BỘ NỘI VỤTRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘITÊN ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG SUY THOÁI TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN Ở VIỆT NAM BÀI TẬP LỚN KẾT THÚC HỌC PHẦN THỰC TRẠNG SUY THOÁI TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN Ở VIỆT N
Trang 1BỘ NỘI VỤTRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
TÊN ĐỀ TÀI:
THỰC TRẠNG SUY THOÁI TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN Ở
VIỆT NAM
BÀI TẬP LỚN KẾT THÚC HỌC PHẦN THỰC TRẠNG SUY THOÁI TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN Ở VIỆT NAM
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Học phần: Môi trường và phát triển bền vững
Mã phách:
HÀ NỘI - 2021
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Lí do chọn đề tài 1
2 Kết cấu của bài tiểu luận 2
NỘI DUNG 3
PHẦN I.KHÁI NIỆM VÀ CÁC LOẠI TÀI NGUYÊN THIỂN NHIÊN.3 1.1 Khái niệm 3
1.2.Các loại tài nguyên thiên nhiên 3
PHẦN 2: THỰC TRẠNG SUY THOÁI TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 4
2.1.Thực trạng về tài nguyên sinh học 4
2.2 Thực trạng về tài nguyên rừng 5
2.3.Thực trạng về tài nguyên ven biển và biển 6
2.4 Thực trạng về tài nguyên đất 7
2.5.Thực trạng về tài nguyên nước 8
2.6 Thực trạng về tài nguyên khoáng sản 10
PHẦN III NGUYÊN NHÂN , HẬU QUẢ SUY THOÁI TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC 12 3.1.Nguyên nhân và hậu quả suy thoái tài nguyên thiên nhiên ở Việt nam trong giai đoạn hiện nay 12
3.2 Những biện pháp bảo vệ tài nguyên thiên nhiên hiện nay 14
KẾT LUẬN 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 3MỞ ĐẦU 1.Lí do chọn đề tài
Tài nguyên thiên nhiên là các sản phẩm của tự nhiên, do tự nhiên sinh ra và là có hạn Trong quá trình khai thác sử dụng cho mục đích của mình con người đã lấy đi những tài nguyên này để khai thác, chế biến tạo thành những sản phẩm vật chất phục vụ cho cuộc sống Nhưng trong thời đại ngày nay, kinh tế thế giới phát triển
và dân số gia tăng chóng mặt Cuộc sống con người ngày càng khó khăn Con ngườicàng ra sức khai thác thì những nguồn lực này càng cạn kiệt Bởi vì nhu cầu của conngười là vô hạn trong khi Tài nguyên thiên nhiên lại có hạn Liệu chúng ta có nghĩ tới một ngày nào đó những nguồn lực của tự nhiên này sẽ không còn nữa? Phải chăng đã đến lúc nghĩ khác đi cho một tương lai khác cho con người – nơi mà có những nguồn năng lượng sạch và không sử dụng Tài nguyên thiên nhiên một cách lãng phí, gây ô nhiễm và nhiều những hệ lụy khác… Hơn nữa thiết nghĩ con người cũng là sinh ra từ thiên nhiên, nếu cứ tiếp tục hủy hoại thiên nhiên thì sẽ có lúc thiên nhiên quay ngược trở lại với con nguời chúng ta Có nhiều nỗ lực với môi trường và Tài nguyên thiên nhiên được đưa ra, nhưng chỉ là một số nhỏ so với sự hủy hoại mà con người đang làm Rõ ràng vấn đề bây giờ là phải tìm ra các nguồn năng lượng mới và sạch để thay thế nhằm giảm tải ô nhiễm và giúp cân bằng lại môi trường thiên nhiên Những điều nêu trên là một trong những vấn đề cốt yếu củachính sách phát triển của các quốc gia Phát triển chưa đủ mà phải là phát triển bền vững Vấn đề này thiết nghĩ không phải chỉ là “nhiệm vụ” của các nhà làm chính sách hay chỉ đơn thuần của các nguyên thủ quốc gia mà còn là của mọi công dân, từtrong ý thức của mỗi người Chính vì vậy để thấy rõ hơn thực trạng của Tài nguyên thiên nhiên ở Việt Nam hiện nay em đã chọn đề tài “ Thực trạng suy thoái tài
nguyên thiên nhiên của Việt Nam giai đoạn hiện nay” để nghiên cứu và làm bài tập lớn
Trang 42 Kết cấu của bài tiểu luận.
