Ngày 23/05/2016, Bà Ngợi cho rằng việc cấp giấy chứng nhận cho Ông Phong và bà Nghiệm của UBND huyện Gia Lộc là trái với quy định pháp luật nên đã khởi kiện vụ án ra tòa án nhân dân thàn
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP
CƠ SỞ TẠI TP HỒ CHÍ MINH
_
BÀI THU HOẠCH HỒ SƠ TÌNH HUỐNG SỐ 10
MÔN: KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ KHI THAM GIA GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 07 năm 2019
Họ tên học viên: TRẦN QUANG HUY
Số báo danh: 098
Vai diễn: Luật sư bảo vệ Người bị kiện –
UBND Thành phố Hải Dương
Trang 2PHẦN I: NỘI DUNG VỤ ÁN
1 Tóm tắt vụ việc
Bà Nguyễn Thị Ngợi (sinh ngày 20/10/1935) và chồng là ông Nguyễn Hữu Đặt (sinh ngày 10/10/1935), thường trú tại thôn Thanh Liễu, xã Tân Hưng, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương, có 05 người con đẻ là: Nguyễn Thị Đón (sinh năm 1963), Nguyễn Hữu Phong (sinh năm 1966), Nguyễn Thị Phú (sinh năm 1968), Nguyễn Thị Thao (sinh năm 1973), Nguyễn Thị Thảo (sinh năm 1976)
Ông Nguyễn Hữu Đặt có sỡ hữu một bất động sản tại thửa đất số 195,192, tờ bản đồ số
7 xứ Đồng, Thanh Liễu Diện tích 785 m² đất thổ và 150m² đất ao được ghi nhận theo Chỉ thị 299/Ttg
Ngày 22/02/2001, ông Đặt chết không để lại di chúc
Ngày 01/12/2002, ông Nguyễn Hữu Phong (con trai ông Đặt và bà Ngợi) và vợ là bà Nguyễn Thị Nghiệm làm hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với
Tháng 8/2007, Ông Nguyễn Hữu Phong tiếp tục nộp hồ sơ bổ sung cấp GCNQSDĐ Ngày 30/12/2007 UBND huyện Gia Lộc đã cấp giấy chứng nhận số AK 734508 cho Ông Nguyễn Hữu Phong và bà Nguyễn Thị Nghiệm
Ngày 07/03/2016, UBND xã Tân Hưng, thành phố Hải Dương mở phiên hòa giải giữa
bà Ngợi và ông Phong nhưng do ông Phong không có mặt nên UBND xã Tân Hưng
đã lập biên bản hòa giải không thành
Ngày 23/05/2016, Bà Ngợi cho rằng việc cấp giấy chứng nhận cho Ông Phong và bà Nghiệm của UBND huyện Gia Lộc là trái với quy định pháp luật nên đã khởi kiện vụ
án ra tòa án nhân dân thành phố Hải Dương - Tỉnh Hải Dương yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AK 734508 cho Ông Nguyễn Hữu Phong và bà Nguyễn Thị Nghiệm
2 Văn bản pháp luật áp dụng để giải quyết
Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành
Tố tụng Hành chính;
Trang 3- Luật số 13/2003/QH11 của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
về đất đai ngày 26/11/2003;
ngày 29 tháng 10 năm 2004;
quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 21 tháng 7 năm 2006;
chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai ban hành ngày 25 tháng 5 năm 2007;
trong cả nước do Thủ tướng Chính phủ ban hành
nhận quyền sử dụng đất ở khu dân cư nông thôn do tỉnh Hải Dương ban hành
nhận đất ở đối với các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh Hải Dương do Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương ban hành
giới hành chính các huyện: Nam Sách, Gia Lộc, Tứ Kỳ, Cẩm Giàng; điều chỉnh địa giới phường Hải Tân và thành lập phường Việt Hoà, phường Tứ Minh thuộc thành phố Hải Dương – tỉnh Hải Dương
Trang 4PHẦN II: DỰ KIẾN NỘI DUNG HỎI
Trang 5Hỏi người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (ông Nguyễn Hữu Phong)
ngày tháng năm nào? Nộp mấy lần? Nội dung 02 đơn có khác nhau không?
