TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Tình hình nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc ở trên Thế giới
Từ khi con người xuất hiện, rừng đã trở thành nguồn sống quan trọng, cung cấp lương thực, thực phẩm, rau ăn, nước uống và thuốc chữa bệnh Qua nhiều thế kỷ, các cộng đồng trên toàn thế giới đã phát triển những phương thuốc cổ truyền, làm cho các loại cây thuốc và công dụng của chúng trở nên có ý nghĩa Kinh nghiệm dân gian về sử dụng cây thuốc được nghiên cứu khác nhau tùy thuộc vào sự phát triển của từng quốc gia, dẫn đến việc hình thành nền Y học cổ truyền đặc trưng cho mỗi châu lục và dân tộc.
Nghiên cứu lịch sử sử dụng cây thuốc của các dân tộc trong khu vực đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, với nhiều bằng chứng xác thực Trong cuốn “Lịch sử liên đại cây cỏ” xuất bản năm 1878, Charles Pikering đã chỉ ra rằng từ năm 4271 TCN, người dân Trung Cận Đông đã sử dụng nhiều loại cây như sung, vả, và cau dừa không chỉ để làm lương thực mà còn để chữa bệnh.
Dựa trên các bằng chứng khảo cổ, Borisova B (1960) cho thấy rằng vào khoảng 5.000 năm TCN, cây thuốc đã được sử dụng phổ biến và trở thành mục tiêu chiếm đoạt trong các cuộc chiến tranh giữa các bộ tộc, bên cạnh phụ nữ và các loại cây lương thực Điều này chứng tỏ rằng tầm quan trọng của cây thuốc đã được nhân loại nhận thức từ rất sớm, với việc thu thập và nhập nội các giống cây thuốc quý được thực hiện bởi các chiến binh ngay từ thời cổ đại.
Châu Úc được xem là cái nôi của nền văn minh cổ xưa nhất thế giới, với các thổ dân đã định cư cách đây hơn 60.000 năm và phát triển kiến thức về cây thuốc bản địa Một trong những loài cây nổi bật là cây Bạch đàn xanh (Eucalyptus globulus), chỉ có ở châu Úc, được sử dụng hiệu quả trong chữa bệnh Tuy nhiên, nhiều kiến thức về dược thảo của thổ dân đã bị mất khi người châu Âu đến định cư Hiện nay, phần lớn dược thảo ở châu Úc có nguồn gốc từ phương Tây, Ấn Độ, Trung Quốc và các nước ven Thái Bình Dương.
Dược thảo ở châu Âu rất phong phú, chủ yếu dựa vào y học cổ truyền Galen (131-200 SCN), thầy thuốc của Hoàng đế La Mã Marcus Aurelius, đã có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của thuốc từ thảo mộc với hàng trăm cuốn sách được áp dụng trong y học châu Âu suốt 1500 năm Vào thế kỷ I SCN, thầy thuốc Hy Lạp Dioscorides đã viết cuốn "De materia Medica", đóng góp quan trọng cho nền tảng dược học thời bấy giờ.
Cuốn sách về 600 loại thảo mộc đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến y học phương Tây và trở thành tài liệu tham khảo quan trọng ở châu Âu cho đến thế kỷ XVII, được dịch ra nhiều ngôn ngữ như tiếng Anh cổ và tiếng Ba Tư Trong thời Trung cổ, học thuyết “Dấu hiệu” cho rằng có mối liên hệ giữa hình dáng bên ngoài của cây và công dụng y học của chúng, ví dụ như cây Cỏ phổi với lá lốm đốm chữa bệnh phổi Vào khoảng thế kỷ XI, các thầy tu ở Scotland đã sử dụng cây thuốc Phiện và cây Cần sa để giảm đau và gây mê Nicholas Culpeper, vào thế kỷ XVII, đã xuất bản cuốn dược thảo “The English Physitian”, kế thừa kiến thức từ các bậc tiền bối và trở thành sách bán chạy nhất Ở châu Phi, ngành dược thảo cổ truyền rất phong phú, với tài liệu từ Ai Cập cổ đại liệt kê hàng trăm loài cây thuốc và công dụng của chúng, như trong bản giấy cói Ebers ghi lại hơn 870 toa thuốc Việc buôn bán dược thảo giữa các vùng Trung Đông, Ấn Độ và Đông Bắc châu Phi đã diễn ra từ 3000 năm trước, và từ thế kỷ V đến XIII, các thầy thuốc Ả Rập đã đóng góp lớn cho sự tiến bộ của y học, trong đó có nhà thực vật học Ibn El Beitar với cuốn “Các vấn đề y khoa” về cây thuốc ở Bắc Phi.
