1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tiểu luận môn kt phát triển thực trạng và giải pháp quản lý, khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên ở việt nam

22 8 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và giải pháp quản lý, khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên ở Việt Nam
Trường học Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội
Chuyên ngành Quản lý Tài nguyên Thiên nhiên
Thể loại Tiểu luận môn luận văn hoặc môn học chuyên ngành
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 38,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

21 MỞ ĐẦU Thời gian qua, việc quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế bao gồm Nhân lực, vật lực và tài lực đã có đóng góp quan trọng vào sự nghiệp đổi mới, phát triển và.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Thời gian qua, việc quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lựccủa nền kinh tế bao gồm: Nhân lực, vật lực và tài lực đã có đóng góp quan trọngvào sự nghiệp đổi mới, phát triển và hội nhập của đất nước Trong đó nguồn lựctài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng, có nhiều tiềm năng để khai thác, sửdụng; cơ sở vật chất và hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển mạnh cả về số lượng

và chất lượng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hoá, xã hội,bảo đảm quốc phòng, an ninh nâng cao đời sống nhân dân

Tuy nhiên, việc quản lý, khai thác, sử dụng, phát huy nguồn lực hiện cònhạn chế, bất cập; việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực chưa hợp lý, hiệu quảchưa cao, nhiều trường hợp chưa theo cơ chế thị trường, gây lãng phí và làm cạnkiệt nguồn lực của đất nước Việc quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên thiênnhiên chưa hiệu quả Diện tích đất sử dụng kém hiệu quả hoặc chưa sử dụng cònlớn; nhiều địa phương buông lỏng quản lý dẫn đến tình trạng đất bị hoang hoá,

bị lấn chiếm, tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng, gây ô nhiễm môi trường, ảnhhưởng đến sản xuất nông nghiệp và gây thất thu ngân sách nhà nước Năng lực

khai thác tài nguyên khoáng sản còn nhiều hạn chế, công nghệ chậm được đổi

mới Việc phối hợp giữa các chủ thể quản lý tài nguyên khoáng sản chưa tốt,còn hiện tượng cát cứ và thiếu đồng bộ, liên thông giữa các vùng, miền, địaphương, làm giảm hiệu quả khai thác tài nguyên Tình trạng khai thác tài nguyênkhoáng sản, nguồn nước ngầm quá mức gây lãng phí và huỷ hoại môi trườngcòn xảy ra ở nhiều nơi Thị trường tài nguyên khoáng sản chậm được hìnhthành, phát triển thiếu đồng bộ Quan điểm đẩy mạnh kinh tế hoá ngành tàinguyên, môi trường chậm được triển khai, thể chế hoá và tổ chức thực hiện

Việc quản lý, khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài tài nguyênthiên nhiên đã góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, tháo gỡ khó khăn cho doanhnghiệp, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, duy trì tăng trưởng kinh tế

Trang 2

NỘI DUNG

I NGUỒN LỰC TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ

1 Những nhận thức cơ bản về tài nguyên thiên nhiên

- Khái niệm tài nguyên thiên nhiên: Tài nguyên thiên nhiên là nguồn của

cải vật chất nguyên khai hình thành, tồn tại trong tự nhiên và tất cả những gìthuộc về thiên nhiên mà con người có thể khai thác, sử dụng để thỏa mãn nhucầu tồn tại và phát triển của mình

Tài nguyên thiên nhiên của một quốc gia gồm: Đất đai, Không khí, Nước,Năng lượng và những khoáng sản trong lòng đất Tài nguyên thiên nhiên rấtphong phú, đa dạng và có nhiều cách phân loại khác nhau.Loại thứ nhất, tàinguyên thiên nhiên hữu hạn Đây là loại tài nguyên có trữ lượng nhất định,không được cung cấp liên tục và sử dụng nhiều sẽ hết Loại này phân chia thànhhai nhóm: Một là, các loại tài nguyên có thể tái tạo được như nước, thổ nhưỡng,động vật, thực vật, v.v Hai là, các tài nguyên không thể tái tạo được Các tàinguyên này khi sử dụng sẽ mất đi hoặc biến đổi tính chất hóa lý và trở thành vậtphẩm khác, dạng khác, ví dụ dầu mỏ, than đá, các khoáng sản kim loại, phi kimloại Loại thứ hai, tài nguyên thiên nhiên vô hạn Tài nguyên vô hạn gồm: khôngkhí, sức gió, năng lượng mặt trời, thủy triều, nhiệt năng trong lòng đất, cảnhquan thiên nhiên

