Chương I MỤC LỤC 1LỜI CẢM ƠN 2LỜI CAM ĐOAN 5MỞ ĐẦU 51 Lý do chọn đề tài 62 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 63 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 64 Phương pháp nghiên cứu 65 Ý nghĩa nghiên cứu 66 Kết cầu.
Trang 1MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
LỜI CAM ĐOAN 2
MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Ý nghĩa nghiên cứu 6
6 Kết cầu của tiểu luận 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC TRONG MỐI QUAN HỆ CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH 7
1.1 Quyền lực và kiểm soát quyền lực 7
1.1.1 Quyền lực 7
1.1.2 Quyền lực chính trị 7
1.1.3 Kiểm soát quyền lực 9
1.2 Mối quan hệ chính trị - hành chính 11
1.2.1 Khái niệm Chính trị 11
1.2.2 Khái niệm Đảng chính trị 12
1.2.3 Khái niệm Hành chính 13
1.2.4 Một số quan điểm về quan hệ chính trị - hành chính 14
CHƯƠNG 2: KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC TRONG MỐI QUAN HỆ CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 18
2.1 Cơ sở pháp lý 18
Trang 22.1.1 Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hành chính Nhà nước 19
2.2 Sự kiểm soát quyền lực của các cơ quan Nhà nước khác, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân dối với hành chính 23
2.2.1 Tác động của các cơ quan nhà nước khác (lập pháp, tư pháp) 23
2.2.2 Tác động của các tổ chức chính trị - xã hội 24
2.2.3 Kiểm soát quyền lực của nhân dân 25
2.3 Một số thành tựu, tồn tại, hạn chế 25
2.3.1 Thành tựu 25
2.3.2 Tồn tại, hạn chế 26
2.3.3 Nguyên nhân 27
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC TRONG MỐI QUAN HỆ CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 28
3.1 Phương hướng 28
3.1.1 Quán triệt nguyên tắc Đảng lãnh đạo định hướng chứ không quản lý, can thiệp trực tiếp vào hoạt động của chính quyền 28
3.1.2 Thể chế hóa cụ thể sự lãnh đạo của Đảng với Nhà nước 28
3.1.3 Nghiên cứu mô hình nhất thể hóa giữa chính trị với hành chính 29
3.2 Giải pháp 29
3.2.1 Giải pháp về nhận thức 29
3.2.2 Giải pháp về tổ chức 30
3.2.3 Giải pháp về xây dựng Đảng: 31
3.2.4 Phát huy quyền làm chủ của Nhân dân 32
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 36
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đảng chính trị là một tổ chức đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đờisống chính trị hiện nay Đảng chính trị là sản phẩm tất yêu của cuộc đấu tranhgiai cấp nhưng cũng là phương tiên tiện quan trọng để các giai cấp sử dụng trongcuộc đấu tranh giành quyền lực chính trị cho giai cấp mình Đảng chính trị là độitiên phong, là bộ tham mưu chiến đấu cho quyền lực và lợi ích của giai cấp màmình đại diện trong một giai đoạn lịch sử nhất định Thông qua Đảng chính trị,các giai cấp tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đến quyền lực nhà nướcbằng nhiều cách để bảo vệ lợi ích thiết thân của giai cấp
Đối với các nước Xã hội Chủ nghĩa nói chung và Việt Nam nói riêng, vai tròcủa Đảng Cộng sản cầm quyền là vô cùng lớn Bởi Đảng Cộng sản Việt Nam có vaitrò lãnh đạo nhân dân Việt Nam cùng một lúc vừa làm tư sản cách mạng, vừa làmdân tộc cách mạng và làm giai cấp cách mạng Đây là đặc điểm lớn nhất của cáchmạng vô sản ở Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và cũng là một đặcđiểm của sứ mệnh lịch sử của Đảng đối với giai cấp và dân tộc Việt Nam
Kiểm soát quyền lực được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là nhiệm vụquan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng Đảng cộng sản Việt Nam
đã khẳng định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (năm 1986), Đảng ta
khẳng định: “Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý thành cơ chế chung trong quản lý toàn bộ xã hội” Cơ chế này phản ánh và giải quyết các mối
quan hệ cốt lõi của xã hội Việt Nam Vì vậy, Cương lĩnh xây dựng đất nước trongthời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nhấn mạnh
“phải đặc biệt chú trọng nắm vững và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn: ; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.” Tại Đại hội lần thứ XII năm 2016, Đảng khẳng định: “Hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế kiểm soát quyền lực, ngăn chăn sự lạm quyền, vi phạm kỷ luật, kỷ cương”.
