ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC LÊNIN ĐỀ TÀI Kinh tế thị trường định hướng XHCN và sự phát triển của thành ph
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC LÊNIN
ĐỀ TÀI
Kinh tế thị trường định hướng XHCN và sự phát triển của thành phần kinh
tế có vốn đầu tư nước ngoài ở nước ta
LỚP : L10_NHÓM: 12 GVHD: THS NGUYỄN TRUNG HIẾU
SINH VIÊN THỰC HIỆN
Trang 2BÁO CÁO KẾT QUẢ LÀM VIỆC NHÓM
BTL
Điểm
2
3
5
Họ và tên nhóm trưởng: Thái Kiết Tâm
Số ĐT:0937435675.Email: tam.thaitam02@gmai.com
Nhận xét của GV :
GIẢNG VIÊN
(Ký và ghi rõ họ, tên)
Nguyễn Trung Hiếu
NHÓM TRƯỞNG
(Ký và ghi rõ họ, tên)
Trang 3Mục lục
Phần mở đầu 1
1) Tính cấp thiết của đề tài 1
2) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1
3) Mục tiêu nghiên cứu 1
4) Phương pháp nghiên cứu 1
Phần nội dung 2
Chương 1 2
Lý luận về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam 2
1.1 Các khái niệm cơ bản 2
1.1.1 Khái niệm nền kinh tế thị trường 2
1.1.2 Nền kinh tế thị trường định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa 2
1.2 Tính tất yếu khách quan của phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam 3
1.3 Những đặc trưng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam 4
Chương 2 : Sự phát triển của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta 6
2.1 Khái quát về thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: 6
2.2 Thực trạng phát triển của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở nước ta 7
2.2.1 Những thành tựu trong thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và nguyên nhân 11
2.2.1.1 Những thành tựu 11
2.2.1.2 Nguyên nhân 11
2.2.2 Những mặt hạn chế trong thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và nguyên nhân 13
2.2.2.1 Những mặt hạn chế 13
2.3 Phương hướng và giải pháp nhằm thúc đấy sự phát triển của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở nước ta trong thời gian tới 20
2.3.1 Phương hướng nhằm thúc đấy sự phát triển của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở nước ta trong thời gian tới 20
2.3.2 Những giải pháp chủ yếu nhằm thúc đấy sự phát triển của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở nước ta trong thời gian tới 21
Kết luận 23
Trang 4Phần mở đầu
1) Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang từng bước chuyển mình từ một quốc gia nhỏ với nền kinh tế tăngtrưởng chậm dần trở thành quốc gia phát triển với những thay đổi, cốt lõi của sự phát triểnnày chính là việc chuyển đổi nền kinh tế cũ của những năm trước 1986 với nền kinh tế kếhoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp đi kèm thể chế của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trungdựa trên nền tảng công hữu sang nền kinh tế tối ưu cho đất nước thể chế kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa dựa trên nền tảng đa sở hữu Tiến trình đổi mới tất yếu đượcthực hiện bằng sự dân chủ hóa mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội, xây dựng nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, xây dựng nền dân chủ
xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Bên cạnh đó kéo theo cả sự pháttriển của nền kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, đóng góp một phần to lớn, tạo tiềm năngphát triển, chuyển đổi công nghệ nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, tạo thêm cơ hộiviệc làm cho lao động trên cả nước
2) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
-Phạm vi nghiên cứu: Sự phát triển của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở ViệtNam trong giai đoạn từ 2010-2021
3) Mục tiêu nghiên cứu
- Một là: làm rõ lý luận về nền KTTT đinh hướng XHCN ở Việt Nam
-Hai là: Phân tích thực trạng phát triển của tp kinh tế có vón đàu tư nước ngoài ở Việt Nam
- Ba là: đưa ra phướng hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy thành phần kinh tế có vốn đầu tưnước ngoài ở VN trong thời gian tới
4) Phương pháp nghiên cứu
- Vận dụng phép biện chứng duy vật để thấy được các hiện tượng và quá trình kinh tế hìnhthành và phát triển, các mối quan hệ và các tác động biện chứng với nhau Sử dụng nhiềuphương pháp như trừu tượng hóa khoa học, logic kết hợp với lịch sử, thống kê, so sánh, phântích tổng hợp, các phương pháp được sử dụng nhiều trong lĩnh vực khoa học xã hội