Các nhà thực vật Pháp được xem là những người tiên phong trong nghiên cứu thực vật Đông Nam Á, khám phá giá trị tiềm ẩn của các cánh rừng nhiệt đới Vào đầu thế kỷ XX, trong chương trình nghiên cứu thực vật Đông Dương, Perry đã công bố 1.000 loài cây và dược liệu tại khu vực này Gần đây, vào năm 1985, ông đã tổng hợp các nghiên cứu này thành cuốn sách "Medicinal Plants of East and Southeast Asia".
Dược thảo châu Á nổi bật với hai quốc gia có nền y học cổ truyền lâu đời là Trung Quốc và Ấn Độ Từ đầu thế kỷ II, y học Trung Quốc đã sử dụng cây cỏ làm thuốc, như nước cây Chè (Thea sinensis) để chữa trị vết thương Cuốn sách “Cây thuốc Trung Quốc” xuất bản năm 1985 đã liệt kê nhiều loại cây chữa bệnh như rễ gấc (Momordica cochinchinensis) và cải soong (Nasturtium officinale) Các nhà khoa học đã nghiên cứu và biên soạn nhiều tài liệu giá trị từ kinh nghiệm dân gian Từ thời nhà Hán (168 năm TCN), cuốn “Thủ hậu bị cấp phương” đã ghi nhận 52 đơn thuốc từ cây cỏ, và vào giữa thế kỷ XVI, Lý Thời Trân đã thống kê 12.000 vị thuốc trong “Bản thảo cương mục” Cuốn sách “Cây thuốc Trung Quốc” năm 1985 đã tổng hợp hầu hết các loài cây chữa bệnh được biết đến tại Trung Quốc.
Văn minh Ấn Độ cổ đại đã phát triển cách đây 5.000 năm dọc theo sông Indus, với kiến thức phong phú về dược thảo được ghi chép trong bộ sử thi Vedas vào năm 1500 TCN Nhiều loài cây, như cây Trái nấm (Aegle marmelos), được coi là “cây thiêng” dành cho các vị thần Hindu, như thánh Lakshmi, biểu tượng của sự giàu có và may mắn, và thánh Samhita, vị thần của sức khỏe Các công dụng của những cây thuốc này đã được ghi lại trong các tài liệu dược thảo cổ xưa.
"Charaka Samhita", được viết vào năm 400 TCN, là một tác phẩm quan trọng trong y học cổ truyền Ấn Độ Khoảng 100 năm SCN, một học giả Ấn Độ đã mô tả chi tiết 341 loại dược thảo cùng với các loại thuốc có nguồn gốc từ khoáng chất và động vật.
Y học dân tộc Bungari, được biết đến như "Đất nước của hoa hồng", coi hoa hồng là một vị thuốc quý chữa nhiều bệnh Cả hoa, lá và rễ của cây hoa hồng đều được sử dụng để điều trị các vấn đề như huyết ứ và bệnh phù thũng Ngày nay, nghiên cứu đã chỉ ra rằng cánh hoa hồng chứa một lượng tanin, glycosid và tinh dầu đáng kể, không chỉ dùng để sản xuất nước hoa mà còn có tác dụng chữa trị nhiều loại bệnh.
Việc phát hiện ra các hóa chất chữa trị bệnh ung thư hiệu quả trong cây Thuỷ tùng, loài cây bản địa của rừng cổ Bắc Mỹ, đã tạo ra lợi nhuận kinh tế đáng kể Trong hai mươi năm qua, ngành công nghiệp chế biến Thuỷ tùng thành thuốc chữa ung thư đã mang lại doanh thu 500 triệu USD mỗi năm, với các sản phẩm này được sử dụng rộng rãi tại Châu Âu và Châu Á Hãng dược phẩm Biotech nổi tiếng của Bỉ hàng năm nghiên cứu và sàng lọc từ 1.500 đến 2.000 loài cây thuốc từ khắp nơi trên thế giới.