Đây là một cơ chế, giải quyết ba mối quan hệ chính trị cơ bản nhất ở ViệtNam hiện nay, đó là quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, nhằm giải quyếtnhững vấn đề bản chất nhất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta xâydựng Có thể nói đây là vấn đề của mọi vấn đề Để cho cơ chế này hoạt động tốt,
có hiệu quả, thì vừa phải tạo ra động lực cho từng nhân tố và phối hợp hoạt độngnhịp nhàng giữa ba nhân tố, vừa phải kiểm soát quyền lực trong từng nhân tố nóiriêng và kiểm soát lẫn nhau trong tổng thể nói chung
Trang 4Nghị quyết Trung ương 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII tiếptục cụ thể hó tinh thần Đại hội lần thứ XII của Đảng về kiểm soát quyền lực Để
làm rõ hơn, em xin mạnh dạn nghiên cứu tiểu luận: “Sự kiểm soát quyền lực trong mối quan hệ chính trị - hành chính ở nước ta hiện nay”.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu nhằm mục đích vận dụng kiến thức đã học, nêu lên cơ
sở lý luận, nội dung thực tiễn và một số phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả
sự kiểm soát quyền lực trong mối quan hệ chính trị - hành chính ở nước ta hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu sự kiểm soát quyền lực trong mối quan hệ chính trị - hành chính ở
nước ta hiện nay
4 Ph ươ ng pháp nghiên c u ứ
Để đạt được mục tiêu đó, đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu chung:phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và cácphương pháp nghiên cứu cụ thể: phương pháp phân tích, tổng hợp, phương phápchuyên gia…
5 Ý nghĩa nghiên cứu
- Ý nghĩa lý luận: Đề tài góp phần làm sáng tỏ những vấn đề về lý luận về
sự kiểm soát quyền lực trong mối quan hệ chính trị - hành chính ở nước ta hiệnnay
- Ý nghĩa thực tiễn: Đánh giá thực trạng những mặt được, chưa được,
những hạn chế yếu kém và nguyên nhân, đề ra một số giải pháp triển khai hiệuquả sự kiểm soát quyền lực trong mối quan hệ chính trị - hành chính ở nước tahiện nay
6 Kết cầu của tiểu luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, bố cục của đề tài bao gồm những nội dungchính sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát quyền lực trong mối quan hệ chính trị - hành chính
Chương 2: Kiểm soát quyền lực trong mối quan hệ chính trị - hành chính ở nước ta hiện nay
Chương 3: Một số phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả sự kiểm
Trang 5CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC TRONG
MỐI QUAN HỆ CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH 1.1 Quyền lực và kiểm soát quyền lực
Vậy những sức mạnh nào được coi là "lực" sử dụng để gây ảnh hưởng tớingười khác: Có rất nhiều yếu tố như: Địa vị, uy tín, sức mạnh cơ bắp, sức mạnhkinh tế, sức mạnh tôn giáo
Mối quan hệ giữa uy tín và quyền lực là: Uy tín là sự củng cố và hoàn thiệnthêm vị thế của quyền lực của chủ thể Biểu hiện của quyền lực hết sức đa dạng:Một mặt nó là yếu tố cần thiết cho xã hội, bất cứ xã hội nào cũng cần có quyềnlực để duy trì trật tự, ổn định đồng thời thúc đẩy sự phát triển Nhưng mặt khácquyền lực lại tạo ra khả năng phân chia giai cấp, đẳng cấp là cơ sở của ách ápbức, bóc lột, bất công Quyền lực cũng tồn tại đa dạng trong đời sống xã hội Bất
cử một tổ chức xã hội nào cũng đều tồn tại quyền lực Ví dụ trong các tổ chứcchính trị, các doanh nghiệp, giáo hội, Trong gia đình, có sự chuyển giao quyềnlực từ chế độ mẫu hệ sang chế độ phụ hệ; bản chất của sự chuyển giao này đó là
vị trí nắm giữ kinh tế trong gia đình Trong vấn đề về giới cũng tồn tại quyền lực:Quyền lực của phái đẹp, nhiều khi trở thành ma lực Lịch sử loài người đã chứngkiến bao nhiêu những mỹ nhân, vì sắc đẹp, vì lời nói có thể làm cho "nghiêngnước, nghiêng thành", cũng có khi gây ra những cuộc tranh hùng mãnh liệt, cũng
có khi mang về cho quốc gia, xã tắc những lợi ích vô giá
1.1.2 Quyền lực chính trị
Quyền lực chính trị là bước phát triển cao của quyền lực xã hội Nếu như trong
xã hội, quyền lực xã hội biểu hiện rất đa dạng, phong phú như quyền lực gia đình,quyền lực kinh tế, quyền lực tôn giáo, thì quyền lực chính trị chiếm vai trò trung tâm
Trang 6C.Mác và Ph.Ăngghen trong quá trình nghiên cứu lý luận, tổng kết thựctiễn để xây dựng học thuyết đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân đã chỉ
rõ bản chất của quyền lực chính trị nói chung, quyền lực chính trị của giai cấpcông nhân nói riêng và con đường biện pháp để giai cấp công nhân xác lập quyềnlực chính trị của mình Những tư tưởng này được C.Mác và Ph.Ăngghen phảnánh một cách rõ ràng, khúc chiết trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng sản
Theo các ông “quyền lực chính trị theo đúng nghĩa của nó, là bạo lực có tổ chức của một giai cấp để trấn áp một giai cấp khác” Mà mục đích cuối cùng của sự trấn áp ở đây là để giành và giữ địa vị thống trị về kinh tế Điểm lại, ta có thể thấy, quyền lực chính trị có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, là quyền lực xã hội nhằm để giải quyết lợi ích giai cấp, lợi íchquốc gia, nhân loại;
Thứ hai, là khả năng áp đặt và thực thi các giải pháp phân bổ giá trị có lợicho một giai cấp;
Thứ ba, là sức mạnh bạo lực có tổ chức của một giai cấp để trấn áp giai cấp khác"
Từ đó, ta có thể định nghĩa "Quyền lực chính trị là quyền sử dụng sức mạnh của một hay liên minh giai cấp, tập đoàn xã hội để đạt mục đích thống trị
xã hội, thoả mãn lợi ích giai cấp mình".