- Vai trò của tài nguyên thiên nhiên đối với phát triển kinh tế:

Tài nguyên thiên nhiên là một trong bốn nguồn lực cơ bản của quá trình sản xuất, là đối tượng lao động, yếu tố đầu vào không thể thiếu đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế của nhiều quốc gia, trong đó có nước ta Nếu không

có tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên đất đai thì không có sản xuất vàcũng không có sự tồn tại của loài người Song tài nguyên thiên nhiên chỉ trởthành vốn, nguồn lực của sản xuất khi nó được khai thác, chế biến và sử dụngtrên thị trường Đối với quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế, tài nguyênthiên nhiên chỉ là điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ.Tài nguyên thiênnhiên chỉ trở thành sức mạnh kinh tế khi con người biết khai thác và sử dụng nó

Trang 3

một cách có hiệu quả Thực tế nhiều quốc gia giàu tài nguyên khoáng sản vẫn lànước đang phát triển, ngược lại nhiều nước ít hoặc không có nhiều tài nguyênkhoáng sản lại là nước phát triển.

Tài nguyên thiên nhiên góp phần quan trọng đối với chuyển dịch Cơ cấu kinh tế Xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên, thu được vốn sẽ tạo

điều kiện đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tạo sức hút đối vớicác nhà đầu tư, nhất là nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các ngành khai thác vàchế biến tài nguyên khoáng sản, hình thành cơ cấu ngành, vùng, lãnh thổ;

Khai thác và chế biến tài nguyên thiên nhiên sẽ thu hút lao động, giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người lao động góp phần xóa đói, giảm nghèo

Quốc gia có nhiều tài nguyên thiên nhiên cũng là một lợi thế cạnh tranh ngành, sản phẩm và tự chủ không phụ thuộc và ít có những “cú sốc” từ bên ngoài.Tuy nhiên, nếu không có chiến lược, quy hoạch và kế hoạch khai thác và

sử dụng tài nguyên thiên nhiên hợp lý, bền vững sẽ để lại hậu quả nặng nề, mất

ổn định chính trị, kinh tế-xã hội, môi trường cho hiện tại và thế hệ tương lai Bàihọc “căn bệnh Hà Lan” vẫn còn tính thời sự

Như vậy, tài nguyên thiên nhiên là nguồn lực rất quan trọng trong pháttriển là điều kiện vật chất để sản xuất ra tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng; gópphần chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và là cơ sởtích lũy vốn và phát triển ổn định

2 Quan điểm của Đảng về thăm dò, khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên

2.1 Quan điểm về thăm dò khai thác tài nguyên thiên nhiên

Đại hội Đảng lần thứ XII khẳng định: “Đẩy mạnh điều tra, đánh giá tiềm năng,trữ lượng, hoàn thiện quy hoạch và tăng cường công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu phục vụ phát triển bền vững theo hướng bảo đảm tính tổng thể, liên ngành, liên vùng, đáp ứng nhiệm vụ trước mắt và lâu dài, trong đó lợi ích lâu dài là cơ bản, có trọng

Trang 4

tâm, trọng điểm Chú trọng năng lượng mới, năng lượng tái tạo Tài nguyên thiên nhiên là tài sản quốc gia, nguồn lực quan trọng của đất nước, phải được đánh giá đầy đủ, được hạch toán trong nền kinh tế”1.Chất lượng công tác dựbáo và quy hoạch còn nhiều hạn chế, chưa theo kịp yêu cầu phát triển, tính tổngthể, liên ngành, liên vùng; chưa rõ trọng tâm, trọng điểm và nguồn lực thực hiện.