Các nhà khoa học trên thế giới đang nghiên cứu cơ chế và hợp chất hóa học trong cây thuốc có tác dụng chữa bệnh, bên cạnh phương pháp chữa bệnh cổ truyền Vào thế kỷ XVIII, bác sĩ William Withering đã phát hiện công dụng của cây Mao địa hoàng (Digitalis purpurea), đánh dấu bước ngoặt trong y học Các loài Ba gạc (Rauwfolia sp.) cung cấp chất resecpin và serpentin để hạ huyết áp, trong khi cây Dừa cạn (Catharanthus roseus) cho vinblastin và vincristin, có tác dụng hạ huyết áp và chống ung thư máu Những năm gần đây, nhờ vào nghiên cứu về cấu trúc và hoạt tính của hợp chất hóa học tự nhiên, nhiều loại thuốc hiện đại hiệu quả đã được phát triển.
Nhiều loài Hoàng Liên (Coptis spp) đang được ghi nhận là thực vật nguy cấp tại nhiều quốc gia Đông Á Đặc biệt, loài Ba gạc (Rauvolfia serpentina (L.) Benth ex Kurz) đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng do bị khai thác quá mức ở Ấn Độ, Băng la đét, Srilanka và Thái Lan.
Chữa bệnh bằng cây cỏ đang trở thành xu hướng toàn cầu, với Viện Ung thư Hoa Kỳ (CNI) đã nghiên cứu hơn 40.000 mẫu cây thuốc trong 30 năm qua và phát hiện hàng trăm loại có khả năng chữa trị ung thư Đặc biệt, 25% đơn thuốc tại Mỹ chứa các chế phẩm từ cây Hoa hồng (Cantharanthus roseus), loại cây đã được sử dụng hiệu quả tại Madagascar để điều trị bệnh máu trắng ở trẻ em, giúp tăng tỷ lệ sống từ 10% lên 90%.
Tình hình nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc ở Việt Nam
Việt Nam sở hữu nền Y học cổ truyền phong phú với nhiều cây thuốc, bài thuốc và vị thuốc, được hình thành qua 4000 năm lịch sử chống thiên nhiên, bệnh tật và chiến tranh Qua thời gian, người Việt đã tích lũy kinh nghiệm và tri thức quý báu trong việc sử dụng cây thuốc Đặc biệt, nền Y học cổ truyền Việt Nam còn chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Y học cổ truyền Trung Quốc trong suốt hàng nghìn năm Bắc thuộc.
Từ thời Vua Hùng dựng nước (2900 năm TCN), tổ tiên ta đã sử dụng cây cỏ làm gia vị để kích thích vị giác và chữa bệnh, điều này được ghi chép trong các văn tự Hán Nôm như Đại Việt sử ký ngoại ký, Lĩnh Nam chích quái liệt truyện, và Long Uý bí thư.
Tài liệu sớm nhất về cây thuốc Việt Nam là “Nam Dƣợc Thần Hiệu” và
“Hồng nghĩa giác tƣ y thƣ” của Tuệ Tĩnh Trong tài liệu này đã mô tả hơn
Bài viết đề cập đến 630 vị thuốc, 13 đơn thuốc điều trị các loại bệnh và 37 đơn thuốc chữa bệnh thương hàn, khẳng định ông là một bậc kỳ tài trong lịch sử y học Việt Nam.
“Vị thánh thuốc Nam” Ông đã để lại nhiều bộ sách quý cho đời sau nhƣ:
"Tuệ Tĩnh y thư", "Thập tam phương gia giảm", và "Thương hàn tam thập thất trùng pháp" là những tác phẩm y học quan trọng Vào thế kỷ XVIII, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác đã cho ra mắt bộ sách lớn thứ hai mang tên "Y tông Tâm tĩnh" cho Việt Nam, bao gồm 28 tập.
66 quyển đã mô tả khá chi tiết về thực vật, các đặc tính chữa bệnh.
Trong thời kỳ thực dân Pháp xâm lược, nhiều nhà thực vật học và dược học người Pháp đã đến Việt Nam để nghiên cứu Nổi bật trong số đó là các nhà dược học Crévost và Pétélot, những người đã xuất bản bộ sách “Catalogue des produit de L’Indochine” vào năm 1928.
Năm 1935, tập V của bộ sách "Produits medicinaux" (1928) đã mô tả 368 cây thuốc và vị thuốc từ các loài thực vật có hoa Đến năm 1952, Pétélot đã bổ sung và xây dựng bộ sách "Les plantes médicinales du Cambodge, du Laos et du Vietnam", gồm 4 tập, thống kê 1482 vị thuốc thảo mộc trên ba nước Đông Dương.