Là một bộ phận của quyền lực trong xã hội có giai cấp, quyền lực chính trị
có những đặc điểm chủ yếu sau:
- Quyền lực chính trị bao giờ cũng mang tính giai cấp, phản ánh lợi ích của giaicấp thông qua tổ chức đại diện của mình là đảng chính trị của giai cấp thống trị
- Quyền lực chính trị tồn tại trong mối liên hệ lợi ích khi đặt nó trong quan
hệ với giai cấp khác Tuỳ thuộc vào tương quan, so sánh lực lượng mà các giaicấp ở vào vị thế khác nhau trong quan hệ với việc sử dụng quyền lực chính trị.Chẳng hạn, trong mối quan hệ với giai cấp công nhân ở các nước tư bản thìquyền lực của giai cấp tư sản là thống nhất Nhưng trong mối quan hệ nội tại, lợiích của các nhóm tư sản khác nhau cũng không giống nhau và do đó giữa cácnhóm này không chỉ có mâu thuẫn mà đôi khi còn đấu tranh gay gắt với nhau vềlợi ích, về sử dụng quyền lực chính trị của mình
- Quyền lực chính trị của giai cấp thống trị được thực hiện trong xã hộithông qua phương tiện chủ yếu là nhà nước Nhà nước là bộ máy quyền lực đặcbiệt nằm trong tay giai cấp thống trị để hiện thực hóa các lợi ích của giai cấp nàytrong xã hội trong mối tương quan với các giai cấp khác Quyền lực nhà nước là
Trang 7hội Trong toàn bộ cấu trúc xã hội hiện đại, chỉ duy nhất nhà nước có khả nănghình thành và sử dụng pháp luật cùng với các công cụ cưỡng chế khác để buộccác cá nhân công dân và tổ chức phải tuân thủ các quy định mà mình đặt ra
- Quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước có mối quan hệ qua lại chặt chẽ:
- Quyền lực nhà nước là bộ phận quan trọng nhất của quyền lực chính trị.Việc chuyển quyền lực nhà nước từ tay giai cấp này sang tay giai cấp khác sẽ làmthay đổi bản chất của chế độ chính trị
- Mọi dạng quyền lực nhà nước đều mang tính chính trị nhưng không phảimọi quyền lực chính trị đều có tính chất của quyền lực nhà nước So với quyềnlực nhà nước, quyền lực chính trị rộng hơn, đa dạng hơn về phương pháp thựchiện cũng như hình thức biểu hiện
- Quyền lực nhà nước trong xã hội hiện đại bao gồm 3 nhánh chủ yếu làquyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp:
+ Quyền lập pháp là quyền làm ra Hiến pháp và luật, do cơ quan lập phápthực hiện Cơ quan lập pháp ở các nước khác nhau có tên gọi khác nhau và cáchthức tổ chức cũng khác nhau Theo quy định của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi,
bổ sung năm 2001), ở nước ta, Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp
+ Quyền hành pháp là một bộ phận cấu thành của quyền lực nhà nước, cónhiệm vụ thực thi pháp luật, đưa pháp luật vào tổ chức xã hội và quản lý xã hội.Quyền hành pháp do một bộ máy hành chính nhà nước phức tạp trải rộng từ trungương tới địa phương thực hiện
+ Quyền tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật do cơ quan tư pháp thựchiện Ở Việt Nam, hệ thống cơ quan tư pháp bao gồm Viện kiểm sát nhân dân vàTòa án nhân dân các cấp
1.1.3 Kiểm soát quyền lực
Vấn đề kiểm soát quyền lực luôn luôn tồn tại trong hệ thống xã hội nói chung
và trong bộ máy nhà nước nói riêng Mỗi chế độ xã hội có nhà nước đều tồn tại quan
hệ kiểm soát quyền lực khác nhau với vị trí của các chủ thể khác nhau Chế độphong kiến chỉ một người giữ vai trò chủ thể của quyền lực, và đương nhiên chủ thể
đó là hiện thân của quyền kiểm soát đối với quyền lực Đó là vua
Khi xã hội chuyển từ thể chế chuyên chế sang thể chế dân chủ, vấn đề tổchức quyền lực thay đổi căn bản Từ đó quan hệ quyền lực, kiểm soát quyền lựccũng có những thay đổi căn bản Tuy nhiên, có một số thuật ngữ, nếu không phânbiệt rõ thì có thể hiểu chệch đi, thậm chí sai về bản chất, như “tổ chức quyền