Ngoài phần mở đầu , Kết luận và tài liệu tham khảo bài tập lớn gồm 4 phần như sau:
Phần 1: Khái niệm và các loại tài nguyên thiên nhiên
Phần 2: Thực trạng suy thoái tài nguyên thiên nhiên ở Viêt Nam trong giai đoạnhiện nay,
Phần 3: Nguyên nhân và hậu quả suy thoái tài nguyên thiên nhiên
Phần 4: Giải pháp khắc phục tài nguyên thiên ở Việt nam
Trang 5NỘI DUNG PHẦN I.KHÁI NIỆM VÀ CÁC LOẠI TÀI NGUYÊN THIỂN NHIÊN
1.1 Khái niệm.
TNTN là những của cải vật chất có sẵn trong tự nhiên mà con người có thể khaithác, chế biến, sử dụng, phục vụ cuộc sống của con người (rừng cây, các động vật,thực vật quý hiếm, các mỏ khoáng sản, các nguồn nước, dầu, khí ) Tài nguyên môi trường, hay còn gọi là tài nguyên thiên nhiên là một bộ phận thiết yếu của môi trường, có quan hệ chặt chẽ với môi trường
Suy giảm TNTN có thể được định nghĩa là sự suy giảm về số lượng hay/ và chấtlượng của các nguồn tài nguyên thiên nhiên mà không thể hồi phục lại, giảm sức tảicủa môi trường, gây ảnh hưởng không tốt tới sự sống trên Trái đất
1.2.Các loại tài nguyên thiên nhiên.
Tài nguyên tái tạo (nước ngọt, đất,sinh vật , là tài nguyên có thể tự duy trì hoặc tự bổ sung một cách liên tục khi được quản lý một cách hợp lý Tuy nhiên, nếu
sử dụng không hợp lý, tài nguyên tái tạo có thể bị suy thoái không thể tái tạo được
Ví dụ: tài nguyên nước có thể bị ô nhiễm, tài nguyên đất có thể bị mặn hoá, bạc màu, xói mòn v.v
Tài nguyên không tái tạo là loại tài nguyên tồn tại hữu hạn, sẽ mất đi hoặc biến đổi sau quá trình sử dụng Ví dụ như tài nguyên khoáng sản của một mỏ có thể cạn kiệt sau khi khai thác
Tài nguyên năng lượng vĩnh cửu (năng lượng mặt trời, gió, sóng, thủy triều, ) được nghiên cứu sử dụng ngày một nhiều, thay thế dần các năng lượng đang bị cạn kiệt và hạn chế được tình trạng ô nhiễm môi trường
Trang 6PHẦN 2: THỰC TRẠNG SUY THOÁI TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY.
2.1.Thực trạng về tài nguyên sinh học.
Việt Nam có mức độ đa dạng sinh học cao với hơn 95 kiểu hệ sinh thái, hàngchục nghìn loài thực vật, hàng trăm loài động vật, nhiều loài vi sinh vật trên cạn vàdưới nước Tuy nhiên, các hệ sinh thái, các giống loài và nguồn gen đang tiếp tục bịsuy giảm Về hệ sinh thái trên cạn, độ che phủ rừng đã tăng lên đạt khoảng 40%diện tích đất tự nhiên, nhưng phần lớn diện tích tăng thêm là rừng trồng, chủ yếu làrừng cây công nghiệp Tuy tổng diện tích rừng tăng, nhưng chất lượng rừng ngàycàng suy giảm Diện tích rừng nguyên sinh, rừng nhiều tầng (3 - 7 tầng) giảm súttrầm trọng, hiện chỉ còn 0,57 triệu ha, chủ yếu tập trung ở các khu rừng phòng hộ
và trong các khu bảo tồn Phần lớn rừng tự nhiên hiện nay thuộc loại rừng nghèo,