5) Kết cấu của đề tài:
- Tiểu luận gồm phần: phần mở đầu và phần nội dung, kết luận và tài liệu tham khảo Phầnnội dung chia làm 2 chương như sau:
Chương 1: Lý luận về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
Trang 5Chương 2: Sự phát triển của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở nước ta
Phần nội dung
Chương 1 : Lý luận về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm nền kinh tế thị trường
-Kinh tế thị trường là nền kinh tế mà ở đó tồn tại nhiều thành phần kinh tế, nhiều loạihình sở hữu cùng tham gia, cùng vận động và phát triển trong một cơ chế cạnh tranh bìnhđẳng và ổn định
- Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế được vận hành theo cơ chế thị trường Đó lànền kinh tế hàng hóa phát triển cao, ở đó mọi quan hệ sản xuất và trao đổi đều được thôngqua thị trường, chịu sự tác động, điều tiết của các quy luật thị trường
- Sự hình thành kinh tế thị trường là khách quan trong lịch sử: từ kinh tế tự nhiên, tựtúc, kinh tế hàng hóa rồi từ kinh tế hàng hóa phát triển thành kinh tế thị trường Kinh tế thịtrường cũng trải qua quá trình phát triển ở các trình độ khác nhau từ kinh tế thị trường sơkhai đến kinh tế thị trường hiện đại ngày nay Kinh tế thị trường là sản phẩm của văn minhnhân loại
Quan niệm của P.Samuelson về nền kinh tế thị trường: “Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế trong đó các cá nhân và các hãng tư nhân đưa ra các quyết định chủ yếu về sản xuất
và tiêu dùng Các hãng sản xuất hàng tiêu dùng thu được lợi nhậun xao nhất bằng các kỹ thuật sản xuất có chi phí thấp nhất.” 1
1.1.2 Nền kinh tế thị trường định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa
- Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực chất là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Từ năm 1986 ở nước ta xây dựng và phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường có
sự quản lí của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
- Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam ( tháng 4-2001) chính thức đưa ra kháiniệm ‘ kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa’ Đại hội khẳng định: Phát triển kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đường lối chiến lược nhất quán, là mô hình kinh
tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Đây là kết quả saunhiều năm nghiên cứu, tìm tòi, tổng kết thực tiễn và là bước phát triển mới về tư duy lý luậncủa Đảng Cộng sản Việt Nam
1 P.Samuelson, Kinh tế học, Tập 1, bản dịch tiếng việt, Nxv CHính trị quốc gia, H, 1997, tr.35
Trang 6- Phát triển nền kinh tế thị trường là phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất
xã hội, cũng có nghĩa là sản phẩm xã hội ngày càng phong phú, đáp ứng nhu cầu đa dạngcủa mọi người, ở nông thôn nước ta, sự phát triển kinh tế thị trường và việc tăng tỷ lệ hànghóa nông sản đã làm cho hàng hóa bán ra của nông dân nhiều lên, thu nhập tăng, tạo chonông dân nhiều việc làm
- Đây là đặc điểm cơ bản nhất của kinh tế thị trường ở nước ta, làm cho nền kinh tếthị trường nước ta khác với nền sản xuất hàng hóa giản đơn trước đây, cũng như khác vớinền kinh tế thị trường ở nước tư bản chủ nghĩa Đặc điểm này cũng chính là mô hình kinh tếkhái quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nước ta Mô hình kinh tế đó có nhữngđặc trưng riêng, làm cho nó khác với kinh tế thị trường ở các nước tư bản chủ nghĩa
-Là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hóa, ở Việt Nam những điều kiện cho sựhình thành và phát triển của kinh tế hàng hóa không mất đi mà còn phát triển mạnh cả vềchiều rộng và chiều sâu, sự phát triển kinh tế hàng hóa tất yếu hình thành kinh tế thị trường.Kinh tế hàng hóa và kinh tế thị trường không đồng nhất với nhau, chúng khác nhau về trình
độ phát triển Về cơ bản chúng có nguồn gốc và cùng bản chất Do đó, sự tồn tại kinh tếhàng hóa ở nước ta là một tất yếu khách quan
- Hơn nữa, phân công lao động xã hội là cơ sở để nâng cao năng suất lao động xã hộilàm cho nền kinh tế ngày càng có nhiều sản phẩm đem ra trao đổi, mua bán Do đó, làm chotrao đổi, mua bán hàng hóa trên thị trường càng phát triển hơn