đề nghị cấp giấy là loại gì? Diện tích mỗi loại là bao nhiêu?
gì khác cho UBND huyện Gia Lộc không?
không?
Hỏi UBND TP Hải Dương – Người bị kiện:
bây giờ thị xã Tân Hưng đã tách ra khỏi huyện Gia Lộc, trở thành xã Tân Hưng, sát nhập vào thành phố Hải Dương thuộc tỉnh Hải Dương không?
khoảng tháng 12/2007 của thị xã Tân Hưng hiện đang do cơ quan nào lưu giữ?
số AK 734508 do UBND huyện Gia Lộc cấp cho ông Nguyễn Hữu Phong và Nguyễn Thị Nghiệm vào ngày 30/12/2007 mà UBND đã cung cấp cho Tòa
án và phía người khởi kiện như trong hồ sơ vụ án này là đã đầy đủ chưa?
và Phòng Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hải Dương có làm biên bản giao nhận hay không?
nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Phong có đúng không?
nhận quyền sử dụng đất cho ông Phong và bà Nghiệm hay không?
nhận cho ông Phong và bà Nghiệm phải tuân theo quy định của Luật đất đai
2003 và Quyết định 2946/1999/QĐ-UB đúng không?
phải trên cơ sở nào?
đất cho ông Phong và bà Nghiệm thuộc về ai?
Trang 6PHẦN III: LUẬN CỨ BẢO VỆ NGƯỜI BỊ KIỆN
Kính thưa Quý Tòa,
Thưa vị đại diện viện kiểm sát,
Thưa các vị Luật sư đồng nghiệp,
Tôi là Luật sư Trần Quang Huy, thuộc Văn phòng luật sư Quang Huy và Cộng sự, Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh Tôi tham dự phiên tòa hôm nay với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho UBND TP Hải Dương – người bị kiện trong vụ án hành chính sơ thẩm này Q
ua nghiên cứu hồ sơ vụ án, trao đổi với các đương sự và theo dõi diễn biến phiên tòa ngày hôm nay, tôi xin trình bày một số quan điểm như sau:
Thứ nhất, về vấn đề thông báo thụ lý, căn cứ theo hồ sơ vụ án, chúng tôi nhận được
02 thông báo từ đó làm 02 giấy ủy quyền theo yêu cầu của Tòa án Nhân dân TP Hải Dương Là Thông báo số 236/2016 ngày 31/5/2016 căn cứ vào đó chúng tôi làm Giấy
ủy quyền ngày 08/6/2016 Sau đó, chúng tôi lại nhận Thông báo thụ lý 134/2016 ngày 06/7/2016 chúng tôi làm Giấy ủy quyền ngày 14/7/2016 để nộp Quý Tòa Chúng tôi không thấy có cơ sở để ra hai thông báo thụ lý
Thứ hai, theo đơn khởi kiện bà Ngợi khởi kiện UBND TP Hải Dương Tuy nhiên, cơ
quan ban hành Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là UBND Huyện Gia Lộc Vì lí do
có sự thay đổi địa giới hành chính từ năm 2008, xã Tân Hưng nhập vào TP Hải Dương, căn cứ vào Khoản 5 Điều 59 LTTHC 2015
“[…]
5 Trường hợp sáp nhập, chia, tách, giải thể, điều chỉnh địa giới hành chính trong một đơn vị hành chính mà đối tượng của quyết định hành chính có sự thay đổi thì cơ quan, tổ chức, cá nhân đã ra quyết định hành chính có trách nhiệm tham gia tố tụng với tư cách là người bị kiện tại Tòa án nơi cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyết định hành chính bị kiện Cơ quan tiếp nhận đối tượng của quyết định hành chính bị kiện phải tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[…]”
Như vậy, Tòa án phải xác định UBND Huyện Gia Lộc là người bị kiện và UBND TP Hải Dương là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Việc xác định hiện tại là sai tư cách của đương sự và vi phạm thủ tục tố tụng nghiêm trọng
Trang 7Thứ ba, về thủ tục khởi kiện.