Do đó, cần tập trung các nguồn lực phát triển ngành khoa học địa chất; đầu tưthiết bị, công nghệ tiên tiến hiện đại để khảo sát thăm dò, đánh giá chính xác trữlượng khai thác, quy mô sản xuất các nguồn tài nguyên khoáng sản nguồn lựcquan trọng của đất nước, phải được đánh giá đầy đủ Đẩy mạnh điều tra, đánhgiá tiềm năng,trữ lượng, giá trị kinh tế, thực trạng và xu hướng diễn biến của cácnguồn tài nguyên quốc gia, đặc biệt là tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nướctài nguyên biển

Đổi mới công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; xây dựng cơ sở dữliệu về sử dụng đất đai; thúc đẩy sử dụng đất tiết kiệm, hợp lý và có hiệu quả, kếthợp bảo vệ diện tích, độ phì nhiêu của đất canh tác đất nông nghiệp Quy hoạchkhai thác, bảo vệ nguồn nước, tăng cường quản lý nguồn nước theo lưu vực sông;chủ động hợp tác với các tổ chức quốc tế trong việc bảo vệ nguồn nước xuyên quốcgia

2.2 Quan điểm về sử dụng tài nguyên thiên nhiên gắn với bảo vệ môi trường

Đại hội XII nhấn mạnh: “Hạn chế tối đa và tiến tới chấm dứt xuất khẩu khoáng sản thô và chỉ qua chế biến sơ, thúc đẩy chế biến sâu Đối với khoáng sản chiến lược đặc thù như than đá, dầu khí cần có chính sách cụ thể, cân đối giữa nhập khẩu và xuất khẩu” Đối với các loại tài nguyên thiên nhiên, nhất là

tài nguyên thiên nhiên hữu hạn phải tiết kiệm cả trong khai thác và tiêu dùng.Phải có kế hoạch đồng bộ khai thác với bảo vệ môi trường, tránh lãng phí và thấtthoát trong khai thác và sử dụng Hạn chế tiến tới khắc phục căn bản tình trạng

1Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, H 2016,

tr.305, 306.

Trang 5

hủy hoại làm cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường Thực hiện nghiêm ngặtcác biện pháp phục hồi môi trường sau khai thác tài nguyên, khoáng sản.

Kiểm soát các hoạt động khai thác; đấu tranh, ngăn chặn tình trạng đánh bắtmang tính hủy diệt nằm đảm bảo nguồn lợi thủy sản, đặc biệt là vùng gần bờ

Thúc đẩy phát triển, sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo, cácnguyênnhiên liệu, vật liệu mới thay thế các nguồn tài nguyên truyền thống Hoànthiện hệ thống pháp luật, ban hành các chế tài đủ mạnh để bảo vệ môi trường, ngănchặn và xử lý theo pháp luật nhằm chấm dứt tình trạng gây ô nhiểm môi trường, tăngcường phòng ngừa và kiểm soát các nguồn gây ô nhiểm môi trường Ngăn chặn vàtừng bước khắc phục sự xuống cấp của môi trường tự nhiên

Ngày 15/01/2019, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

đã ký ban hành Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quảquản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế Nghịquyết đã đề ra 5 nội dung quan điểm chỉ đạo, trong đó có:

(1) Quản lý, khai thác, huy động, phân bổ, sử dụng và phát huy có hiệuquả các nguồn lực của nền kinh tế cho phát triển đất nước là trách nhiệm của cả

hệ thống chính trị và mọi tầng lớp nhân dân

(2) Nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồnlực của nền kinh tế là yêu cầu cấp bách trong tình hình hiện nay để khắc phụccác tồn tại, yếu kém của nền kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội đất nướctheo các mục tiêu Đại hội Đảng lần thứ XII đề ra

(3) Đa dạng hoá các hình thức huy động và sử dụng nguồn lực; thúc đẩy xãhội hoá, thu hút mạnh mẽ các nguồn lực đầu tư ngoài nhà nước; áp dụng nguyên tắcthị trường trong quản lý, khai thác, sử dụng các nguồn lực cho phát triển Đẩy mạnhkinh tế hoá nguồn vật lực, trong đó tập trung vào nguồn lực tài nguyên thiên nhiên.Tập trung khai thác tối đa tiềm năng khoa học và công nghệ cho phát triển kinh tế -

xã hội

(4) Kiểm kê, đánh giá đầy đủ, thực chất các nguồn lực của nền kinh tế là cơ

sở quan trọng để xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2030,

Trang 6

tầm nhìn đến năm 2045 và các quy hoạch, kế hoạch phát triển trung hạn, dài hạntrong từng thời kỳ Tất cả các nguồn lực của nền kinh tế phải được kiểm kê đánhgiá, thống kê, hạch toán đầy đủ, đúng đắn trong nền kinh tế; được quản lý, bảo vệ,khai thác, sử dụng tiết kiệm, hợp lý, phát huy tối đa hiệu quả và phát triển bềnvững.

