hạn vàquyết định của thành viên.
Về sổ đăng ký thành viên
Về hình thức
Khoản 1, Điều 48 Luật Doanh nghiệp 2020 đã bổ sung hình thức sổ đăng kýthành viên: “có thể là văn bản giấy, tập hợp dữ liệu điện tử ghi nhận thông tin sởhữu phần vốn góp của các thành viên công ty” Lấy trường hợp anh A góp vốn ngày1/6/2016 nhưng đang đi công tác xa thì vẫn phải gửi bưu điện hoặc nhờ người mới
có thể lấy được sổ đăng ký thành viên do sổ đăng ký thành viên chỉ có thể là vănbản giấy Còn trong trường hợp anh A góp vốn tại ngày 1/6/2021 mà không thuậntiện đến lấy thì vẫn có thể nhận được sổ dưới dạng bản mềm, dữ liệu điện tử ghinhận vốn góp của anh A
Dữ liệu điện tử đã được phổ biến từ Luật Doanh nghiêp 2014 nhưng đến LuậtDoanh nghiêp 2020 mới chính thức được sử dụng làm hình thức của sổ đăng kýthành viên Nhìn chung văn bản giấy và tập hợp dữ liệu điện tử đều có mặt lợi vàhại Cụ thể, văn bản giấy tin cậy hơn, khó làm giả hơn khi đã in ra, đóng dấu đầy đủnhưng quy trình luân chuyển, lưu giữ phức tạp Trong khi dữ liệu điện tử lưu trữ dễdàng hơn nhưng dễ làm giả, rủi ro cao hơn như lỗi đánh máy, xâm nhập virus làmthay đổi hay mất dữ liệu,…
Tuy vậy, việc mở rộng hình thức của sổ đăng ký thành viên trong bối cảnh sốhóa cũng đã góp phần tạo thuận lợi cho thủ tục đăng ký và nhận sổ đăng ký thànhviên, đặc biệt là trong thời buổi chịu tác động của dịch bệnh khiến mọi người khó
có thể tự đến văn phòng công ty làm các thủ tục hành chính
Về tính cập nhật
Điều 48 Luật Doanh nghiêp 2020 đã thêm khoản 3: “Công ty phải cập nhật kịpthời thay đổi thành viên trong sổ đăng ký thành viên theo yêu cầu của thành viên cóliên quan theo quy định tại Điều lệ công ty.” Điều khoản này được bổ sung nhằmđảm bảo quyền lợi cho thành viên công ty, giảm thiểu độ trễ trong quá trình cậpnhật thành viên
Trang 28Về quyền của thành viên Hội đồng thành viên
Luật Doanh nghiệp 2020 đã sắp xếp lại trật tự, phân thành 3 khoản tương ứngvới các mức theo thứ tự tỉ lệ vốn tăng dần: mức thành viên, mức sở hữu từ 10% vốnđiều lệ trở lên hoặc tương tự và mức sở hữu trên 90% vốn điều lệ hoặc tương tự Dùkhông thay đổi nhiều về mặt luật nhưng Luật Doanh nghiêp 2020 đã đảm bảo đượctính trật tự về mặt hình thức, dễ đọc, dễ hiểu của điều luật
Về xử lý phần vốn góp trong một số trường hợp đặc
biệt Trường hợp thành viên bị Tòa án tuyên bố mất tích
Luật Doanh nghiệp 2014 đã đưa ra quy định rằng khi thành viên bị Tòa ántuyên bố mất tích thì người quản lý tài sản của thành viên đó trở thành thành viêncủa công ty Nhưng đến Luật Doanh nghiệp 2020 đã giữ nguyên tư cách thành viêncủa công ty kể cả khi bị tuyên bố mất tích, quyền và nghĩa vụ được thực hiện thôngqua người quản lý tài sản của thành viên đó tại khoản 2, Điều 53 Tức người quản lýtài sản chỉ có vai trò thực hiện quyền và nghĩa vụ thay cho thành viên này
Có thể thấy, điều luật này có sự dẫn chiếu Bộ luật Dân sự 2015 tại Điều 65 vềQuản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú:
1 Theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án giao tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú cho người sau đây quản lý:
a) Đối với tài sản đã được người vắng mặt ủy quyền quản lý thì người được ủyquyền tiếp tục quản lý;
b) Đối với tài sản chung thì do chủ sở hữu chung còn lại quản lý;
c) Đối với tài sản do vợ hoặc chồng đang quản lý thì vợ hoặc chồng tiếp tụcquản lý; nếu vợ hoặc chồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăntrong nhận thức, làm chủ hành vi, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì con thànhniên hoặc cha, mẹ của người vắng mặt quản lý
2 Trường hợp không có những người được quy định tại khoản 1 Điều này thìTòa án chỉ định một người trong số những người thân thích của người vắng mặt tại nơi
cư trú quản lý tài sản; nếu không có người thân thích thì Tòa án chỉ định người khácquản lý tài sản."
Trang 29Như vậy, giả dụ anh A là thành viên góp vốn của công ty X Nếu 1/5/2014,anh A bị mất tích thì tư cách thành viên góp vốn của anh chấm dứt mà giờ đây,người phụ trách quản lý tài sản của anh A mới sẽ là thành viên Còn nếu 1/5/2021,anh A bị mất tích đột ngột, không có người nào được ủy quyền (không thỏa mãnđiểm a), góp vốn với tư cách pháp nhân là công ty hợp danh Y (có người sở hữuchung tài sản, thỏa mãn điểm b) thì người sở hữu chung còn lại sẽ quản lý phần vốngóp giúp anh A mà hoàn toàn không có tư cách thành viên tại công ty X.
Khi cá nhân bị tuyên bố mất tích thì sẽ “tạm dừng” tư cách chủ thể kể từ thờiđiểm quyết định tuyên bố cá nhân mất tích có hiệu lực pháp luật Nói cách khác, cánhân bị tuyên bố mất tích cũng tạm dừng tư cách là thành viên góp vốn của công ty.Tuy nhiên, do chưa chấm dứt tư cách của mình nên quyền và nghĩa vụ của thànhviên góp vốn tạm thời được thực hiện thông qua người quản lý tài sản của thànhviên đó Việc giữ nguyên tư cách thành viên của công ty phần nào đảm bảo đượcquyền lợi của thành viên bị mất tích cũng như sự hoạt động, vận hành của công ty
Trường hợp thành viên bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự
Khoản 3, Điều 53 Luật Doanh nghiêp 2020 đã sửa đổi, bổ sung thêm kháiniệm “người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi” Theo Bộ luật Dân sự
2015, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người từ đủ 18 tuổitrở lên, do tình trạng thể chất và tinh thần mà không đủ khăn năng nhận thức, làmchủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự Tình trạng thể chấthoặc tinh thần dẫn đến không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi có thể làtrường hợp cá nhân bất chợt bị tâm thần nhưng chưa đến mức không thể nhận thức,làm chủ hành vi của mình (Ví dụ: Người mắc bệnh Down); người bị tai nạn phảinằm điều trị lâu ngày trong bệnh viện có kết luận của giám định pháp y, tuyên bốcủa Tòa án
Như vậy, những người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi khác vớingười bị hạn chế, mất năng lực hành vi dân sự Vì người có khó khăn trong nhậnthức và làm chủ hành vi không mất hoàn toàn khả năng nhận thức, làm chủ hành vi,một phần nào đó họ vẫn hiểu, nhận thức được hành vi của mình nhưng không đầy
đủ như người bình thường mà không bị mất hoàn toàn nhận thức như người mất