Trường hợp nội dung trong đơn khởi kiện, chưa thể hiện đầy đủ việc cam đoan mà
không có yêu cầu từ phía tòa án để sửa đổi dẫn đến Tòa án đã lỡ thụ lý Thì tòa án,
phải đình chỉ vụ án quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 143 là các trường hợp tại Khoản 1 Điều 123 mà Tòa án đã thụ lý
Thứ tư, người khởi kiện không biết chữ nhưng không có người làm chứng trên đơn khởi kiện
Chúng tôi khẳng định bà Ngợi không biết chữ là có cơ sở theo lời khai tại Bien bản
lấy lời khai ngày 6/7/2016 của Tòa án nhân dân Hải Dương tại nhà Bà Ngợi Căn
cứ quy định tại Khoản 2 Điều 117 LTTHC, chỉ dành cho người biết chữ nhờ người khác làm đơn sau đó chỉ phải ký hoặc điểm chỉ ở cuối đơn là vì họ biết chữ nên họ tự đọc lại đơn được Nhưng đối với trường hợp không biết chữ thì ngược lại, không ai biết người làm đơn hộ có trình bày lại đúng ý chí của bà Ngợi tại thời điểm đó hay không Để thực hiện đúng thủ tục khởi kiện theo quy định của LTTHC 2015, Bà Ngợi phải khắc phục lỗi của mình Tuy nhiên, Luật không có cơ sở để khắc phục, trường hợp này chúng tôi đề nghị Tòa đình chỉ căn cứ Điểm C khoản 1 Điều 123 và Điểm g Khoản 1 Điều 143 Luật TTHC 2015 “trường hợp pháp luật có quy định về điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó Cụ thể, theo Điều 188 LTTHC
Thứ năm, tranh luận lại vấn đề chứng cứ của người khởi kiện chúng tôi có quan điểm
sau
Như Luật sư người khởi kiện đã khẳng định, nội dung Giấy ủy quyền lập ngày 25/5/2016 có ghi nhận, bà Thao được quyền thay mặt, đại diện cho bà Ngợi “cung cấp
tài liệu, trình bày ý kiến, ký kết các văn bản liên quan đến việc giải quyết vụ việc hành chính với các bên, ký văn bản của tòa án yêu cầu đề nghị…” Như vậy, việc
bà Thao thay mặt bà Ngợi ký nhận vào biên bản bàn giao ngày 22/4/2016 với
UBND là hoàn toàn không trong phạm vi công việc được ủy quyền Hơn nữa Giẩy
ủy quyền đề ngày 25/5 trong khi việc kí nhận là 22/4 là một tháng trước khi có giấy ủy quyền Do đó, chứng cứ này không hợp pháp và Tòa án phải thu thập lại
Thứ sáu, về hình thức giấy ủy quyền của bà Ngợi ủy quyền cho bà Nhàn và bà Thao
Trang 8Căn cứ Điều 581 BLDS 2005, đối với giấy ủy quyền của bà Ngợi ủy quyền cho bà Nhàn hoặc Thao thực chất là Hợp đồng ủy quyền, Luật quy định việc chi trả thù lao nếu có chứ không bắt buộc
Khoản 3 Điều 36 Nghị định 23/2015/NĐ-CP: “Các bên tham gia hợp đồng, giao dịch
phải ký trước mặt người thực hiện chứng thực …Trường hợp người yêu cầu chứng thực không ký được thì phải điểm chỉ; nếu người đó không đọc được, không nghe được, không ký, không điểm chỉ được thì phải có 02 (hai) người làm chứng Người làm chứng phải có đủ năng lực hành vi dân sự và không có quyền, lợi ích hoặc nghĩa
vụ liên quan đến hợp đồng, giao dịch." Và Khoản 2 Điều 47 Luật Công chứng 2014
“Trường hợp người yêu cầu công chứng không đọc được, không nghe được, không ký, điểm chỉ được hoặc trong những trường hợp khác do pháp luật quy định thì việc công chứng phải có người làm chứng.”