Sau cách mạng Tháng Tám năm 1945 và sự giải phóng miền Bắc năm 1954, các nhà khoa học Việt Nam đã có nhiều cơ hội để nghiên cứu và sưu tầm tài nguyên cây thuốc Đỗ Tất Lợi, với nhiều năm nghiên cứu, đã xuất bản nhiều tài liệu về việc sử dụng cây thuốc của đồng bào dân tộc Năm 1957, ông cho ra mắt bộ “Dược liệu học và các vị thuốc Việt Nam” gồm 3 tập, sau đó tái bản thành 2 tập vào năm 1961, mô tả hơn 100 cây thuốc nam Từ năm 1962 đến 1965, ông tiếp tục xuất bản bộ “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” với 6 tập, tái bản thành 2 tập vào năm 1969, giới thiệu hơn 500 vị thuốc từ nguồn gốc thảo mộc, động vật và khoáng vật Ông đã kiên trì nghiên cứu và bổ sung các loài cây thuốc qua nhiều lần tái bản từ 1970 đến 2003.
Từ năm 1995, ông đã nghiên cứu và ghi nhận 792 loài cây thuốc, với lần tái bản thứ 10 vào năm 2005 Ông mô tả chi tiết tên khoa học, phân bố, công dụng và thành phần hóa học của từng loài, đồng thời phân loại chúng theo các nhóm bệnh khác nhau Bộ sách này mang lại giá trị lớn về mặt khoa học và thực tiễn, kết hợp giữa tri thức dân gian và khoa học hiện đại.
Năm 1960, Phạm Hoàng Hộ và Nguyễn Văn Dương cho xuất bản bộ
Cây cỏ Việt Nam chưa được giới thiệu đầy đủ, nhưng đã nêu bật được nhiều công dụng làm thuốc của các loài thực vật Đỗ Tất Lợi (1965) đã xuất bản bộ sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, tái bản năm 2000, liệt kê gần 800 loài cây và vị thuốc Bộ sách cung cấp thông tin về thực vật, phân bố, thu hái, chế biến, thành phần hóa học, công dụng và liều dùng.
Vào năm 1966, dược sĩ Vũ Văn Chuyên đã xuất bản cuốn “Tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc” nhằm phục vụ cho giảng dạy và nghiên cứu, cuốn sách này được in lại vào năm 1976 Đến năm 1980, Đỗ Huy Bích và Bùi Xuân Chương đã giới thiệu “Sổ tay cây thuốc Việt Nam”, ghi nhận 519 loài cây thuốc, trong đó có 150 loài mới được phát hiện.
Viện Dƣợc liệu đã công bố cuốn “Dƣợc điển Việt Nam” tập I, II, tổng kết nghiên cứu về cây thuốc trong nhiều năm qua Hệ thống trạm nghiên cứu dược liệu của Bộ Y tế đã tiến hành điều tra tại 2795 xã, phường, thuộc 35 huyện, thị xã của 47 tỉnh, thành phố, góp phần quan trọng trong việc thu thập tài nguyên cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng trong y học cổ truyền dân gian.
Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu về cây thuốc với quy mô khác nhau, trong đó nổi bật là cuốn sách “Tài nguyên cây thuốc Việt Nam” do Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chương và cộng sự biên soạn vào năm 1993.
Việt Nam có 300 loài cây thuốc được khai thác và sử dụng với nhiều mức độ khác nhau Theo Trình Đình Lý (1995) trong cuốn “1900 loài cây có ích”, trong số các loài thực vật bậc cao, có 76 loài cho nhựa thơm, 160 loài cho tinh dầu, 260 loài chứa dầu béo, 600 loài chứa tanin, 50 loài cây gỗ có giá trị cao, cùng với 40 loài tre nứa và 40 loài song mây.
Võ Văn Chi (1997) đã biên soạn “Từ điển cây thuốc Việt Nam”, gồm khoảng 3.200 loài cây thuốc, trong đó thực vật có hoa có 2.500 loài thuộc
Trong hệ thống phân loại thực vật của A L Takhtajan, có 1050 loài được xếp vào 230 họ khác nhau Bài viết cung cấp thông tin sơ lược về cách nhận dạng, bộ phận sử dụng, môi trường sống và phương pháp thu hái của từng loài thực vật Ngoài ra, tác giả cũng đề cập đến thành phần hóa học, tính vị, tác dụng và công dụng của các loài này.
