Tài nguyên thiên nhiên có thể bị hao kiệt Tài nguyên thiên nhiên khôi phục được Tài nguyên thiên nhiên Tài nguyên thiên nhiên không bị hao kiệt Tài nguyên thiên nhiên không khôi phục đư
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐH SƯ PHẠM - - - -
Đề
tài:
BÀI TIỂU LUẬN HIỆN TRẠNG TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
Người hướng dẫn: TS Nguyễn Văn Hồng
Người thực hiện: Hoàng Văn Phụng
Lớp: Toán k45 A
Thái Nguyên năm 2010
Trang 2Tài nguyên thiên nhiên có thể bị hao kiệt
Tài nguyên thiên nhiên khôi phục được
Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên thiên nhiên không bị hao kiệt
Tài nguyên thiên nhiên không khôi phục được
Tài nguyên thiên nhiên là những giá trị có ích của môi trường tự
nhiên thoả mãn những nhu cầu khác nhau của con người bằng sựtham gia trực tiếp vào các quá trình phát triển kinh tế
của nhân loại
và đời sống
Tài nguyên trên trái đất là có hạn, nhất là các tài nguyên khoángsản, Trong khi đó, sự tiêu dùng tài nguyên thiên nhiên của conngười ngày càng lớn: mức tiêu dùng tính trên đầu người tăng lên vàdân số trên hành tinh lại tăng thêm nữa Mặc dù tiến bộ của khoahọc công nghệ mở ra những khả năng mới nhằm mở rộng giới hạn
về tài nguyên của trái đất, người ta không thể không lo ngại về sựcạn kiệt của nhiều tài nguyên và chính sự cạn kiệt này đang đe doạ
sự tồn tại của chính loài người
Sự nâng cao chất lượng cuộc sống của con người gắn liền vớiviệc tăng cường mức tiêu dùng tài nguyên trên đầu người Nguy cơ cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên làm cho việc cải thiện chất lượngcuộc sống, cũng như
vững
sự phát triển nói chung trở nên không bền
Có thể phân loại tài nguyên thiên nhiên theo sơ đồ sau:
Trang 3Tài nguyên thiên không bị hao kiệt là những vật thể và hiện
tượng tự nhiên mà số lượng của chúng không bị thay đổi hay bịthay đổi không đáng
kể trong quá trình sử dụng lâu dài (như nănglượng mặt trời, năng lượng gió, thuỷ triều, nhiệt lòng đất, khôngkhí của khí quyển, tổng trữ lượng nước trên trái đất)
Tài nguyên thiên nhiên có thể bị hao
kiệt
là những vật thể và
hiện tượng tự nhiên mà
số
lượng và chất lượng của chúng bị thay
đổi căn bản trong quá trình sử dụng lâu dài
Tài nguyên thiên nhiên không khôi phục được là những tài
nguyên thiên nhiên có thể bị hao kiệt mà sử dụng lâu dài tài nguyênnày sẽ làm cạn kiệt nguồn dự trữ của chúng, còn việc bổ sung trênthực tế là không thể được (như các loại khoáng sản)
Tài nguyên thiên nhiên khôi phục được là những tài nguyên thiên
nhiên có thể bị hao kiệt nhưng số lượng của chúng có thể được táixuất bởi các quá trình tự nhiên khi sử dụng tài nguyên này (như đấtđai, lớp phủ thực vật, thế giới đông vật…)
HiÖn tr¹ng tµi nguyªn thiªn nhiªn
I. Hiện trạng về tài nguyên sinh học (đa dạng sinh học)
Tài nguyên sinh học hay đa dạng sinh học là tất cả các loài độngvật, thực vật, vi sinh vật sống hoang dại, tư nhiên trong rừng, trong các vực nước, trong đất
1 Trên thế giới
Theo ước tính trên
thế giới có khoảng 13-14 triệu loài sinh vật,trong đó mới chỉ phát hiện khoảng 1,4 triệu loài
Đa dạng sinh học có ý nghĩa rất lớn không chỉ trong thiên nhiên mà
cả đối với đời sống con người trước hết, các loài và các hệ sinhthái tạo nên giá trị cho nền văn minh nhân loại Chúng ta sốngkhông thể thiếu thiên nhiên và không thể không gắn kết chặt chẽ