-Như vậy, sự lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở ViệtNam không phải là sự gán ghép chủ quan giữa kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội mà là
sự nắm bắt và vận dụng xu thế vận động khách quan của kinh tế thị trường Cũng có thể nóikinh tế thị trường là ‘cái phổ biến’, còn kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là
‘cái đặc thù’ của Việt Nam, phù hợp với xu thế của thời đại và đặc điểm phát triển của dântộc
- Với đặc điểm lịch sử của dân tộc, Việt Nam không thể lựa chọn mô hình kinh tế thịtrường tư bản chủ nghĩa, chỉ có lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa mới phù hợp với ý chí và nguyện vọng của đông đảo nhân dân về một xã hội dân giàu,nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
1.3 Những đặc trưng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
- Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam không phải là kinh
tế quản lý theo kiểu tập trung quan liệu, bao cấp như trước đây nhưng đó cũng không phải lànền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và cũng chưa hoàn toàn là kinh tế thị trường xã hộichủ nghĩa Bởi vì chúng ta còn đang ở trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, còn có sựđan xen đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, vừa có, vừa chưa có đầy đủ yếu tố xã hội chủnghĩa
Trang 7- Một là, các chủ thể kinh tế có tính độc lập, có quyền tự chủ trong sản xuất, kinhdoanh
- Hai là, giá cả do thị trường quyết định, hệ thống thị trường được phát triển đầy đủ,làm cơ sở cho việc phân phối các nguồn lực kinh tế vào trong các ngành, các lĩnh vực củanền kinh tế
- Ba là, nền kinh tế vận động theo những quy luật vốn có của kinh tế thị trường nhưquy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh Sự tác động của các quy luật đóhình thành cơ chế tự điều tiết của nền kinh tế
- Bốn là, nếu là nền kinh tế thị trường hiện đại thì còn có sự điều tiết vĩ mô Nhà nướcthông qua pháp luật kinh tế, kế hoạch hóa, các chính sách kinh tế Mặt khác, kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởinguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội Do đó, kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa có những đặc trưng dưới đây:
- Về mục tiêu: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phương thức để pháttriển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật của chủ nghĩa xã
hội, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện mục tiêu “ dân giàu, nước mạnh, dân chủ, vănminh”
- Về quan hệ sở hữu: Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là nền
kinh tế có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữvai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là động lực quan trọng, kinh tế nhà nước,kinh tế tập thể cùngvới kinh tế tư nhân là nòng cốt để phát triển một nền kinh tế độc lập, tự chủ, cải thiện đờisống nhân dân và thực hiện công bằng xã hội nên phải từng bước xác lập và phát triển chế
độ sở hữu công cộng về tư liệt sản xuất chủ yếu một cách vững chắc, tránh nóng vội xâydựng ồ ạt mà không tính đến hiệu quả như trước đây
- Về quan hệ quản lý nền kinh tế: Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt
Nam có đặc trưng là do Nhà nước pháp quyền XHCN quản lý dưới sự lãnh đạo
của Đảng cộng sản Việt Nam sự làm chủ và giám sát của nhân dân với mục tiêu
dùng kinh tế thị trường để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH vì " dân
giàu, nước mạnh,dân chủ, công bằng văn minh"
- Về quan hệ phân phối: Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN thực hiện
nhiều hình thức phân phối, có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã
hội, góp phần cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo công bằng xã hội
trong sử dụng các nguồn lực kinh tế và đóng góp của họ trong quá trình lao động
và sản xuất, kinh doanh Cơ chế phân phối này vừa tạo động lực kíhc thích các chủ thể kinh
tế nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời hạn chế những bất công trong
xã hội Thực hiện tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ, công bằng xã hội ngay trong từngbước và từng chính sách phát triển