Trang 8lực”; “quan hệ các quyền”; “kiểm soát quyền lực”; “kiểm tra”, “thanh tra” trongthực hiện quyền lực nhà nước
Tổ chức quyền lực là thuật ngữ nói về hiện trạng của quyền lực nhà nướccủa một loại thể chế nhất định Thí dụ đã là phong kiến thì quyền lực tối cao, toàndiện là của vua hay nữ hoàng
Quan hệ giữa các quyền là chỉ mối quan hệ của các nhánh quyền của nhànước (có thể rộng ra là trong hệ thống chính trị); giữa các tổ chức và người dântrong một hệ thống chính trị nhất định
Thanh tra là một hoạt động thực thi quyền của một cơ quan nhà nước theo
chức năng được pháp luật quy định Thanh tra là một hoạt động được giao cho một
cơ quan, cơ quan đó có quyền tác động vào hoạt động của cơ quan khác, nhưng làtheo chức năng chứ không phải theo thứ bậc Thí dụ như ở nước ta, Thanh tra Chínhphủ có thể thanh tra các cơ quan ngang bộ khác Nhưng quyền đó bị chi phối theoquan hệ chức năng Nghĩa là, ngoài luật pháp về thanh tra, còn chịu sự chỉ đạo củaThủ tướng Chính phủ Đây là quan hệ chức năng trong tổ chức quyền lực
Kiểm tra là một hoạt động từ chức năng của một cơ quan trong quan hệ của
quản lý, kể cả của hệ thống các tổ chức ngoài Nhà nước Một hoạt động kiểm tra
có thể xuất phát từ quan hệ thứ bậc của quan hệ quyền lực Thí dụ thủ trưởng cơquan có thể giao cho một cơ quan tiến hành kiểm tra hoạt động của một cơ quan,một nhóm người, một người bên trong cơ quan đó
Kiểm soát quyền lực thể hiện sự nhận thức, bày tỏ quan điểm, thái độ, giải
pháp của một cá nhân hay tổ chức đối với cá nhân (như quốc hội đối với tổngthống, thủ tướng) Bày tỏ sự đồng thuận hay phản đối một hoạt động nào đó củađối tượng phù hợp với hiến pháp Mục đích chung nhất là để bảo đảm quyền lựctrong vòng trật tự
Thuật ngữ “kiểm soát” tự bản thân nó mang tính trật tự luật định như quốc hộivới chính phủ trong các thể chế nghị viện, hoặc trật tự thứ bậc trên dưới trong hànhchính Kiểm soát quyền lực không phải là hoạt động diễn ra thường xuyên, hàng ngàynhư hoạt động hành chính mà chủ yếu nhận thức nó từ quan hệ nguồn gốc phát sinh
Trong khoa học chính trị, khi nói tới kiểm soát quyền lực là hiểu quan hệ
đó diễn ra trong hoạt động thực thi quyền lực nhà nước Tuy nhiên, có một số hệthống chính trị mà ở đó, chế độ nhất nguyên được vận hành thì yếu tố kiểm soátquyền lực không những xảy ra ở hoạt động thực thi quyền, mà còn ở giai đoạn tổchức quyền lực (như ở Việt Nam)
Trang 9Theo cách hiểu phổ biến hiện nay, “kiểm soát” được cho là xem xét, đánhgiá, theo dõi nhằm ngăn chặn những điều trái với quy định Kiểm soát QLNN cóthể hiểu là việc các chủ thể quyền lực tiến hành các biện pháp cẩn thiết từ bêntrong hoặc bên ngoài hệ thống một cách chủ động hay tự động để bảo đảm việcthực hiện QLNN nói chung hay của một cơ quan nhà nước nào đó được diễn ramột cách đúng bản chất, mục đích và yêu cầu đối với việc thực hiện quyền lực đó.Kiểm soát QLNN có thể được thực hiện bởi các chủ thế khác nhau nhưng luônnhằm vào bản thân việc thực hiện QLNN, trực tiếp chính vào việc thực hiện quyềnlực của cơ quan nhà nước Vì thế, kiểm soát QLNN theo nghĩa rộng chính là việcthiết kế tổ chức và thực thi QLNN sao cho đạt được mục đích chính trị chung vàđạt được hiệu quả cao nhất Xét theo nghĩa hẹp, kiểm soát quyền lực nhà nước làtoàn bộ những hoạt động của các chủ thể quyền lực để xem xét, theo dõi, đánh giá,những biện pháp mà thông qua đó có thể ngăn ngừa, loại bỏ những nguy cơ, nhữngviệc làm sai trái của nhà nước, cơ quan, nhân viên nhà nước trong việc tổ chức vàthực hiện quyền lực nhà nước, bảo đảm cho quyền lực nhà nước được tổ chức vàthực hiện đúng mục đích mong muốn và đạt được hiệu quả cao.