có trữ lượng gỗ dưới 100m3/ha còn rừng trồng có cấu trúc đơn điệu và tính đa dạngsinh học thấp Hệ sinh thái rừng ngập mặn đang bị suy giảm diện tích, chất lượngmôi trường và đa dạng sinh học Diện tích rừng ngập mặn chỉ còn khoảng160.070ha (2007), giảm hơn 50% so với năm 1943, trong đó rừng ngập mặnnguyên sinh không còn nhiều, đa số là rừng trồng (chiếm 62%), còn lại là rừng thứsinh Hiện có tới 55% trong tổng số 2.438km chiều dài hệ thống đê biển nước ta,tương đương 1.325km, không có rừng ngập mặn bảo vệ Hệ sinh thái biển nước tacũng đang trong tình trạng bị suy thoái, đặc biệt là đối với rạn san hô và cỏ biển.Nước ta có hơn 200 rạn san hô với diện tích khoảng 110.000ha ở các vùng biểnQuảng Ninh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Kiên Giang và khoảng 18.500hadiện tích thảm cỏ biển ở vùng ven biển đảo Phú Quốc và cửa sông ở Thừa ThiênHuế
Tuy nhiên, kết quả điều tra 2004 - 2007 cho thấy hiện chỉ có 14,5% diện tích rạnsan hô phát triển tốt, còn 44,9% đang ở trong tình trạng xấu và rất xấu; diện tích cácthảm cỏ biển bị giảm 40 - 60%, đặc biệt là ở các khu vực biển miền Trung và Nam
Trang 7Bộ Tình trạng suy giảm số loài cũng rất đáng lo ngại Theo danh sách đỏ của Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN), nếu như năm 1996 mới chỉ có 25 loài động vật của Việt Nam ở mức nguy cấp thì đến năm 2010, con số này đã lên tới 47.Nhiều loài được đánh giá bị đe dọa không cao trên quy mô toàn cầu nhưng lại bị đedọa ở mức rất cao tại Việt Nam, ví dụ như hạc cổ trắng; một số loài động vật hoang
dã đã được coi là tuyệt chủng ở Việt Nam thì vẫn tồn tại ở một số quốc gia lân cận Tương tự, nhiều loài thực vật trước đây chỉ ở mức sắp nguy cấp thì nay đã bị xếp ở mức rất nguy cấp như hoàng đàn, bách vàng, sâm vũ diệp, tam thất hoàng,… Điều này cũng đang xảy ra đối với nhiều loài sinh vật biển, nơi mà nhiều loài cá có giá trị kinh tế cao, các nguồn lợi sinh vật biển đang suy giảm nghiêm trọng Về nguồn gen, trong những năm qua, một số giống cây trồng, vật nuôi đã được kiểm kê, từng bước được phục hồi, song nhiều loại giống truyền thống, bản địa cũng dần bị mai một như lợn ỉ mỡ, lợn cỏ, gà Văn Phú,…
2.2 Thực trạng về tài nguyên rừng
Ở Việt Nam 3/4 diện tích là đồi núi và rừng che phủ hơn 30% diện tích RừngViệt Nam là kho tài nguyên quý báu, là bộ phận quan trọng của môi trường sinh thái,rừng làm cho không khí trong lành điều hòa khí hậu Việt Nam có hơn 100 khu bảo tồnthiên nhiên
Nhưng chỉ mấy thập kỉ qua, rừng bị suy thoái nặng nề diên tích rừng toàn quốc bịsuy giảm rất lớn,
Theo số liệu thống kê năm 2019 cuar tổng cục thống kê, đất lâm nghiệp nước ta
có khoảng 15 triệu ha, chiếm 45,5 % tổng diện tích.Trong đó rừng sản xuất là 7,5triệu ha , rừng phòng hộ 5,2 triệu ha , rừng đặc dụng 2,2 triệu ha, rừng tự nhiên códiện tích 1.0292,4 nghìn ha, rừng trồng là 4316,8 nghìn ha;
Còn theo Bộ Nông Nghiệp và Nông Thôn, tỉ lệ che phủ rừng nước ta năm 2020ước đtạ 42% ( bifnmh quan thế giới chỉ 31%) Mặc dù tỉ lệ che phủ rừng nước ta cótăng lên, nhưng chất lượng rừng tự nhiên vẫn chưa cao, rừng phòng hộ chưa phát
Trang 8huy đầy đủ chức năng, tỉ lệ cây xanh/ người dân đô thị và nhiều khu vực nông thônvẫn còn thấp.