(5) Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, giám sát, kiểm tra, kiểm soát đốivới việc khai thác, huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực, không để xảy

ra thất thoát, lãng phí, cạn kiệt nguồn lực của đất nước và huỷ hoại môi trường

Đối với mục tiêu cụ thể, Nghị quyết số 39-NQ/TW, ngày 15/01/2019 của

Bộ Chính trị đã xac định: Đối với nguồn vật lực

(1) Đến năm 2025: Hoàn thiện đồng bộ hệ thống luật pháp, cơ chế, chínhsách, công cụ thúc đẩy quản lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiênnhiên Thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng khoáng sản phù hợp với thực tếquy mô và hiệu quả đầu tư Xây dựng mới và duy trì vận hành mạng lưới trạmquan trắc tài nguyên môi trường hiện có

(2) Đến năm 2035: Phát triển các công cụ điều tiết thị trường quyền sử

dụng đất, bảo đảm khoảng 99% diện tích đất tự nhiên được đưa vào khai thác, sửdụng Kiểm soát tình hình ô nhiễm nguồn nước; phục hồi 25% diện tích hệ sinhthái tự nhiên bị suy thoái Hoàn thiện hệ thống mạng quan trắc tài nguyên, môitrường quốc gia theo hướng tự động hoá Hoàn thành việc xây dựng đồng bộ cơ

sở dữ liệu ngành tài nguyên, môi trường và hệ thống thông tin giám sát tài nguyênquốc gia

(3) Đến năm 2045: Chủ động ngăn ngừa, hạn chế tình trạng suy thoái tài

nguyên, ô nhiễm môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng Bảotồn và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên

Trong kỳ Đại hội XIII đánh giá, những năm qua, quản lý tài nguyên, bảo vệmôi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu được coi trọng, bước đầu đạt kết quảtích cực Hệ thống chính sách, pháp luật về những vấn đề này đã tiếp tục được hoàn

Trang 7

thiện và tập trung triển khai thực hiện hiệu quả Tuy vậy, trước thực tiễn nhiềuthách thức cũng còn nhiều bất cập Ý thức, nhận thức về vai trò, trách nhiệm bảo vệmôi trường của các cấp, các ngành, cộng đồng và doanh nghiệp, người đân chưađược phát huy đầy đủ Vẫn để xảy ra một số sự cố môi trường gây hậu quả nghiêmtrọng Quản lý nhà nước trên một số mặt còn lỏng lẻo Chất lượng môi trường một

số nơi tiếp tục xuống cấp, thích ứng với biến đổi khí hậu còn bị động, lúng túng…

Nghị quyết Đại hội XIII quán triệt tầm nhìn và định hướng phát triển giai

đoạn 2021-2030: “Chủ động thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, dịch bệnh; quản lý, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả và bền vững tài nguyên; lấy bảo vệ môi trường sống và sức khỏe nhân dân làm mục tiêu hàng đầu; kiên quyết loại bỏ những dự án gây ô nhiễm môi trường, bảo đảm chất lượng môi trường sống, bảo vệ đa dạng sinh học và hệ sinh thái; xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường”.