1.2 Mối quan hệ chính trị - hành chính
1.2.1 Khái niệm Chính trị
Thuật ngữ “Chính trị” theo tiếng Hy Lạp là Politika, có nguồn gốc từ chữPólis – nghĩa là Nhà nước Với tư cách là một phạm trù, “Chính trị” đã được conngười khám phá trong quá trình lịch sử lâu dài và nghĩa cơ bản của nó cũng dầndần được xác định theo thời gian
Trong tác phẩm kinh điển “Chính trị luận” của Platon, tác giả đã xem chínhtrị là “nghệ thuật cung đình liên kết trực tiếp các chuẩn mực của người anh hùng
và sự thông minh; sự liên kết cuộc sống của họ được thực hiện bằng sự thốngnhất tư tưởng và tinh thần hữu ái” Nhà xã hội học Đức đầu thế kỷ XX- MarxWeber đã xem “Chính trị” là khát vọng tham gia vào quyền lực hay ảnh hưởngđến sự phân chia quyền lực giữa các quốc gia, bên trong quốc gia hay giữa cáctập đoàn người trong một quốc gia
Trong quyển Bách Khoa Triết Học (Liên Xô) thì “Chính trị” là những côngviệc nhà nước, là phạm vi hoạt động gắn với những quan hệ giai cấp, dân tọc vàcác nhóm xã hội khác nhau mà hạt nhân của nó là vấn đề giành, giữ và sử dụngquyền lực nhà nước” Theo “Từ điển Chính trị văn tắt” (Liên Xô) đã định nghĩa
“Chính trị” là hoạt động trong lĩnh vực quan hệ giữa các nhóm xã hội lớn, trướchết là các giai cấp, cũng như các dân tộc và các nhà nước”
Trang 10Ngoài ra còn có nhiều cách thức tiếp cận khác nhưng về cơ bản nội hàmcủa khái niệm chính trị có thể hiểu theo những nội dung cơ bản sau:
- Chính trị là quan hệ lợi ích giữa các giai cấp thông quan việc giải quyếtvấn đề quyền lực nhà nước
- Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế đồng thời là chủ thể củakinh tế
- Chính trị còn là sản phẩm bởi sự phát triển văn hóa chung trong xã hội
Như vậy, Chính trị là quan hệ lợi ích mà cơ bản nhất là lợi ích kinh tế giữa các giai cấp, các nhóm xã hội và của nhân dân trong cuộc đấu tranh giải quyết các vấn đề quyền lực nhà nước vì sự tiến bộ của xã hội ở một trình độ phát triển văn hóa và văn minh nhất định.
1.2.2 Khái niệm Đảng chính trị
Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lenin thì Đảng chính trị là sản phẩmtất yếu của cuộc đấu tranh giai cấp Nghiên cứu bản chất của đấu tranh giai cấptrong xã hội tư bản, P Ăngghen cho rằng đấu tranh chính trị giữa các giai cấp biểuhiện tập trung nhất ở cuộc đấu tranh giữa các chính đảng Đảng chính trị là “conđẻ” của cuộc đấu tranh giai cấp, ra đời một cách tự giác khi cuộc đấu tranh giai cấpphát triển ở trình độ cao đến mức cần phải có một tổ chức tham mưu lãnh đạo, điềuhành thống nhất về tư tưởng và hành động của cả giai cấp Lịch sử đấu tranh giaicấp của nhân loại bao giờ cũng có những tổ chức tương tự như đảng chính trị songlịch sử thật sự của đảng chính trí là bắt đầu từ cuộc đấu tranh của giai cấp tư sảnchống phong kiến mà cụ thể là gắn liền với các cuộc cách mạng tư sản ở Châu Âucuối thế kỷ XVIII và phát triển mạnh mẽ trong xã hội ngày nay
Đảng chính trị bao giờ và trước hết là mang bản chất giai cấp Đảng chínhtrị là đội ngũ tiên phong, là tổ chức cao nhất chặc chẽ nhất của một giai cấp Nótập hợp những người giác ngộ nhất, kiên quyết nhất trong đấu tranh thực thiquyền lực và lợi ích của giai cấp mình Đảng chính trị đại diện cho hệ tư tưởng,quyền lực và lợi ích của một giai cấp nhất định, không có đảng nào là phi giai cấphay siêu giai cấp Các đảng chính trị đều hướng đến giành, sử dụng hay chi phối,khống chế quyền lực nhà nước để phụ vụ cho mục đích chính trị của mình
Cũng như Nhà nước, Đảng chính trị cũng giải quyết các xung đột chung,những vấn đề chung của cả xã hội nhằm ổn định và phát triển xã hội theo địnhhướng mà Đảng mong muốn
Trang 11Vậy, Đảng chính trị là một tổ chức chính trị bao gồm những đại biểu của một giai cấp hay tầng lớp xã hội, dựa trên hệ tư tưởng hay quan điểm chính trị nhất định phản ánh lợi ích của giai cấp hay tầng lớp mà đảng đại diện.