Nhóm tác giả của Viện Dược liệu đã biên soạn bộ sách “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, bao gồm hơn 1.000 loài, trong đó có 920 cây thuốc và 80 loài động vật được sử dụng trong y học.
Tình hình nghiên cứu về cây thuốc tại Khu BTTN Pù Luông
Năm 1998, Viện điều tra quy hoạch rừng đã công bố báo cáo chuyên đề về thảm thực vật tại Khu BTTN Pù Luông, Thanh Hóa, cho thấy khu vực này có sự đa dạng sinh học phong phú với 552 loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc 413 chi và 139 họ.
Công trình nghiên cứu của Hoàng Liên Sơn và cộng sự (2003) đã điều tra tình hình săn bắt động vật hoang dã và thu hái lâm sản ngoài gỗ tại Khu BTTN Pù Luông và các khu rừng lân cận, đặc biệt chú trọng vào các loài phong lan và một số lâm sản phụ có giá trị kinh tế đang bị buôn bán.
Theo nghiên cứu của L.Averyanov và cộng sự năm 2005, hệ thực vật tại Khu BTTN Pù Luông đã được xác định với 1.109 loài thuộc 477 chi và 152 họ thực vật bậc cao có mạch.
Năm 2013, điều tra tại Khu BTTN Pù Luông đã ghi nhận 2.487 loài động thực vật, thuộc 476 họ và 1.329 chi, trong đó có 908 loài động vật và 1.579 loài thực vật Đậu Bá Thìn cùng cộng sự đã thực hiện luận án tiến sĩ sinh học liên quan đến nghiên cứu này.
“Nghiên cứu đa dạng thực vật bậc cao có mạch ở Khu BTTN Pù Luông, Thanh Hóa” trong đó tác giả có đề cập tới nhóm tài nguyên cây thuốc.
Cho đến nay, chưa có nghiên cứu tổng thể và chi tiết về nhóm tài nguyên cây thuốc tại khu vực này Mặc dù nằm trong Khu bảo tồn, vùng “Son Bá Mười” được ngành Y tế đánh giá cao về tiềm năng cây thuốc tự nhiên và cây thuốc trồng tại tỉnh Thanh Hóa Khảo sát sơ bộ cho thấy có khoảng 48 loài cây thuốc đang được thương lái thu mua từ cộng đồng xung quanh.
Khu BTTN Pù Luông có số lượng thực vật phong phú, bao gồm khoảng 33 loài cây thuốc quý hiếm và nguy cấp Những loài này được liệt kê trong Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ về Quản lý Thực vật, cũng như trong Sách Đỏ Việt Nam (phần II – Thực vật) và Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam năm 2007.
Việc khai thác cây thuốc tại Khu BTTN Pù Luông đang diễn ra với cường độ cao, gây ra thách thức lớn cho công tác quản lý bảo tồn Hệ quả của tình trạng này là sự giảm sút về số lượng và độ phong phú của các loài cây thuốc, thậm chí đặt một số loài vào nguy cơ tuyệt chủng trong môi trường tự nhiên.
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng cơ sở dữ liệu nhằm quản lý, bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc tại Khu BTTN Pù Luông.
Trong khu vực nghiên cứu, chúng tôi đã xác định được hiện trạng nguồn tài nguyên cây thuốc, bao gồm thành phần loài, dạng sống, công dụng và mức độ quý hiếm của các loài cây thuốc Đồng thời, chúng tôi cũng phân tích các tác động đến sự phát triển và bảo tồn cây thuốc trong khu vực này.
Đề xuất các giải pháp quản lý và phát triển cây thuốc nhằm cải thiện đời sống cho người dân sống xung quanh Khu BTTN Pù Luông Những giải pháp này không chỉ nâng cao thu nhập cho cộng đồng mà còn bảo tồn và phát huy giá trị của hệ sinh thái tự nhiên tại khu vực.
Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu đa dạng tài nguyên cây thuốc tại Khu BTTN Pù Luông nhằm đánh giá hiện trạng sử dụng cây thuốc trong khu vực Bài viết cũng đề xuất các giải pháp quản lý và phát triển tài nguyên cây thuốc, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị của hệ sinh thái tại khu vực nghiên cứu.
Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
2.3.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là các loài cây có công dụng làm thuốc, thuộc các ngành thực vật bậc cao có mạch, mọc tự nhiên ở cả vùng đệm lẫn vùng lõi của Khu BTTN Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa.
Nội dung nghiên cứu tập trung vào ba khía cạnh chính: hiện trạng tài nguyên cây thuốc, tình hình khai thác và sử dụng, cùng với các giải pháp bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Luông, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa.
- Phạm vi về không gian: vùng lõi và vùng đệm Khu BTTN Pù Luông, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa.
- Phạm vi về thời gian: Từ ngày 20/10/2016 đến 30/4/2017.
Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu đa dạng tài nguyên cây thuốc tại Khu
Trong thiên nhiên, các loài thực vật và cây lâm sản ngoài gỗ có mối quan hệ tương tác với môi trường và với nhau, phản ánh sự tiến hóa chung Mối quan hệ này không chỉ thể hiện qua hình thái cấu tạo tương đồng mà còn qua nguồn gen hữu ích Do đó, các taxon cùng bậc thường có giá trị sử dụng tương tự Từ đặc tính này, con người đang tìm kiếm các loài cây đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho công nghiệp, y dược, thực phẩm, đặc biệt là những nguyên liệu thay thế cho các loài cây quen thuộc nhưng đang cạn kiệt.
Phương pháp này bao gồm việc nghiên cứu phân loại và đánh giá tính đa dạng của các loài thực vật làm thuốc, đồng thời đề xuất các biện pháp bảo tồn hiệu quả.
- Chuẩn bị các tài liệu có liên quan đã và đang nghiên cứu về nhóm tài nguyên cây thuốc.
- Chuẩn bị đầy đủ các loại bảng biểu, sổ ghi chép để ghi lại những kết quả điều tra đƣợc.
- Chuẩn bị các dụng cụ cần thiết như: Thước dây, máy GPS, Máy ảnh, địa bàn
- Chuẩn bị các tƣ trang cá nhân phục vụ cho quá trình điều tra ngoài thực địa. b) Điều tra thu thập số liệu
Kế thừa chọn lọc các số liệu và tài liệu liên quan đến điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, và tài nguyên rừng của khu vực nghiên cứu là rất quan trọng Việc này bao gồm việc xem xét các kết quả nghiên cứu trước đó và các báo cáo khoa học có liên quan để đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của thông tin.
- Phương pháp điều tra ngoại nghiệp:
Trước khi quyết định các tuyến điều tra, chúng tôi tiến hành khảo sát sơ bộ khu vực nghiên cứu bằng cách sử dụng bản đồ, đánh giá nhanh hiện trạng rừng và xác định các tuyến điều tra cụ thể.
Trong quá trình điều tra theo tuyến điển hình, cần xác định các tuyến điều tra dựa trên đặc điểm địa hình của khu vực nghiên cứu, đảm bảo các tuyến này đại diện cho các sinh cảnh khác nhau Mỗi sinh cảnh sẽ thiết lập 3 tuyến điều tra, với chiều dài từ 1 đến 1,5 km Trên các tuyến chính, sẽ mở thêm 1-2 tuyến phụ và thực hiện điều tra trong phạm vi 10m dọc hai bên tuyến Việc thu mẫu, thống kê các loài cây thuốc, ghi chép các tác động tự nhiên cũng như nhân tạo lên hệ thực vật và quan sát sự thay đổi sinh cảnh sẽ được tiến hành Kết quả điều tra sẽ được ghi nhận trên 09 tuyến đi qua các hệ sinh thái đặc trưng theo biểu mẫu 01.
Mẫu biểu 01 ĐIỀU TRA CÂY THUỐC TRÊN TUYẾN
Tất cả thông tin liên quan đến các loài cây thuốc như màu sắc, kích thước, vị trí mọc, mật độ và sinh trưởng đều được ghi chép cẩn thận bên cạnh phiếu điều tra để phục vụ cho nghiên cứu chi tiết Bên cạnh đó, việc sử dụng máy ảnh để ghi lại các thông tin cần thiết cũng được thực hiện.
Trong quá trình điều tra và thu mẫu cây thuốc, tất cả các loài cây thuốc được thu thập tại khu vực nghiên cứu đều được làm tiêu bản Các thông tin về lý lịch mẫu được ghi chép theo mẫu biểu 02.