2.3 Vai trò của Nhà nước trong khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên

Tài nguyên thiên nhiên là tài sản quốc gia, là nguồn lực không thể thiếuđược trong tăng trưởng và phát triển kinh tế Hiện nay, nhiều nguồn tài nguyênchưa được quản lý, khai thác, sử dụng có hiệu quả và bền vững; một số loại tàinguyênnhư: các loại khoáng sản, rừng nguyên sinh, rừng đầu nguồn, đất nôngnghiệp, nguồn lợi hải sản bị khai thác quá mức dẫn tới suy thoái, cạn kiệt Ônhiễm môi trường tiếp tục gia tăng, có nơi nghiêm trọng; việc khắc phục hậuquả về môi trường để lại còn chậm Đa dạng sinh học suy giảm, nguy cơ mấtcân bằng sinh thái đang diễn ra trên diện rộng, ảnh hưởng tiêu cực đến phát triểnkinh tế - xã hội, sức khỏe và đời sống nhân dân Chất lượng công tác dự báo vàquy hoạch còn nhiều hạn chế, chưa theo kịp yêu cầu phát triển, tính tổng thể,liên ngành, liên vùng; chưa rõ trọng tâm, trọng điểm và nguồn lực thực hiện.Việc ứng phó với biến đổi khí hậu còn bị động, lúng túng; thiên tai ngày càngbất thường, gây nhiều thiệt hại về người và tài sản.Trong lúc đó, tài nguyên

Trang 8

thiên nhiên có giới hạn mà nhu cầu của con người là vô hạn, do vậy khai thác,

sử dụng, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường là nhiệm vụ của tất cả cácquốc gia, của cộng đồng và từng người dân Bảo vệ môi trường tự nhiên vừa lànội dung, vừa là mục tiêu phát triển bền vững, vì thế phải đảm bảo sự hài hòagiữa môi trường tự nhiên với môi trường sống, đặc biệt tại các khu công nghiệp,

đô thị, dân cư; phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với bảo vệ môi trường, sử dụngtiết kiệm và bảo vệ tài nguyên Hạn chế, tiến tới khắc phục căn bản tình trạnghủy hoại, làm cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường của các cơ sở sản xuất,các khu công nghiệp, khu đô thị

Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhanh và bền vững mà không làm ảnhhưởng đến bảo vệ môi trường và thế hệ mai sau Luôn có ý thức nâng cao tráchnhiệm, hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủđộng ứng phó với biến đổi khí hậu để phát triển bền vững

Hội nghị TW 5 (K.XII) nhấn mạnh: “Hoàn thiện pháp luật về đất đai, tàinguyên để huy động và sử dụng hiệu quả đất đai,tài nguyên,khắc phục tình trạngtranh chấp, khiếu kiện, tham những trong lĩnh vực này…hoàn thiện pháp luật vềquản lý, khai thác và sử dụng tiết kiệm,hiệu quả tài nguyên thiên nhiên Nhànước giao quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên cho các doanh nghiệp theo cơchế thị trường”2 Nhà nước cần có những vai trò chủ yếu sau: Hoạch định chủtrương và xây dựng các chính sách, cơ chế trong việc khai thác, sử dụng tiết kiệm; cóhiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và tái tạo môi trường Xây dựng đào tạođội ngũ cán bộ, công chức có đủ năng lực, phẩm chất để thực hiện đồng bộ chiến lượcphát triển bền vững của đất nước Đầu tư vốn, công nghệ tiên tiến, hiện đại, phùhợp trong khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên, hạn chế lãng phí và ônhiễm môi trường Thường xuyên tuyên truyền giáo dục mọi từng lớp dân cưnâng cao ý thức bảo vệ môi trường và các hệ sinh thái Đẩy mạnh hơn nữa việcđưa nội dung môi trường vào các chương trình giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng vàcác hoạt động tập thể từ nhà trường đến cộng đồng Tích cực và chủ động thamgia các tổ chức đa phương, song phương quốc tế và khu vực để học tập các kinh

2Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị Trung ương 5, Khóa XII, Nxb CTQG, H.2017, tr33, 34.