Ở nước ta, Đảng cầm quyền là để chỉ vai trò của Đảng khi đã giành được
chính quyền; cũng có nghĩa là Đảng lãnh đạo khi đã có chính quyền, Đảng lãnh đạotoàn xã hội bằng chính quyền, thông qua chính quyền và các đoàn thể nhân dân
Khái niệm “Đảng cầm quyền” này lần đầu tiên được V.I.Lenin nêu ra Saunày Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã sử dụng các thuật ngữ
để nói về vai trò cầm quyền của Đảng như :Đảng giành được chính quyền, Đảngnắm chính quyền, Đảng lãnh đạo chính quyền, Đảng cầm quyền Chủ tịch Hồ ChíMinh đã viết trong Di chúc của mình: “Đảng ta là một đảng cầm quyền” ĐảngCộng sản Việt Nam cũng khẳng định trong Điều lệ Đảng được Đại hội X thôngqua : “Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền”
1.2.3 Khái niệm Hành chính
Theo nghĩa rộng: Hành chính là những biện pháp tổ chức và điều hành củacác tổ chức, các nhóm, các đoàn thể hợp tác trong hoạt động của mình đẻ đạtđược mục tiêu chung
Theo nghĩa hẹp: Hành chính được hiểu là hoạt động quản lý các công việccủa Nhà nước, xuất hiện cùng với Nhà nước
Theo từ điển Hành chính công, Hành chính công có liên quan mật thiết vớiviệc làm cho pháp luật có hiệu lực, ra các văn bản pháp quy và làm cho chúng cóhiệu lực và thực hiện chính sách công
Theo quan điểm quản lý Nhà nước theo góc độ “tam quyền phân lập” thìhành chính được hiểu là một bộ phận trong “tam quyền” đứng ngang hàng vớiquyền lập pháp và quyền tư pháp
Theo quan điểm xuất phát từ mối quan hệ giữa chính trị và hành chính chorằng chính trị là sự biểu hiện ý chí của Nhà nước, còn hành chính là chỉ sự chấphành ý chí Nhà nước
Như vậy cả về nghĩa rộng và nghĩa hẹp thì khái niệm hành chính đều cónhững cách hiểu, quan niệm khác nhau Trong khuôn khổ tiểu luận này, hành chínhđặt trong mối quan hệ với chính trị thì hành chính là hoạt động của cơ quan hànhpháp thi hành pháp luật hay còn gọi là hoạt động chấp hành và điều hành của Nhànước Nội dung hoạt động chấp hành và điều hành thể hiện trên các mặt sau đây:
Trang 12- Hoạt động chấp hành thể hiện ở mục đích của quản lý hành chính nhànước là nhằm bảo đảm thực hiện các văn bản pháp luật (hiến pháp, luật, pháp lệnh
và nghị quyết) của cơ quan lập pháp- cơ quan quyền lực nhà nước trên thực tế
- Hoạt động điều hành thể hiện ở chỗ để bảo đảm cho các văn bản phápluật của cơ quan quyền lực nhà nước được thi hành trên thực tế, các cơ quan hànhchính nhà nước phải tiến hành hoạt động tổ chức, chỉ đạo, điều hành trực tiếp đốivới các đối tượng quản lý thuộc quyền Trong quá trình điều hành, các cơ quanhành chính nhà nước có quyền nhân danh nhà nước ban hành các văn bản phápluật (dựa trên các Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban thường vụQuốc hội, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên) hoặc ra các chỉ thị, yêu cầu,mệnh lệnh cụ thể bắt buộc đối tượng quản lý có liên quan phải thực hiện
1.2.4 Một số quan điểm về quan hệ chính trị - hành chính
Mối quan hệ giữa hành chính và chính trị được nhiều nhà nghiên cứu quantâm Bản chất của nhà nước cũng như bản chất của hoạt động hành pháp là tínhchính trị Có hai cách tiếp cận khác nhau được các nhà nghiên cứu quan tâm là:
- Hành chính độc lập với chính trị (độc lập mang tính tương đối)
- Hành chính và chính trị không phân đôi
1.2.4.1 Hành chính độc lập với chính trị:
* Woodrow Wilson (1856 – 1924)
Ông là tổng thống thứ 28 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ - người đầu tiên đặtnền móng cho nghiên cứu hành chính công trong tác phẩm “Nghiên cứu về hànhchính công” năm 1887
Theo ông, “thực hiện Hiến pháp khó hơn là xây dựng nên nó”, điều nàycũng có nghĩa là thực thi pháp luật khó hơn việc ban hành pháp luật
Woodrow Wilson nhấn mạnh vai trò quản lý của Chính phủ và việc sửdụng lực lượng tri thức để thực hiện quản lý có hiệu quả một quốc gia
Ông cho rằng hoạt động hành chính nhà nước không chỉ có hiệu lực màcòn phải có hiệu quả khi nền hành chính hoạt động một cách độc lập Nền hànhchính chỉ hoạt động độc lập nếu như các nhà hành chính được tự do tập trung vàoviệc thực thi chính sách do các nhà lập pháp ban hành ra
+ Để độc lập với chính trị thì :
- Hành chính phải tự mình ly khai ra khỏi chính trị
Trang 13- Hành chính công phải tổ chức theo mô hình riêng và có thể áp dụng chungcho mọi chế độ chính trị.