Mẫu biểu 02: PHIẾU ĐIỀU TRA THU MẪU CÂY THUỐC
1 Số hiệu mẫu: ; Tên địa phương:
2 Thời gian thu mẫu, ngày tháng năm
3 Địa điểm: Thôn xã ; Tọa độ
5 Đặc điểm sinh cảnh (thảm thực vật, đất đai, độ ẩm, độ cao ):
6 Đặc điểm đặc trƣng của cây thu mẫu:
Các tiêu bản thực vật cần đảm bảo đầy đủ các bộ phận như cành, lá, hoa và quả đối với cây lớn, hoặc toàn bộ cây đối với cây thân thảo nhỏ và dương xỉ, với số lượng thu thập từ 3-5 mẫu trên cùng một cây hoặc từ 3-5 cây sống gần nhau Kích thước tiêu bản chuẩn là 41x29cm Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, nhiều mẫu không đạt tiêu chuẩn và cần thu thập mẫu tiêu bản nhỏ với kích thước 20-30cm, phù hợp cho việc so sánh trong các đợt điều tra Mẫu nhỏ này vẫn cần có các thông tin về dạng sống, đặc điểm thân, cành, lá, hoa và quả, đặc biệt lưu ý những thông tin không thể hiện trên mẫu khô như màu sắc hoa, quả chín, và màu của nhựa, dịch, mủ nếu có thể nhận biết.
Khi thực hiện thu thập mẫu tại hiện trường, các mẫu sẽ được cắt tỉa phù hợp và kẹp giữa hai tờ báo có kích thước khoảng 45x30cm Sau đó, chúng sẽ được ngâm trong dung dịch cồn 40-45 độ và cuối cùng được sấy khô trong phòng thí nghiệm.
Trong quá trình điều tra, mẫu tiêu bản thu thập được sẽ được mang về và xử lý tại phòng Khoa học của Ban quản lý Khu BTTN Pù Luông Công việc bao gồm việc ép mẫu, sấy mẫu, và phân loại mẫu theo họ và chi.
Phân tích mẫu cây cần tuân theo nguyên tắc từ tổng thể đến chi tiết, kết hợp giữa phân tích và ghi chép Để định tên cây, cần áp dụng phương pháp hình thái so sánh dưới sự hướng dẫn của các chuyên gia phân loại học Các tài liệu quan trọng trong việc giám định loài bao gồm "Cây cỏ Việt Nam", "Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam", "Từ điển cây thuốc Việt Nam", và "Thực vật chí Việt Nam".
(11 tập), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Danh lục các loài thực vật Việt Nam (tập 1, 2, 3) … c) Sử lý nội nghiệp
Các loài cây thuốc quý hiếm tại Việt Nam được bảo tồn theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Thủ tướng chính phủ, bao gồm các loài nằm trong Phụ lục IA và IIA Những cây thuốc này không chỉ có giá trị về y học mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đa dạng sinh học và môi trường Việc bảo tồn các loài cây này là cần thiết để duy trì nguồn gen quý hiếm và phát huy giá trị của chúng trong đời sống.
(2) Sách Đỏ Việt Nam, phần II-Thực vật, 2007 và Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam, 2006 Danh lục loài cây thuốc quý hiếm đƣợc lập theo mẫu biểu
Mẫu biểu 03 Thành phần loài cây thuốc quý hiếm tại Khu vực nghiên cứu
Lập danh mục cây thuốc tại khu vực nghiên cứu dựa trên kết quả giám định mẫu vật thu được từ các đợt điều tra và phỏng vấn người dân Tên phổ thông và tên khoa học của các loài trong danh mục căn cứ vào tài liệu từ Danh mục các loài thực vật Việt Nam (tập 1, 2, 3) và các nguồn trực tuyến như IPNI, Theplantlist Danh mục cây thuốc được lập theo mẫu biểu 04.
Mẫu biểu 04 DANH LỤC CÂY THUỐC TẠI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Đánh giá sự đa dạng về thành phần loài, phân bố, dạng sống và đặc tính sinh học của các loài cây thuốc trong khu vực nghiên cứu được thực hiện dựa trên danh lục cây thuốc và tổng hợp từ mẫu biểu 01 và 02.
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu hiện trạng sử dụng cây thuốc tại Khu
BTTN Pù Luông Trong nghiên cứu này, chúng tôi áp dụng phương pháp đánh giá thực vật dân tộc học nhằm khảo sát tình hình tài nguyên cây thuốc tại khu vực.