- Quan hệ giữa gắn tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội: Tiến bộ và công
bằng xã hội vừa là điều kiện đảm bảo cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế,
vừa là mục tiêu thể hiện bản chất tốt đẹp cảu chế độ xã hội chue nghĩa mà chúng
ta phải hiện thực hóa từng bước trong suốt thời kỳ quá độ lên CNXH
-Tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường nước ta còn thể hiện ởchỗ tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với phát triển văn hóa, giáo dục, xây dựng nền văn hóaViệt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, làm cho chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng HồChí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của nhân dân, nâng cao dân trí, giáodục và đào tạo con người, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực của đất nước
Trang 8- Chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủnghĩa thể hiện trình độ tư duy và vận dụng của Đảng ta về quy luật về sự phù hợp giữa quan
hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Đây là mô hình kinh
tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
- Như vậy, phát triển kinh tế thị trường đối với nước ta là một tất yếu kinh tế, mộtnhiệm vụ kinh tế cấp bách để chuyển nền kinh tế lạc hậu thành nền kinh tế hiện đại, hội nhậpvào sự phân công lao động quốc tế Đó là con đường đúng đắn để phát triển lực lượng sảnxuất, khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng của đất nước để thực hiện nhiệm vụ công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước Kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường không đối lập với các nhiện
vụ kinh tế - xã hội của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội mà trái lại thúc đẩy các nhiệm vụ
đó phát triển mạnh mẽ hơn
- Thực tiễn những năm đổi mới chỉ ra rằng, việc chuyển sang mô hình kinh tế thịtrường của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn Nhờ mô hình kinh tế đó, chúng ta đã bước đầukhai thác được tiềm năng trong nước đi đôi với thu hút vốn và kỹ thuật nước ngoài, giảiphóng được năng lực sản xuất trong xã hội, phát triển lực lượng sản xuất, góp phần quyếtđịnh bảo đảm nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân hằng năm cao Hệ thống kết cấu hạ tầng
kỹ thuật và xã hội được tăng cường Đời sống của nhân dân được cải thiện, nâng cao tích lũy
xã hội, tạo tiền đề cho sự phát triển trong tương lai
Chương 2 : Sự phát triển của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta
2.1 Khái quát về thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài:
1 Định nghĩa:
-Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một hoạt động nhận được nhiều sự quan tâm của các
tổ chức và các quốc gia trên thế giới, hiện nay có nhiều khái niệm về hoạt động này:
-Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF, 1993): “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hoạtđộng đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanhnghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mụcđích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp.
-Theo Luật Đầu tư Việt Nam: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư do nhàđầu tư nước ngoài bỏ vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào vào quốc gia khác để có đượcquyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia này, vớimục tiêu tối đa hóa lợi ích của mình
Tóm lại: Đầu tư nước ngoài (FDI) có bản chất như đầu tư nói chung, là sự dichuyển các nguồn lực từ nước này sang nước khác để tiến hành những hoạt động đầu
tư nhằm tìm kiếm lợi ích hữu hình hoặc vô hình Tuy nhiên, ĐTNN nhấn mạnh vào địađiểm thực hiện hoạt động này là ở quốc gia khác với quốc gia của nhà đầu tư
2 Vai Trò:
-Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thế hệ được sử dụng phổ biến trong vàithập niên gần đây, khi làn sóng đầu tư từ quốc gia này sang quốc gia khác tăng lên nhanhchóng
Trang 9-Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm các doanh nghiệp có thể 100% vốn nướcngoài (một thành viên hoặc nhiều thành viên) có thể liên kết, liên doanh với doanh nghiệpnhà nước hoặc doanh nghiệp tư nhân của nước ta.
-Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có đóng góp rất to lớn đối với quốc gia, khác nhau
là một nước đang có tiềm năng phát triển như nước ta Doanh của khu vực đầu tư nước ngoàigóp phần làm tăng thêm của cải và nâng cao sức cạnh tranh của các mặt hàng trong nước,tăng mạnh chuyển đổi công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm của các cơ cấungành nghề trong nước, giải quyết một số lượng lớn việc làm của người lao động trongnước
2.2 Thực trạng phát triển của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở nước ta
1. Tóm tắt nhanh quá trình phát triển từ năm 1991- nay:
- Trong thời gian khoảng 20 năm từ năm 1991-2013 tích lũy vốn đầu tư nước ngoàiFDI đã trải qua nhiều giai đoạn có thể kể đến:
+ Giai đoạn tìm hiểu thị trường (từ năm 1991-1993): là giai đoạn đầu với số dự áncòn nhỏ, vốn đầu tư còn ít chưa tác động rõ rệt
+Giai đoạn tăng trưởng(từ năm 1994-1996): số dự án tăng lên và vốn đầu tư rót vàongày một nhiều
+Giai đoạn suy thoái (từ năm 1997 – 2003): Do khoảng thời gian khủng hoảng kinh tế
ở châu á và cạnh tranh quyết liệt giữa những quốc gia
+ Phục hồi và phát triển ( từ năm 2004- nay): Do sự nỗ lực của nhà nước cũng như sự
ổn định của tình hình kinh tế thế giới dòng vốn đổ vào Việt Nam đang dần phục hồi và trên
đà phát triển
2 Thực trạng phát triển giai đoạn gần đây từ 2010-2022:
- Với lợi thế cạnh tranh về môi trường đầu tư thông thoáng, môi trường chính trị ổn định,môi trường kinh tế vĩ mô phát triển ổn định, nguồn nhân lực dồi dào với chi phí thấp, ViệtNam là một trong những quốc gia hấp dẫn với nhà đầu tư nước ngoài Nhờ các lợi thế đó,dòng vốn FDI vào Việt Nam những năm gần đây có xu hướng tăng lên, đặc biệt là sau khiViệt Nam tham gia vào các hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương và đa phương
- Giai đoạn từ năm 2010 - 2014 vốn FDI đăng ký có sự dao động liên tục và tăng nhẹ từ19,89 tỷ USD năm 2010 lên 21,92 tỷ USD vào năm 2014 Từ sau năm 2015 tổng vốn FDIđăng ký vào Việt Nam có sự gia tăng mạnh mẽ và liên tục, với tổng vốn đầu tư vào ViệtNam năm 2015 là 22,7 tỷ USD, thì đến năm 2019 con số này tăng lên 38,95 tỷ USD
- Năm 2020 do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, nền kinh tế toàn cầu bị ảnh hưởngnghiêm trọng nên vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam có sự sụt giảm, chỉ đạt28,53 tỷ USD, giảm 25% so với năm 2019
Trang 10- Không chỉ gia tăng về số vốn đăng ký, mà vốn FDI thực hiện cũng tăng cao hơn tronggiai đoạn 2015- 2019, từ 14,5 tỷ USD lên 20,38 tỷ USD; số dự án đầu tư đăng ký mới tăng
từ 1.843 dự án năm 2015 lên 3.883 dự án năm 2019
- Đến năm 2020, do chịu ảnh hưởng chung của đại dịch Covid-19, hoạt động sản xuất,kinh doanh của các doanh nghiệp bị ảnh hưởng nên các dự án FDI vào Việt Nam có sự sụtgiảm cả về vốn đăng ký, và các dự án đăng ký mới, nhưng vốn thực hiện chỉ sụt giảm nhẹ,đạt 98% so với năm 2019 (Bảng 1)
- Trong khoảng thời gian này tức giai đoạn từ 2010 -2020 các nhà đầu tư nước ngoài đãđầu tư vào 19 ngành lĩnh vực, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo luôn là lĩnh vực thu hútđược nhiều sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài nhất với tổng số vốn đăng ký cấp mới vàtăng thêm luôn dao động trong khoảng 13 - 24 tỷ USD, chiếm tỷ lệ phần trăm cao trong tổng