Trang 4một hay một vài loài nào đó mà ngược lại, phải bảo vệ
bền vững của các loài trong hệ sinh thái phát triểnTuy nhiên tính đa dạng sinh học đang bị suy giảm mạnh do nơi ở,thức ăn, môi trường và tính mạng của chúng đang bị đe dọa nguyênnhân dẫn đến các hiện tượng trên phần lớn do con người khai thácquá mức và bừa bãi
Sự chặt phá rừng nhiệt đới mỗi năm đã làm mất đi 17500 loài singvật Theo tính toán, Trước đây cứ 2 – 10 năm thì có khoảng 2 loài bịtiêu diệt
2 Ở Việt Nam
Việt Nam là nước có đọ đa dạng sinh học cao:
Hệ thực vật có khoảng 14000 loài; đã xác định được 7000 loài thực vật bậc cao, 800 loài rêu, 600 loài nấm, 600 loài rong biển Trong
đó có 1200 loài thực vật đặc hữu, 2300 loài thực vật sử dụnglương thực thực phẩm, thuốc chữa bệnh, tinh dầu, vật liệu xâydựng Hệ thực vật nước ta có nhiều loài quý hiếm như gỗ đỏ,hoàng đàn, Hoàng Liên chân gà…
Hệ động vật tính đến nay đã xác định được hơn 275 loài thú, 1009loài và phân loài chim, 349 loài bò sát và lưỡng cư, 527 loài cá nướcngọt, khoảng 2038 loài cá biển, 1200 loài côn trùng, 1600 loài dôngvật giáp xác, 2500 loài động vật thân mềm, 350 loài san hô đượcbiết tên….Hệ động vật Việt Nam còn có một loài quý hiếm nhưvoi, tê giác, voọc, hổ, báo…
Hình 1 gấu đen Hình 2 voọc
Trang 5Hình 3 sao la Hình 4 hổ
Tuy nhiên hiện nay nước ta đang trong tình trạng báo động vềnhiều loài có nguy cơ bị tiêu diệt, nhiều loài động thực vật quýhiếm đã đươc đưa vào sách đỏ Có khoảng 400 loài đang trong tình trạng hiếm và khoảng 400 loài có nguy cơ bị tiêu diệt
Nguyên nhân do
sự khai thác quá mức, bùa bãi, sự phá hoại môitrường sống của con người dẫn đến nguy cơ
mất đi nơi cư trú của các loài sinh vật…
Hình 5 động vật quý hiếm bị săn bắt
tuyệt chủng và làm
II. Hiện trạng về tài nguyên rừng
Rừng là hệ sinh thái có đọ đa dạng sinh học cao nhất và đượcmệnh danh là “ngôi nhà khổng lồ” cho các loài động, thực vật, là
“người” tu bổ
cầu…
cho đất, là “lá phổi xanh” điều hòa khí hậu toan
Trang 6Diện tích rừng Việt Nam từ 1943 – 2000
Năm Diện tích rừng% Năm Diện tích rừng%
Trang 7khoảng 10% rừng nguyên thủy Miền Bắc Việt Nam đã chứng kiến
sự sa sút lớn nhất
về độ che phủ rừng, giảm từ 95% xuống còn17% trong thời gian từ năm 1952 – 2000 Nhiều tỉnh miền núi độche
phủ rừng tự nhiên rất thấp, nhất là rừng già: Ở Lai Châu chỉcòn 7,88%; Sơn La 11,95%; Lào Cai 5,38% Từ 1995 – 1999, ở Tây
Nguyên đã có 18.500 ha rừng bị chặt phá Diện tích đất trống đồinúi trọc chiếm diện tích khá lớn 30,5%
Theo đánh giá thì khuynh hướng giảm tài nguyên nói chung vẫn còn tiếp diễn
Nguyên nhân chủ yếu do sự khai thác thiếu hợp lí, bừa bãi của conngười,
sự
hiểu biết về
tầm quan trọng của rừng và ý thức bảo vệ
rừng của con người chưa cao, do những phong tục lạc hậu của một
số dân tộc thiểu số có thói quen đốt rừng làm nương rẫy, do các
thiên tai như hạn hán dẫn tới cháy rừng…
về trồng rừng, phủ
Trang 81 Trên thế giới
Trang 9Trên thế giới biển chiếm 71% bề mặt trái đất, có độ sâu trung bình3.170m, tổng thể tích nước khoảng 1.730 triệu km3, biển và đạidương trở thành hệ sinh thái khổng lồ, cùng với lục địa, khí quyển tạo nên sự cân bằng ổn định cho toàn sinh quyển và hành tinh.