Điều kiện tự nhiên
Khu BTTN Pù Luông nằm ở tọa độ 20°21’–20°34’ vĩ độ Bắc và 105°02’–105°20’ kinh độ Đông, trải dài qua hai huyện Quan Hoá và Bá Thước thuộc tỉnh Thanh Hoá Khu vực này bao gồm các xã Phú Lệ, Phú Xuân, Thanh Xuân, Hồi Xuân, Phú Nghiêm của huyện Quan Hoá và các xã Thành Sơn, Thành Lâm, Cổ Lũng, Lũng Cao của huyện Bá Thước.
Phía Đông giáp huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình;
Phía Bắc giáp huyện Mai Châu, Tân Lạc; tỉnh Hoà Bình;
Phía Tây giáp với phần đất còn lại của các xã Phú Lệ, Phú Xuân, Thanh Xuân, Hồi Xuân;
Phía Nam giáp với phần đất còn lại của các xã Thành Lâm, Phú Nghiêm.
3.1.2 Đặc điểm địa hình Địa hình của Khu BTTN bao gồm 2 dãy núi chạy song song theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, đƣợc “ngăn cách” với nhau bởi một thung lũng ở giữa Địa hình của KBT cao dốc, mức độ chia cắt mạnh, có nhiều đỉnh cao trên 1000m, cao nhất là đỉnh Pù Luông có độ cao 1.700m Thấp nhất là khu vực xã Cổ Lũng có độ cao 60 m Địa thế khu vực nghiêng dần từ Tây Bắc sang Đông Nam Độ dốc bình quân 30 0 , nhiều nơi độ dốc trên 45 0 Với đặc điểm địa hình nhƣ vậy rất khó khăn cho công tác PCCCR nếu xảy ra.
Khu BTTN Pù Luông có khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng từ vùng Tây Bắc và đặc biệt bị tác động mạnh mẽ bởi gió Lào.
Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm 23 0 C; nhiệt độ trung bình cao nhất 38 0 C; nhiệt độ tối thấp trung bình: 0 0 C.
Lượng mưa bình quân hàng năm dao động từ 1.500 mm đến 1.600 mm, với hai loại gió chính là gió mùa Đông Nam và gió mùa Đông Bắc Vào mùa hè, gió Đông Nam và Tây Nam hoạt động từ tháng 5 đến tháng 10, trong khi gió mùa Đông Bắc kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Mùa khô có lượng mưa thấp và bốc hơi cao, dẫn đến thời tiết khô nóng kéo dài và dễ xảy ra cháy rừng do ảnh hưởng của gió Lào Thiếu nước trong mùa khô cũng tác động tiêu cực đến các loài thú lớn trong khu vực.
Hệ thống thuỷ văn của Khu BTTN Pù Luông có đặc điểm nổi bật với một đường yên ngựa nằm tại vùng biên giữa các xã Phú Lệ và Thành Sơn, tạo nên đường phân thủy giữa hai phụ lưu Pung và Cham trước khi hợp dòng vào sông Mã Sông Mã bao quanh vùng đệm của Khu BTTN Pù Luông ở phía Tây, Nam và Đông Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển giao thông đường thủy Du khách có thể trải nghiệm du thuyền trên sông Mã, khám phá vẻ đẹp của rừng Pù Luông ven sông.
Khu BTTN Pù Luông có lớp đất phủ phong phú nhờ vào đặc điểm địa chất và địa mạo đa dạng Theo phân loại của FAO, UNESCO, WRB và Việt Nam, lớp đất phủ tại đây có thể được chia thành các loại chính: (1) Đất Renzit với màu nâu vàng và màu đen, phát triển trên đá vôi; (2) Đất Luvisol màu vàng xám, cũng phát triển trên đá vôi; (3) Đất Leptosol màu vàng xám, hình thành trên các sườn đá vôi; (4) Đất Cabisol màu xám đen và màu vàng xám, phát triển trên đá macma.
Acrisol có màu xám nâu và phát triển trên đá macma, trong khi Acrisol màu vàng xám và xám nâu phát triển trên đá lục nguyên Ngoài ra, đất Fluvisol và Gleysol có màu vàng xẫm đến nâu xẫm, thường xuất hiện dọc các thung lũng (Trần Tân Văn và các cộng sự, 2003).