số vốn đầu tư đăng ký (40 - 70%) Ngoài ra, các lĩnh vực như kinh doanh bất động sản, bánbuôn, bán lẻ hay sản xuất phân phối điện cũng khá nổi bật trong các ngành nhận được nguồnvốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Đồng thời số quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam ngày càng tăng lên, tính đếncuối năm 2020 thì con số này lên tới 139 quốc gia và vùng lãnh thổ Trong đó thì Hàn Quốc
là quốc gia có nhiều vốn đầu tư tại Việt Nam nhất với tổng vốn đầu tư chiếm từ 17 - 19%tổng số vốn FDI Đứng thứ hai là Nhật Bản với vốn đầu tư luôn dao động trong khoảng 14 -17% tổng vốn FDI vào Việt Nam Ngoài 2 nước có số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn kểtrên thì trong giai đoạn 2016 - 2020, Việt Nam cũng nhận được rất nhiều các khoản đầu tưFDI từ các nước và vùng lãnh thổ khác như: Trung Quốc, Malaysia, Singapore, Đài Loan,Hồng Kông,…
Việt Nam đạt 31,15 tỷ USD, tăng 9,2% so với năm 2020 Điều này cho thấy các nhà đầu tư
Trang 11nước ngoài đang đặt niềm tin rất lớn vào môi trường đầu tư Việt Nam Vốn đầu tư đăng kýmới và điều chỉnh đều tăng so với năm 2020, đặc biệt vốn điều chỉnh tăng mạnh tới 40,5%.
- Bước sang năm 2022, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam được kỳ vọng
sẽ khởi sắc trở lại nhờ những chính sách thu hút đầu tư hấp dẫn và chủ trương mở cửa trở lạinền kinh tế sau hai năm đóng cửa bởi dịch bệnh Covid-19 Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng
ký vào Việt Nam tính đến 20/3/2022 đạt 8,91 tỷ USD, giảm 12,1% so với cùng kỳ nămtrước
- Theo Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong 5 tháng đầu năm 2022, có
578 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (giảm 5,7% so với cùng kỳ), tổngvốn đăng ký đạt gần 4,12 tỷ USD (giảm 53,4% so với cùng kỳ); có 395 lượt dự án đăng kýđiều chỉnh vốn đầu tư (tăng 15,5% so với cùng kỳ), tổng vốn đăng ký tăng thêm đạt trên 5,61
tỷ USD (tăng 45,4% so với cùng kỳ); có 1.339 lượt GVMCP của nhà đầu tư nước ngoài(giảm 5,8% so với cùng kỳ), tổng giá trị vốn góp đạt trên 1,98 tỷ USD (tăng 51,6% so vớicùng kỳ) Trong đó có 18 ngành trong tổng số 21 ngành kinh tế quốc dân, ngành côngnghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt trên 6,8 tỷ USD, chiếm 58,2% tổngvốn đầu tư đăng ký.
- Ngành kinh doanh bất động sản đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư gần 3 tỷ USD, chiếm25,6% tổng vốn đầu tư đăng ký Tiếp theo lần lượt là các ngành thông tin truyền thông; hoạtđộng chuyên môn khoa học công nghệ với tổng vốn đăng ký đạt lần lượt là gần 398 triệuUSD và gần 374,8 triệu USD
- Các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 48 tỉnh, thành phố trên cả nước trong 5 thángđầu năm 2022 Bình Dương dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăg ký trên 2,52 tỷ USD, chiếm21,5% tổng vốn đầu tư đăng ký và gấp gần 2,3 lần so với cùng kỳ năm 2021 Bắc Ninh đứng
Trang 12thứ hai với tổng vốn đầu tư gần 1,65 tỷ USD, chiếm 14,1% tổng vốn Thành phố Hồ ChíMinh xếp thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng ký trên 1,3 tỷ USD, chiếm 11,3% tổng vốn vàgiảm nhẹ 1,1% so với cùng kỳ năm 2021.