Biển và đại dương không phải là hệ thống đồng nhất mà gồm các
bộ phận khác biệt bởi các nét riêng của mình, đồng thời phân bố ởnhững vĩ độ khác nhau,
bị ngăn cản bởi các lục địa khác nhau Tạimỗi vùng tác động của con người lên biển cũng khác nhau nên hậuquả mà biển phải gánh chịu cũng khác nhau
Biển mang lại cho con người nguồn sinh vật biển vô cùng phongphú Tuy nhiên do việc khai thác quá nhiều của con người cùng với
sự gia tăng dân số nhanh như hiên nay nguồn sinh vật biển đang có
xu hướng giảm rất lớn Do vậy để phục vụ nhu cầu về thủy hảisản con người phải đẩy mạnh nuôi trồng thuỷ hải sản…
Ở nhiều nơi việc khai thác dầu khí trên biển đóng vai trò quantrọng cho sự phát triển kinh tế, xã hội
Ngoài ra biển còn có tiềm năng về du lịch…
Hiện nay ở nhiều nơi trên thế giới tài nguyên biển và ven biểnđang ô nhiễm và giảm sút về chất lượng một cách nghiêm trọng,nguồn tài nguyên biển dần bị can kiệt
Nguyên nhân chủ yếu do việc khai thác quá nhiều nguồn lợi từbiển làm mất đi sự đa dạng và phong phú tài nguyên biển, do cachoat động sinh hoạt, sản xuất của con người, các sự cố tràn dầutrên biển làm biển bị ô nhiễm, dẫn đến làm mất đi môi trường sống của nhiều loài sinh vật, lam mất cân bằng sinh quyển…
2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam biển đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh
tế, xã hội Với chiều dài 3.260km và nằm trong vùng nhiệt đới giómùa, biển nước ta có độ đa dạng sinh học cao Theo thống kê hệthực vật thủy sinh có khoảng 1.300 loài và phân loài, 9.250 loài động vật
Bờ biển dài cùng với vùng lãnh thổ rộng nên nguồn lợi thủy hảisản rất lớn, có nhiều tiềm năng về
khí và du lịch…
nuôi trồng thủy hải sản, dầu
Trang 10Hình8 đánh bắt và nuôi trồng thủy sản
Hình 9 biển Việt Nam có tiềm năng du lịch
Hình 10 khai thác dầu trên biển
Trang 11Tuy nhiên, do sự khái thác quá mức và bừa bãi làm cho nhiều loạihải sản bị cạn kiệt, khó có thể hồi phục…
Việc khai thác dầu khí trên thêm lục địa đang đóng góp phần quantrọng trong kinh tế nước Tuy nhiên, nó cũng gây nên
và mất cân bằng sinh thái biển…
Do các hoạt đông sản xuất, sinh hoạt của con người thai ra biểncác chất thải làm ô nhiễm biển
IV. Hiện trạng về tài nguyên đất
1 Trên thế giới
Diện tích trái đất là 510 triệu km2, trong đó biển và đại dươngchiếm 70,8%, trái đất chiếm 29,2% Trong đất liền Bắc cầu chiếm39%, Nam bán cầu là 19%
bảng phân bố diện tích đất liền các khu vực trên thế giới
Địa danh Diện tích (km 2) Địa danh Diện tích (km 2)
bão cát, do mưa) làm đất đai không có khả năng canh tác, đất đai bị hoang mạc hóa, ô nhiễm
2 Ở Việt Nam
Viêt Nam có trên 39 triệu ha đất tự nhiên, xếp thứ 55 trong số 200nước trên thế giới Diện tích đất đã sử dụng vào các mục đích kinh
tế - xã hội là 18,881 triệu ha, chiếm 57,04% quỹ đất tự nhiên trong
đó đất nông nghiệp chiếm 22,20% diện tích đất tự nhiên và 38.92%
Trang 12diện tích đất đang sử dụng Hiện còn 14.217 triệu ha đất chưa sửdụng chiếm 43,96% quỹ đất tự nhiên
Đất xói mon trơ sỏi đá: 505.298 ha
Các loại đất khác và đất chưa điều tra: 3.651.586 ha