Trường hợp của bà Ngợi, đã khai rõ không biết chữ tại ngày 6/7/2016 khi lấy lời khai Trên đơn cũng không thấy bà kí được Rõ ràng là trên các văn bản mà có chữ kí của bà Ngợi có chữ KT Vậy ai kí ai ghi cụm từ này có phải là Kí thay hay không
Căn cứ vào các quy định trên việc ủy quyền phải có người làm chứng nhưng mà các văn bản ủy quyền của Bà Nguyễn Thị Ngợi không ai làm chứng cả Như vậy, bà Thao
và bà Nhàn hoàn toàn không có tư cách để đại diện cho bà Ngợi thực hiện công việc theo nội dung các giấy ủy quyền
Thứ bảy, về việc lấy lời khai của bà Nguyễn Thị Ngợi.
Khoản 2 Điều 85 BLTTHC quy định rằng “Trường hợp biên bản ghi lời khai của đương sự được lập ngoài trụ sở Tòa án thì phải có người làm chứng hoặc xác nhận của
Ủy ban nhân dân cấp xã, công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi lập biên bản Trường hợp đương sự không biết chữ thì phải có người làm chứng do đương
sự chọn.” Như vậy, đây là hai mệnh đề tách biệt trong quy định pháp luật Giả định cho 2 trường hợp:
Trường hợp 1: Lấy lời khai ngoài trụ sở thì phải có người làm chứng hoặc xác nhận UBND xã
Trường hợp 2: Không biết chữ thì phải có người làm chứng do đương sự chọn
Tôi giả định trường hợp 1 xảy ra mà trường hợp 2 không xảy ra thì NLC là ngẫu nhiên bất kì vì để Tòa án không ghi sai lời khai hoặc ép cung người bị lấy lời khai Còn nếu trường hợp 2 xảy ra là Đương sự chọn và Tòa án không được chọn vì để đảm bảo lời
Trang 9khai của họ là chính xác và công bằng Đây là hai vấn đề tách biết nên xảy ra trường hợp nào phải có người làm chứng cho trường hợp đó
Kính đề nghị HĐXX xem xét kĩ vấn đề này
Thứ tám, về tư cách đương sự của UBND TP Hải Dương
Đối tượng của Quyết định cấp GCN QSDĐ số AK 734508 là ông Nguyễn Hữu Phong
và bà Nguyễn Thị Nghiệm Khi có sự điều chỉnh về địa giới hành chính, xã Tân Hưng tách khỏi huyện Gia Lộc sát nhập vào TP Hải Dương thì đối tượng của quyết định cấp GCN trên có sự thay đổi Chuyển sang thuộc về thẩm quyền của UBND TP Hải Dương Luật sư NKK cho rằng căn cứ Khoản 4 Điều 59 là chưa chính xác Bởi lẽ, việc sáp nhập là là địa giới cũ phải mất tên và nhập vào hoàn toàn địa giới mới tương tự việc hợp nhất hai địa giới phải ra một địa giới mới Đây là trường hợp điều chỉnh địa giới theo Khoản 5 Điều 59 LTTHC2015 Chúng tôi khẳng định, tòa án xác định UBND TP Hải Dương là người bị kiện là chưa chính xác
Thứ chín, về thời hiệu khởi kiện
Phía người bị kiện cho rằng vào đợt địa chính xã Tân Hưng xuống đo vẽ lại vào năm
2009 đồng nghĩa với việc vào thời điểm đó bà Ngợi đã biết GCN QSDĐ AK 734508
đã được cấp cho vợ chồng ông Phong là hoàn toàn không có cơ sở Việc cán bộ xã
xuống đo đất không phải chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn, việc đo đất theo thông lệ các bên sẽ kí vào bản vẽ và các hộ liền kề cũng kí tên vào, việc đo vẽ được diễn ra ban ngày trên mảnh đất mà Bà Ngợi đang sống cùng ông Phong Bà Ngợi phủ nhận không biết là không thể, Đoàn làm việc đông người cùng các hộ liền kề mang theo các thiết bị có cán bộ địa chính xã Bà Ngợi sống chung nha phải biết điều này
Cô Thao đi nước ngoài về theo lời khai của bà Ngợi là năm ngoái tức là năm 2015 nhưng trong đơn khởi kiện là 15/1/2016 là không chính xác Kinh mong HĐXX làm rõ tình tiết này
Thứ mười, như chúng tôi đã trình bày ở phần tranh luận trước, nguồn gốc phần diện
tích đất này đứng tên ông Đặt, căn cứ theo Chỉ thị 299 tờ bản đồ chỉ thể hiện tên ông Đặt Hơn hết, là lúc ông Đặt sống cho đến lúc ông chết đến thời điểm này không diễn
ra tranh chấp Bản thân các đương sự cũng nói việc cấp GCNQSĐ là trái quy định vậy tại sao trong một thời gian dài mà các đương sự không lên tiếng cho quyền của mình Việc tặng cho mà không có giấy tờ là chuyện quan hệ giao dịch giữa các cá nhân ông
Trang 10Đặt và ông Phong.