Trang 9

nghiệm và bảo vệ lợi ích dân tộc trong lĩnh vực tài nguyên thiên nhiên và ứngphó với sự cố môi trường trong khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên

II THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ, KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG NGUỒN TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN Ở VIỆT NAM

1 Thực trạng khai thác và sử dụng tài nguyên của Việt Nam

Việt Nam là một trong những quốc gia có nguồn tài nguyên thiên nhiênphong phú và đa dạng trên thế giới Tuy nhiên, do quản lý thiếu đồng bộ, côngnghệ khai thác lạc hậu, nhất là việc khai thác, sử dụng nhiều nhóm tài nguyênchưa hợp lý… đang là những nguyên nhân dẫn đến lãng phí nguồn lực quốc gia,tài nguyên bị suy thoái, cạn kiệt, đe dọa sự phát triển bền vững của đất nước

Với diện tích tự nhiên hơn 331 nghìn km2, bờ biển dài hơn 3.260 km,Việt Nam có sự đa dạng về địa chất, địa hình, tài nguyên khoáng sản tương đốiphong phú về chủng loại, một số loại có trữ lượng lớn như dầu, khí, than, sắt,đồng, bô-xít, chì, kẽm, thiếc, a-pa-tít, đất hiếm, các khoáng sản làm vật liệu xâydựng Nhiều loại khoáng sản đã được khai thác phục vụ cho nhu cầu trongnước và một số cho xuất khẩu Đồng thời, Việt Nam còn có nhiều hệ sinh tháirừng, với sự đa dạng và phong phú về các loài động vật, thực vật, với khoảnghơn 42 nghìn loài sinh vật đã được xác định…

Các chuyên gia trong lĩnh vực này cho rằng: Mặc dù Việt Nam có nhiềuloại khoáng sản nhưng trữ lượng hầu hết không nhiều Tổng lượng nước mặt(khoảng 830 tỷ m3/năm), nước dưới đất (khoảng 63 tỷ m3/năm) là khá lớn, dođịa hình hẹp, nhiều vùng dốc ra biển, đặc biệt hơn 60% lượng nước mặt cónguồn gốc từ nước ngoài, cho nên tình trạng thiếu nước cục bộ theo vùng, theomùa vẫn thường xuyên xảy ra, có lúc, có nơi hết sức gay gắt tại nhiều địaphương Số liệu thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy: Cả nước

có hơn 1.000 mỏ lớn, nhỏ đang khai thác, nhưng do các mỏ khoáng sản nhỏ nằmphân tán không được quản lý thống nhất, đồng bộ dẫn đến tình trạng thất thoátnguồn tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường thêm trầm trọng, nhất là việc khaithác bằng công nghệ lạc hậu đã gây ra tình trạng mất rừng, xói lở đất, bồi lắng

Trang 10

và ô nhiễm sông suối, ven biển Kết quả điều tra, nghiên cứu về tổn thất trongkhai thác, chế biến khoáng sản do Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện chothấy: Độ thu hồi quặng vàng trong chế biến (tổng thu hồi) chỉ đạt từ 30 đến40%; mức độ tổn thất trong khai thác a-pa-tít từ 26 đến 43%; khai thác quặngkim loại từ 15% đến 30%; vật liệu xây dựng từ 15% đến 20%

Những năm qua, công tác quản lý tài nguyên thiên nhiên phải bảo đảmđược các yêu cầu như sự hiểu biết ngày càng đầy đủ hơn, toàn diện hơn về tiềmnăng, trữ lượng, giá trị của các nguồn tài nguyên; phát huy, cân đối nguồn lực tàinguyên cho phát triển kinh tế - xã hội; bảo đảm khai thác, sử dụng tài nguyên hợp

lý, hiệu quả và bền vững; bảo vệ, phục hồi, phát triển các nguồn tài nguyên táitạo Trước yêu cầu đó, thời gian qua Đảng và Nhà nước đã ban hành một số nghịquyết chuyên về các nhóm tài nguyên, nhất là Nghị quyết số 24-NQ/TW của BanChấp hành Trung ương khóa XI về Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăngcường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đã định hướng toàn diện công tácquản lý tài nguyên đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050 Đồng thời, Nhànước cũng đã bố trí vốn từ ngân sách; ban hành nhiều cơ chế huy động nguồn vốntrong xã hội đầu tư cho công tác quản lý tài nguyên, nhất là công tác điều tra cơbản, kiểm kê, thống kê, đánh giá các nguồn tài nguyên Các chủ trương, chínhsách, pháp luật về quản lý tài nguyên liên tục được đổi mới, hoàn thiện, đáp ứngyêu cầu của quá trình phát triển kinh tế - xã hội; sự nghiệp công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước…