Tiềm năng đất có khả năng canh tác nông nghiệp của cả nướckhoảng 10 – 11 triệu ha, diện tích đã được sử dụng chỉ có 6,9 triệuha; trong đó 5,6 triệu ha là đất trồng cây lâu năm (lúa: 4,144 triệuha; hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày: 1,245 triệu ha ) và 1,3triệu ha là đất trồng cây ăn quả và cây lâu năm khác (cà phê, cao su,dâu tằm, hồ tiêu, cam, quýt )
Đất đai của nước ta ở khu vực nhiệt đới, mưa nhiều, nhiệt độ cao,quá trình khoáng hóa xảy ra mạnh Vì thế đất dễ
bị rủa trôi, xóimòn, dễ thoái hóa Tuy vậy Việt Nam có hai nguồn đất phù sa ởlưu vực sông Hồng và sông Cửu Long có đọ
năng sinh học cao
phù sa lớn và tiềm
Ngoài ra Việt Nam còn có nguồn đất ngập nước tập trung ở vùngchâu thổ sông hồng và sông cửu long Hệ sinh thái ngập nước cógiá trị kinh tế rất lớn, đặc biệt về nông nghiệp và lâm nghiệp,không những thế đây còn là nơi cư trú của nhiều loài động vật như chim di cư
Trang 13Hình 11 đất ngập nước nơi cư trú của nhiều loại chim di cư
Tuy nhiên tài nguyên đất ở Việt Nam cũng nằm ở trong tình trạngchung nhất là trong thời kì công nghiệp hóa, đô thị hóa, dân số tăng.Nguồn đất đai canh tác ngày càng giảm do sử dụng với những mụcđích phi nông nghiệp
Do các hoạt động công, nông nghiệp thải ra đất các chất độc hại,các chất thải trong sinh hoạt của con người lam cho đất bị ô
nhiễm
Hình 12 rác thải gây ô nhiễm đất
Trang 14Hiện tượng chặt phá rừng làm mất đi lớp che phủ gây ra các hiện tượng sói mòn đất, lở đất.
Hình 13 Đất bị sói mòn
Do hiện tượng nước triều cường làm cho đất bị nhiễm mặn, ở một
số nơi đất bị nhiềm phèn làm cho đất không còn khả năng sử
Từ các thiên thạch đưa lại
Từ lớp trên của khí quyển trái đất
Nguồn nước từ trong lòng đất tạo nên nước mặn, nước ngọt, hơinước trên mặt đất nước tự nhiên tập chung chủ yếu ở biển và đạidương (chiếm 97.61%), sau đó là trong các khối băng ở các cực(1.83%), cuối cùng là nước ngầm (0.54%) Nước ngọt tầng mặt chiếm tỉ lệ không đáng kể (2.4%),
Trang 15Sơ đồ chu trình nước
Bảng số liệu về sự phân bố nước
Nơi chứa Thể tích
(1.000m 3 )
Tỷ lệ % so với tổng số
Thời gian thay đổi nước mới
Trong tông số lượng nước cần cho con người thì:
6% dùng cho sinh hoạt
21% dùng cho sản xuất công nghiệp
Trang 16 63% dùng cho sản xuất nông nghiệp
Con người không
chỉ
lấy nước từ
Những ảnh hưởng từ các hoạt động của con người đến tài nguyên nước chủ yếu là:
Phân bố lại nguồn nước: do đỏi dòng, làm nguội dòng cácdòng sông, đắp đập, đào hồ, dẫn nước vào hoang mạc
Làm suy giảm, có nơi dẫn đến cạn kiệt nguồn nước ngọt và sạch
Làm chua hóa, mặn hóa và ô nhiễm các vỉa nước ngầm
Làm ô nhiễm biển mà đại dương Tạo nguy cơ nứt vỡ và tan băng ở hai cực gây ra hiện tượng dâng cao mực biển và đại dương
Hình 14 sự cố đắm tàu, tràn dầu trên biển gây ô nhiễm nguồn nước
theo mùa (từ tháng 4 – 11)
không đồng đều mà tập chung
Chất lượng nước của Việt Nam thuộc loại nước mềm độ
thấp thuận tiện cho sử dụng trong sản xuất và sinh hoạt khoángLượng nước mặt dồi dào, chiếm khoảng 2% tổng lượng dòng chảycủa các sông trên thế giới trữ
Trang 17lượng nước ngầm lớn, nhịp điệu
khai thác trung bình là 15 triệu m3/ngày Nước ngầm chủ yếu phục
vụ sinh hoạt và sản xuất
Tổng lượng dòng chảy của tất cả các con sông chảy qua lãnh thổViệt Nam là 853 km3, trong đó tổng lượng dòng chảy phát sinh trênnước ta chỉ có 317 km3
Tỉ
trọng nước bên ngoài chảy vào nước ta
tương đối lớn, tới 60% so với tổng lượng nước sông toàn quốc,riêng đối với sông Cửu Long la 90%