UBND Huyện Gia Lộc cấp đất là công nhận đất sử dụng ổn định lâu dài, không có tranh chấp chứ không phải chuyển giao tài sản nên không cần có văn bản thừa kế hoặc tặng cho
Hơn nữa, UBND Huyện Gia Lộc căn cứ vào quy định tại Quyết định 4316/2006 do
UBND tỉnh Hải Dương ban hành GCN QSDĐ trên cấp cho 700m2 đất ở là chính xác Bởi lẽ, tại biên bản thể hiện kết quả xét duyệt và đề nghị của Hội đồng cấp GCN
việc ghi như vậy là tại thời điểm xét duyệt căn cứ theo văn bản 2946/1999/QĐ-UB có quy định về hạn mức cấp đất của UBND tỉnh Hải Dương Quy định tại Điều 8 bắt buộc việc cấp dựa trên diện tích thực tế đang sử dụng nhưng tối đa không vượt quá
300 m2 Diện tích dư thừa của các trường hợp này cũng được cấp giấy chứng nhận và ghi là đất vườn vượt mức quy định đất ở
Tới thời điểm năm 2007, hạn mức này đã thay đổi theo Quyết định số 4316/2006/QĐ-UBND của 4316/2006/QĐ-UBND tỉnh Hải Dương về việc ban hành quy định hạn mức giao đất ở, công nhận đất ở đối với hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh Hải Dương Căn cứ vào điểm b Khoản 1 Điều 7: Trong hộ gia đình có hai nhân khẩu trở lên: diện tích công nhận đất ở là 150m2/khẩu nhưng tổng diện tích đất tối đa bằng 5 lần hạn mức công nhận trên (750 m2/hộ), phần diện tích còn lại xác định theo hiện trạng sử dụng đất
Do vậy, GCN QSDĐ số AK 734508 được cấp là đúng nội dung
Một lần nữa để khẳng định về các quan điểm tranh luận về thủ tục cấp, Người
khởi kiện không đủ cơ sở để tuyên bố việc cấp không đúng đối tượng, không đúng
trình tự Như chúng tôi đã trình bày việc cấp đất trên là theo quy định tại Khoản 6
Điều 50 Luật đai đai 2003 Trường hợp ông Phong bà Nghiệm là người đang sử đang sử dụng đất mà không có các loại giấy tờ chứng minh như quy định tại Khoản
1 Điều 50 Luật đất đai 2003
Tuy nhiên, ông Phong đã và đang sử dụng, sinh sống ổn định từ ngày 15/10/1993 và
đã được UBND xã Tân Hưng niêm yết công khai xác nhận rằng đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất
Trên đây là quan điểm của luật sư về hướng giải quyết vụ án, từ những cơ sở, lập luận vấn đề tố tụng và nội dung nhu chúng tôi đã trình bày Kính mong Tòa
Trang 11án xem xét đình chỉ vụ án vì hết thời hiệu hoặc bác bỏ yêu cầu khởi kiện của Người khởi kiện
Chúng tôi đã trình bày xong
Mời HĐXX tiếp tục làm việc
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 7 năm 2019
Luật sư Trần Quang Huy