Ước tính tháng 4 năm 2021, diện tích rừng trồng mới tập trung cả nước đạt 62nghìn ha,tăng 3,6% so với kì năm trước ; số cây lâm nghiệp trồng phân tán 35 triệucây, tăng 2,8%
Theo số liệu Báo cáo Chương trình điều tra, theo dõi và đánh giá tài nguyên rừng toàn quốc (NFIMAP) chu kì III, hơn 2/3 diện tích rừng tự nhiên của Việt Namđược coi là rừng nghèo;
Rừng giàu và rừng trung bình chỉ chiếm 4,6% tổng diện tích rừng và phần lớnphân bố tại các vùng núi cao, vùng sâu, vùng xa Nhiều khu rừng ngập mặn và rừngTràm tại vùng đồng bằng ven biển có vai trò quan trọng trong việc duy trì đa dạng sinh học dường như đã biến mất Cơ hội tái sinh tự nhiên có trữ lượng lớn thường độc lập và manh mún
Báo cáo cũng cho thấy chất lượng và đa dạng sionh học rừng tiếp tục bị suy giạ.Trong giai đoạn 1999 – 2005, diện tích rừng tự nhiên giàu giảm 10% và rừngtrung bình giảm 13,4%
Nhiều diện tích rừng tự nhiên rộng lớn tại Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và TâyBắc đã bị mất trong giai đoạn 1991 – 2001
Tuy nhiên hiện nay đã có nhiều chính sách sách, kế hoạch của chính phủ về trồngrừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc… đã được triển khai va mang lại hiệu quả Ýthức bảo vệ rửng của người dân ngày càng được nâng cao
2.3.Thực trạng về tài nguyên ven biển và biển
Ở Việt Nam biển đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội Vớichiều dài 3.260km và nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, biển nước ta có độ đa dạng sinhhọc cao Theo thống kê hệ thực vật thủy sinh có khoảng 1.300 loài và phân loài, 9.250loài động vật
Trang 9Bờ biển dài cùng với vùng lãnh thổ rộng nên nguồn lợi thủy hải sản rất lớn, có nhiều tiềm năng về nuôi trồng thủy hải sản, dầu khí và du lịch…
Tuy nhiên, do sự khái thác quá mức và bừa bãi làm cho nhiều loại hải sản bị cạn kiệt, khó có thể hồi phục…
Trên thực tế, kinh tế biển nước ta đang phát triển khai thác tài nguyên ngày càngnhiều, vì vậy đã dẫn tới tình trạng suy thoái tài nguyên vùng biển và hải đảo Thủy hảisản bị đánh bắt quá mức, thậm chí trái phép ở nhiều vùng biển dẫn tới cạn kiệt Hệsinh thái như san hô, thảm cỏ, rừng ngập mặn đang bị phá hoại và suy thoái
Tình trạng ô nhiễm môi trường biển cũng khiến cho tài nguyên biển bị đe dọa ởmức báo động trầm trọng Điển hình là vụ công ty Formosa Hà Tĩnh xả nước thảitrái phép khiến hải sản chết hàng loạt khiến tài nguyên biển bị cạn kiệt ở diện rộng.Việc khai thác dầu khí trên thêm lục địa đang đóng góp phần quan trọng trong kinh
tế nước Tuy nhiên, nó cũng gây nên sự suy thoái và mất cân bằng sinh tháibiển…
Do các hoạt đông sản xuất, sinh hoạt của con người thai ra biển các chất thải làm
ô nhiễm biển
2.4 Thực trạng về tài nguyên đất.
Viêt Nam có trên 39 triệu ha đất tự nhiên, xếp thứ 55 trong số 200 nước trên thế giới Diện tích đất đã sử dụng vào các mục đích kinh tế - xã hội là 18,881 triệu ha, chiếm 57,04% quỹ đất tự nhiên trong đó đất nông nghiệp chiếm 22,20% diện tích đất
tự nhiên và 38.92% diện tích đất đang sử dụng Hiện còn 14.217 triệu ha đất chưa sử dụng chiếm 43,96% quỹ đất tự nhiên Vị trí và địa hình đặc biệt làm cho thổ nhưỡng Việt Nam có tính chất chung của vùng nhiệt đới ẩm nhưng rất đa dạng và phân hóa rõ
từ đồng bằng lên núi cao, từ Bắc vào Nam và từ đông sang Tây
Tuy nhiên tài nguyên đất của thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng hiệnđang bị suy thoái rất nghiêm trọng do nhiều lý do như: xói mòn, rửa trôi, nhiễm mặn, ô nhiễm đất, bạc mầu, nhiễm phèn và do biến đổi khí hậu Hiện nay 10% đất
có tiềm năng nông nghiệp đã bị sa mạc hoá