Tổng lượng nước chảy / năm của sông Mê Kông bằng khoảng 500
km3 chiếm tới 59% tổng dòng chảy hàng năm của các sông trong cảnước; sau đó đến hệ thống sông Hồng 126,5 km3 (14,9%); hệ thốngsông Đồng Nai 36,3 km3 (4,3%); sông Mã, Cả, Thu Bồn có tổnglượng chảy xấp xỉ nhau, khoảng trên dưới 20 km3 (2,3 – 2,6 %); các
hệ thống sông Kì Kùng, Thái Bình và sông Ba cũng xấp xỉ băngnhau, khoảng 9,3 km3 (1%); các sông còn lại là 94,5 km3 (11%)
Ở vùng đồng bằng châu thổ, mực nước ngầm ở độ sâu từ 1 – 200
m, ở miền núi thường ở độ sâu từ 10 – 15 m, còn ở các vùng núi đá vôi nước ngầm ở độ sâu khoảng 100m
Ngoài ra nước ta còn có khoảng 350 nguồn nước khoáng, trong đó
có 169 nguồn nước có nhiệt độ trên 30 oC
Tài nguyên nước Việt Nam tuy dồi dào và chất lượng tốt Tuynhiên hiện nay tài nguyên nước đang bị ô nhiễm và xâm hại dẫnđến nguy cơ cạn kiệt nguồn nước sạch, chất lượng nguồn nướcngày cang giảm sút
Do việc lạm dụng quá nhiều các chất hóa học độc hại trong sang xuất nông nghiêp như: thuốc trừ sâu, diệt cỏ
Trang 18 Các chất độc trong chiến tranh để lại, các chất phóng xạ
Hình 15b các chất thải nguyên nhân gây ô nhiễm tài nguyên nước
VI. Hiện trạng về tài nguyên khoáng sản
1 Trên thế giới
Khoáng sản được phát sinh trong lòng đất, được chứa trong vỏ tráiđất, dưới đáy biển và hòa tan trong nước biển Khoáng đa dạng vềnguồn gốc và chủng loại
Có hai nhóm chính: nhóm kim loại và nhóm phi kim loại
Nhóm kim loại: gồm loại có trữ
nhôm, ) và loại hiếm (vàng, bạc ) lượng lớn (sắt, đồng,
Nhóm phi kim loại: gồm các loại quặng phốtphát, quặng
sunfat, clorit, , các nguyên liệu khoáng (cát, sỏi, đá vôi, thạch
Trang 19anh, ), dạng nhiên liệu (than, dầu mỏ, khí đốt, ) Nước cũngđược coi là một dạng chất khoáng (nước biển, nước ngầm chứakhoáng ).
Khoảng 100 năm trở lại đây, con người đã lấy đi lượngkhoáng sản rất lớn (khoảng 130 tỉ tấn than, 38 tỉ tấn dầu ) nguy
cơ cạn kiệt đã và đang là vấn đề quan tâm của nhân loại vì khoángsản không phải là tài nguyên tái được, một số
cạn kiệt
loại khoáng có thể
2 ở Việt Nam
Việt Nam là nước có tài nguyên khoáng sản dồi dào
Việt Nam nằm trên bản lề của hai vành đai kiến tạo khoáng sảnlớn của trái đất là Địa Trung Hải và Thái Bình Dương Công tácthăm dò địa chất trong 40 năm qua đã phát hiện và đánh giá đượctrữ lượng của 5000 mỏ và điểm quặng, thuộc 60 loại khoáng sản.Các loại khoáng sản có quy mô lớn:
Than: trữ lượng khoảng 3,5 tỉ tấn ở độ sâu khoảng 300m(1991), chủ yếu là ở Quảng Ninh, Thái Nguyên Năm 1996 sảnlượng khai thác là 10,9 triệu tấn than lộ thiên
Bôxít: có trữ lượng vài tỉ tấn, hàm lượng quặng cao 40 – 43%,chất lượng tốt
Thiếc: có ở Tĩnh Túc – Cao Bằng có tới hàng chục tấn, lượng khai thác còn ít, trữ lượng 129 nghìn tấn
Sắt: phân bố ở phía bắc như Thái Nguyên, Cao Bằng, HàGiang, ven sông Hồng Trữ lượng khoảng gần 1 tỉ tấn
Apatít: có trữ
Cai lượng trên 1 tỉ tấn, có ở một số nơi như Lào
Đồng: trữ lượng khoảng 600 nghìn tấn, lượng khai thác còn ít
Crôm: trữ
không cao lượng khoảng 10 triệu tấn, nhưng chất lượng
Vàng: phân bố nhiều ở Bồng Miêu – Bắc Lạng, vàng sakhoáng quy mô nhỏ có nhiều
ở Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Giang,Tuyên Quang , trữ lượng khoảng 100 tấn