Thực tế cũng cho thấy, công tác này hiện chưa được thực hiện một cáchbài bản, còn nhiều lúng túng, bất cập, chưa tính hết lợi ích tổng thể, hài hòatrước mắt và lâu dài, dẫn đến mâu thuẫn, thậm chí xung đột giữa các ngành, lĩnhvực, nhóm xã hội, giữa hiện tại và tương lai; có lúc, có nơi đang cản trở sự pháttriển, gây ra những hệ lụy về sinh thái, môi trường Nguồn khoáng sản còn bịkhai thác manh mún, nhỏ lẻ, trái phép; xuất khẩu khoáng sản dưới dạng nguyênliệu thô; công nghệ khai thác, chế biến còn lạc hậu, chậm được đổi mới dẫnđến tổn thất, lãng phí nguồn tài nguyên không tái tạo quan trọng này Bên cạnh

Trang 11

đó, tài nguyên nước chưa được khai thác tổng hợp, phục vụ đa mục tiêu dẫn đếnhiệu quả thấp; tình trạng thiếu nước theo mùa, cục bộ theo vùng còn nghiêmtrọng; diện tích che phủ của rừng có tăng nhưng chất lượng rừng giảm, rừng tựnhiên xuống cấp mạnh; nguồn lợi thủy sản ngày càng suy giảm, năng suất, hiệuquả khai thác thấp…

Để khắc phục những hạn chế nêu trên, thời gian tới Nhà nước cần đẩymạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về vai trò, tầm quantrọng và yêu cầu khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả và bền vững tài nguyênthiên nhiên; tăng cường công tác điều tra, đánh giá tiềm năng, trữ lượng, giá trịkinh tế, hạch toán, thiết lập cơ sở dữ liệu, tài khoản các nguồn tài nguyên của đấtnước Trong đó, tập trung việc điều tra cơ bản, đánh giá chất lượng, tiềm năngcác loại tài nguyên của đất nước; thực hiện việc hạch toán tài nguyên đầu vàocho tăng trưởng kinh tế và từng bước thiết lập tài khoản quốc gia về tài nguyênđất, nước, khoáng sản, rừng, thủy sản…

Đẩy nhanh quá trình chuyển đổi cơ cấu ngành, cơ cấu vùng, cơ cấu thànhphần kinh tế trên cơ sở phát huy lợi thế về vị trí địa lý và tài nguyên tái tạo, pháttriển các ngành kinh tế xanh, loại bỏ dần những ngành có công nghệ lạc hậu;khuyến khích, thúc đẩy đầu tư, đổi mới, áp dụng công nghệ sạch, công nghệ cao,thân thiện môi trường trong các ngành khai thác, chế biến tài nguyên, nhất làkhuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển năng lượng mới,năng lượng tái tạo, nguyên nhiên vật liệu mới… Nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện

hệ thống chính sách, pháp luật và cơ chế quản lý, sử dụng tài nguyên phù hợpvới yêu cầu và bối cảnh mới; thiết lập cơ chế giải quyết tranh chấp, xung đột lợiích trong khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên… Qua đó, nhằm phát huyđược hết tiềm năng, thế mạnh của tài nguyên thiên nhiên cho sự nghiệp pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước, theo hướng bền vững

2 Giải pháp khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên cho phát triển kinh tế ở Việt Nam

Ngày đăng: 31/01/2023, 14:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (2014): Luật Bảo vệ Môi trường, Mục 54,điều 3,tr.1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Bảo vệ Môi trường
Tác giả: Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Năm: 2014
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H. 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2001
3. Đảng Cộng sản Việt Nam:Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn Phòng Trung Ương Đảng,H. 2016, tr.251 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Văn Phòng Trung Ương Đảng
Năm: 2016
4. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội 2021, tập 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Sự thật
Năm: 2021
5.Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 15/01/2019của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 15/01/2019 của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2019
6. Quyết định số 432/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phù ngày 12 tháng 4 năm 2012, Phê duyệt Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giãi đoạn 2011-2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020
Năm: 2012
7. Thủ tướng Chính phủ: Quyết định: Quyết định số 622/QĐ-Ttg về việc ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình Nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững, ngày 10 tháng 05 năm 2017 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w