Trang 10Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, lớp đất mặt đang có nguy cơ bị biến mất một phần trong tương lai Liên Hợp Quốc cũng đưa ra cảnh báo, khoảng 1/3 tài nguyên đất trên hành tinh đang bị suy thoái do xói mòn, ô nhiễm, quá trình axit hóa
và suy giảm chất dinh dưỡng Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do quá trình quản lý đất chưa tốt của con người Tác nhân lớn nhất của tình trạng này bắt nguồn từ việc con người “vắt kiệt sức” làm việc của đất để sản xuất nông nghiệp Việc trồng cây lương thực để sản xuất nhiên liệu sinh học, biến đối khí hậu và những biện pháp canh tác đơn giản đang làm tăng nguy cơ thiếu lương thực trong tương lai Bên cạnh đó, còn có những nguyên nhân trực tiếp làm suy thoái đất khác bao gồm tình trạng đô thị hóa, phát triển cơ sở hạ tầng, sản xuất năng lượng, khai khoáng… Mặc dù, chúng ta liên tục đưa ra những cảnh báo, song tình trạng đất trên thế giới vẫn ngày một tồi tệ hơn Hiện nay, phần lớn đất mà con người có thể tiếp cận đã được sử dụng để trồng trọt hoặc chăn nuôi Nhưng các biện pháp canh tác hiện nay thường dẫn tới tình trạng xói mòn đất và lãng phí nước khiến năng suất cây trồng giảm Nếu cứ tiếp tục sử dụng đất như hiện nay, đến năm 2075, hầu như chúng ta sẽ không còn đất để canh tác
Ðất là hệ sinh thái hoàn chỉnh nên thường bị ô nhiễm bởi các hoạt động của conngười Khi cuộc sống ngày càng phát triển và được nâng cao hơn thì dường nhưtài nguyên đất ngày càng bị suy thoái và trở nên cằn cỗi
Đất bị ô nhiễm do chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt, chất thải nông
nghiệp, ô nhiễm nguồn nước và không khí tại các khu dân cư tập trung.Phầ
2.5.Thực trạng về tài nguyên nước.
Việt Nam là nước có nguồn tài nguyên nước rất dồi dào và phong phú
Việt Nam có lượng mưa trung bình hàng năm cao (1800 – 2000 mm), mạng lướisông ngòi dày đặc với chiều dài tổng cộng hơn 52.000km Tuy nhiên mưa phân bốkhông đồng đều mà tập chung theo mùa (từ tháng 4 – 11)
Chất lượng nước của Việt Nam thuộc loại nước mềm độ khoáng thấp thuận tiệncho sử dụng trong sản xuất và sinh hoạt
Trang 11Lượng nước mặt dồi dào, chiếm khoảng 2% tổng lượng dòng chảy của các sôngtrên thế giới trữ lượng nước ngầm lớn, nhịp điệu khai thác trung bình là 15 triệu
m3-/ngày Nước ngầm chủ yếu phục vụ sinh hoạt và sản xuất
Tổng lượng dòng chảy của tất cả các con sông chảy qua lãnh thổ Việt Nam là 853
km3, trong đó tổng lượng dòng chảy phát sinh trên nước ta chỉ có 317 km3 Tỉ trọngnước bên ngoài chảy vào nước ta tương đối lớn, tới 60% so với tổng lượng nướcsông toàn quốc, riêng đối với sông Cửu Long la 90%
Tổng lượng nước chảy / năm của sông Mê Kông bằng khoảng 500 km3 chiếm tới59% tổng dòng chảy hàng năm của các sông trong cả nước; sau đó đến hệ thốngsông Hồng 126,5 km3 (14,9%); hệ thống sông Đồng Nai 36,3 km3 (4,3%); sông Mã,
Cả, Thu Bồn có tổng lượng chảy xấp xỉ nhau, khoảng trên dưới 20 km3 (2,3 – 2,6
%); các hệ thống sông Kì Kùng, Thái Bình và sông Ba cũng xấp xỉ băng nhau,khoảng 9,3 km3 (1%); các sông còn lại là 94,5 km3 (11%)
Ở vùng đồng bằng châu thổ, mực nước ngầm ở độ sâu từ 1 – 200 m, ở miền núithường ở độ sâu từ 10 – 15 m, còn ở các vùng núi đá vôi nước ngầm ở độ sâu khoảng100m
Ngoài ra nước ta còn có khoảng 350 nguồn nước khoáng, trong đó có 169 nguồn nước có nhiệt độ trên 30 oC
Nước ta là một trong những đất nước có nguồn tài nguyên nước phong phú, dồi dào nhưng hiện nay, tài nguyên nước ở nước ta đang trong tình trạng suy
thoái cả về số lượng và chất lượng
Về số lượng, Việt Nam hiện nay đang lâm vào tình trạng thiếu nước do tài
nguyên nước của Việt Nam phân bố không đều theo thời gian trong năm và giữa các năm
Cùng với sự phân bố không đều giữa các vùng trong cả nước cũng là
một phần nguyên nhân của tình trạng thiếu hụt nguồn nước