- Hành chính phải được tập trung quyền lực để quản lý
- Giá trị dẫn dắt nền hành chính nhà nước là hiệu quả hoạt động (Đây lànguyên tắc bất di bất dịch Nếu hoạt động không có hiệu quả, hành chínhNhà nước sẽ không tồn tại lâu dài)
Tuy nhiên, W Wilson cũng nhấn mạnh hành chính công phải thực hiệntheo các ý tưởng chính trị và Hiến pháp quốc gia
Quan điểm của W Wilson cũng được nhiều học giả khác ủng hộ như FrankJ.Goodnow và Leonard D White
Frank J.Goodnow: Ông là tác giả của cuốn sách “Chính trị và hành
chính” xuất bản năm 1900
Trong tác phẩm của mình F Goodnow cho rằng Nhà nước có hai chứcnăng chính: chức năng ban hành chính sách (chức năng chính trị) và chức năngthực thi chính sách (chức năng hành chính)
Hai chức năng này được hình thành lởi sự phân chia quyền lực nhà nướccho các cơ quan khác nhau thực thi các loại quyền lực đó Ngành lập pháp được
sự hỗ trợ bởi khả năng thực hiện của ngành tư pháp, thể hiện các ý chí của nhànước và lập ra các chính sách; ngành hành pháp thực thi các chính sách này mộtcách “vô tư” và “phi chính trị”
Những nhà nghiên cứu hành chính công theo hướng này tìm kiếm cho hànhchính công một vị trí độc lập, bên cạnh chính trị Để nhấn mạnh sự khác biệt củahành chính công với các hoạt động chính trị, những người có tư tưởng này đã đưa
ra một lập luận đơn giản nhưng có sức lôi cuốn cao, đó là trong quản lý nhà nướckhông thể theo ý chí của Đảng cộng hoà hay Đảng dân chủ mà phải theo cáchriêng: hành chính - kỹ thuật
Theo cách tư duy độc lập với chính trị, khoa học hành chính cần quan tâmđến trách nhiệm của công chức nhà nước đối với công dân, trang bị kiến thứcchuyên môn, đào tạo các chuyên gia và chuẩn bị các nhà chuyên môn cho các vịtrí trong Chính phủ và công tác nghiên cứu Những nội dung đó làm cho “hànhchính công” không thể là một bộ phận của khoa học chính trị mà phải tách rathành một lĩnh vực riêng – khoa học hành chính
Leonard D White: (1891 – 1958)
Trang 14Ông là tác giả của cuốn sách “Nhập môn hành chính” xuất bản năm 1956.
Có thể nói đây là cuốn sách đầu tiên chuyên sâu về lĩnh vực hành chính Trongtác phẩm này, White đã đưa ra một số nguyên tắc quan trọng như:
- Chính trị không được xâm phạm vào hành chính
- Hành chính công phải dựa trên kết quả của việc nghiên cứu khoa học quản lý
- Hành chính công có thể trở thành một khoa học độc lập
- Sứ mệnh của hành chính là kinh tế và hiệu quả
Theo L White, hành chính công là một quá trình thống nhất Bất kỳ ở nơi nào
có nó đều có sự thống nhất về nội dung thông qua các đặc tính hành chính Vì vậy,nên nghiên cứu hành chính công trên nền tảng quản lý thay vì nền tảng pháp luật
Theo White, Hành chính khác với chính trị ở những điểm sau:
- Hành chính công là một quá trình đơn nhất, ở bất kỳ nơi nào thấy được,
nó đều đồng nhất về mặt nội dung thông qua những đặc tính quan trọng của nó
Vì vậy, không nhất thiết phải nghiên cứu hành chính trung ương và hành chínhđịa phương, mặc dù trong đó cũng có những điểm khác biệt đáng lưu ý, suy chocùng, sự quản lý của các nhà hành chính đều có một vỏ bọc bên ngoài
- Trước hết hành chính là nghệ thuật song cũng đang có một xu hướng làchuyển nó thành một ngành khoa học Các nhà hành chính hiện nay có rất nhiềutrang thiết bị và kiến thức hệ thống để hỗ trợ họ trong công việc Khoa học giúpđưa các phương thức hành chính vào thực tiễn công tác hàng ngày và loại bỏ dầnlối làm việc chỉ theo kinh nghiệm chủ nghĩa
- Hành chính đã, đang và sẽ trởi thành trọng tâm của vấn đề quản lý hiệnđại của Chính phủ
- Vì thế, nên bắt đầu nghiên cứu về hành chính trên cơ sở của quản lý hơn
là nền tảng pháp luật Việc bắt đầu nghiên cứu pháp luật làm cho hành chính chútrọng nhiều hơn vào các phương diện pháp lý và hình thức của nó so với các đặcđiểm mang tính tác nghiệp Pháp luật, nhất là hệ thống luật hành chính có lẽ cóảnh hưởng nhiều nhất và qui định những giới hạn đối với nền hành chính
1.2.4.2 Hành chính và chính trị không phân đôi:
Trong khi có những người tiếp cận hành chính và chính trị độc lập như làhai ngành khoa học thì một số nhà nghiên cứu khác lại cho rằng sự độc lập củahành chính đối với chính trị chỉ mang tính tương đối Những người theo tư duy
Trang 15chính và chính trị có cùng nguồn gốc, hành chính phụ thuộc vào chính trị haychính trị là nguồn gốc của hành chính Họ không thừa nhận hành chính là mộtlĩnh vực khoa học độc lập với khoa học chính trị.
* Fritz Morstei Marx:
Cuốn sách “Các yếu tố của hành chính công” do Fritz Morstei Marx chủbiên ra đời năm 1947 là một trong những tác phẩm chính nghi vấn giả thuyết sựphân đôi giữa chính trị và hành chính Tất cả 14 bài báo của cuốn sách do các nhàthực tiễn viết đã chỉ ra rằng cái gọi là “hành chính độc lập” trên thực tế lại mangnặng tính chính trị
Người ta đã đặt ra một số câu hỏi sau:
- Liệu một quyết định mang tính kỹ thuật về ngân sách và nhân sự có thật làkhách quan và phi chính trị không hay la nó mang nặng tính chủ quan vàchính trị?
- Liệu có phải lúc nào cũng có thể phân biệt rõ ràng sự khác nhau giữa hànhchính và chính trị hay không?
- Liệu việc phân biệt rõ ràng hành chính và chính trị lúc nào cũng cần thiết
và có giá trị hay không?
- Liệu cơ sở của việc phân đôi chính trị và hành chính đã chín muồi haychưa?
* Allen Schick:
Trong cuốn “Chấn thương của quan điểm chính trị”, Allen Schick khẳng địnhrằng “hành chính” và “chính trị” là những gì hoàn toàn không thể tách rời nhauđược Ông khẳng định hành chính công luôn phục vụ quyền lực và có quyền lực,rằng sự phục vụ quyên lực là để giúp giới quyền lực giữ vững sự cai trị có hiệu quảhơn Theo ông, tất cả mọi người đều có lợi từ sự cai trị tốt của Chính phủ
Trang 16CHƯƠNG 2: KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC TRONG MỐI QUAN HỆ CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Ở nước ta, mối quan hệ chính trị - hành chính được đặt trong trong cơ chếvận hành của hệ thống chính trị là “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dânlàm chủ” đã được xác định và duy trì trong suốt thời kỳ xây dựng nhà nước phápquyền XHCN Việt Nam
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (năm 1986), Đảng ta khẳng định:
“Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý thành cơ chế chung trong quản lý toàn bộ xã hội” Cơ chế này phản ánh và giải quyết các mối quan hệ cốt
lõi của xã hội Việt Nam Vì vậy, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nhấn mạnh “phải đặc biệt chú trọng nắm vững và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn: ; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.”
Như vậy trước hết, chúng ta cần nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng cótác động như thế nào đối với hành chính
2.1 Cơ sở pháp lý
Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam làđảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội, chịu trách nhiệm vềnhững quyết định của mình trước nhân dân, dân tộc Vai trò lãnh đạo, cầm quyềncủa Đảng đã được nhân dân thừa nhận, ủy quyền, giao phó và được khẳng địnhtrong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội(năm 1991), Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) và trong Hiến pháp năm
1980, 1992 và 2013
Điều 4 của Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định địa vị pháp lý của Đảng:
“Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân đồng thời làđội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trungthành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, và của cả dân tộc, lấychủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lựclượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”
Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và hành chính nhà nước là tất yếukhách quan, là tiền đề và điều kiện để Nhà nước giữ vững tính chất xã hội chủnghĩa, bản chất của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân của mình Trong nhữngnăm đổi mới, Đảng luôn củng cố, giữ vững vai trò lãnh đạo đối với Nhà nước,
Trang 17dung chủ yếu sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là Đảng đề ra đường lối,chủ trương đúng đắn để xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa Đảng lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảngthành chính sách, pháp luật của Nhà nước và tổ chức thực hiện chính sách, phápluật; tăng cường quản lý cán bộ, đảng viên trong bộ máy Nhà nước; xây dựng độingũ cán bộ, công chức trong sạch, vững mạnh; tăng cường kiểm tra tổ chức đảng
và đảng viên trong cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức sự nghiệp, đơn vịthuộc lực lượng vũ trang nhân dân, doanh nghiệp nhà nước trong việc thực hiệncác nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước
Thực tế lịch sử đã chỉ rõ, sự lãnh đạo của Ðảng là hạt nhân của mọi thắnglợi của cách mạng Việt Nam Bằng những hình thức và phương pháp lãnh đạocủa mình, Ðảng cộng sản giữ vai trò quyết định đối với việc xác định phươnghướng hoạt động của nhà nước trên mọi lĩnh vực; sự lãnh đạo của Ðảng đối vớinhà nước mang tính toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội Sự lãnh đạo
đó chính là việc định hướng về mặt tư tưởng, xác định đường lối, quan điểm giaicấp, phương châm, chính sách, công tác tổ chức trên lĩnh vực chuyên môn
2.1.1 Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hành chính Nhà nước
2.1.1.1 Ðảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước bằng việc đưa
ra đường lối, chủ trương, chính sách
Trước hết, Ðảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước bằng việc đưa ra đường lối, chủ trương, chính sách của mình về các lĩnh vực hoạt động khác nhau của quản lý hành chính nhà nước Trên cơ sở đường lối chủ trương,
chính sách của Ðảng Các chủ thể quản lý hành chính nhà nước xem xét và đưa racác quy định quản lý của mình để từ đó đường lối, chủ trương, chính sách củaÐảng sẽ được thực hiện hóa trong quản lý hành chính nhà nước Trên thực tế,đường lối cải cách hành chính nhà nước được đề ra trong nghi quyết đại hội đạibiểu Ðảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI và thứ VII và trong Nghị quyết trungương khoá VIII về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩaViệt nam, mà trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính quốc gia là kim chỉnam cho hoạt động quản lý hành chính nhà nước Hiện nay đã đựơc Chính phủ cụthể hoá thành Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/6/2001 về Chương trìnhtổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2001 – 2010 và Nghị quyết số30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 về Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhànước giai đoạn 2011 - 2010