- Theo Cục Đầu tư nước ngoài, nếu xét về số dự án mới, các nhà đầu tư nước ngoài vẫntập trung đầu tư nhiều tại các thành phố lớn, có cơ sở hạ tầng thuận lợi như Thành phố HồChí Minh, Hà Nội Trong đó, Thành phố Hồ Chí Minh dẫn đầu về số dự án mới (40,3%), sốlượt GVMCP (67,9%) và đứng thứ hai về số lượt dự án điều chỉnh vốn (13,69 sau Hà Nội làgần 17%)
- Cũng trong thời gian này, đã có 79 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Namtrong 5 tháng đầu năm 2022 Trong đó, Singapore dẫn đầu với tổng vốn đầu tư gần 3 tỷUSD, chiếm 25,3% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam, giảm 43,8% so với cùng kỳ 2021 HànQuốc đứng thứ hai với trên 2,06 tỷ USD, chiếm 17,6% tổng vốn đầu tư, tăng 12,6% so vớicùng kỳ
2.2.1 Những thành tựu trong thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và nguyên nhân
2.2.1.1 Những thành tựu
- Trong khoảng thời gian mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoài chúng ta đã đạt đượcnhững thành tựu như:
+ Tính đến nay vốn đầu tư nước ngoài rót vào Việt Nam đã đạt con số hơn 370 tỷ
USD, lượng vốn đã được giải ngân đạt 58%
+ Tạo thêm nhiều việc làm cho lao động trong nước, thu ngân sách cũng như thúc đẩy
sự chuyển dịch cơ cấu và nâng cao khả năng cạnh tranh của Việt Nam
Trang 13+ Nền kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành khu vực kinh tế quan trọng của
Việt Nam, riêng năm 2019, Việt Nam thu hút hơn 38 tỷ USD, cao nhất trong vòng 10 nămliên tiếp, tăng 7,2% so với năm 2018 Vốn FDI giải ngân cũng đạt 20,38 tỷ USD, tăng 6,7%
và lập kỷ lục mới
+ Thu hút FDI là tạo thêm nguồn lực thông qua việc mở ra một kênh đầu tư mới cho
phát triển
+ Từ nguồn vốn này đã hình thành những ngành công nghiệp chủ lực như viễn thông,
dầu khí, điện tử, hóa chất, thép, ôtô-xe máy, công nghệ thông tin, da giày, dệt may, chế biếnnông sản thực phẩm…
+ Đến nay, khu vực FDI chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, trên 70% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
+ Tạo ra khoảng 3,5 triệu việc làm trực tiếp và gần 5 triệu việc làm gián tiếp;
trong đó, có nhiều lao động đã được đào tạo và tiếp cận với trình độ công nghệ, quản
lý tiên tiến của thế giới.
+ Góp phần cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Từ đó, giúp nâng cao tầm
vóc, vai trò và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế; đồng thời, tạo ra những áp lực
để hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy tiến trình tái cơ cấu nền kinh tế nhanh hơn, hiệu quả hơn và thực chất hơn theo hướng đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.
2.2.1.2 Nguyên nhân
- Để có thể đạt được những thành tựu đáng kể như vậy là do Việt Nam ta có nhữngtiềm năng cũng như nguồn lực đã được nhìn thấy bởi những nhà đầu tư:
+ Vị trí địa lý nước ta hết sức thuận lợi: Sở hữu đường bờ biển dài, gần với các tuyến
vận tải chính của thế giới, nằm ở trung tâm của khu vực Đông Nam Á – vừa là trung tâm kếtnối của khu vực, vừa là cửa ngõ để thâm nhập các nên kinh tế ở khu vực phía tây Bán đảoĐông Dương là những điều kiện tự nhiên hoàn hảo phục vụ cho quá trình giao thương quốc
tế của Việt Nam Việt Nam còn có vị trí tiếp giáp nước láng giềng là Trung Quốc Bên cạnh
đó, Việt Nam còn sở hữu bờ biển dài, giáp liền biển Đông, gần với những tuyến vận tảichính của thế giới, chính là điều kiện hoàn hảo cho quá trình thương mại Hai thành phố lớn
ở Việt Nam là Hà Nội và TP.HCM Trong đó, thủ đô Hà Nội, nằm ở phía Bắc, có được cơhội kinh doanh rất thuận lợi Thành phố Hồ Chí Minh, có dân số lớn nhất, nằm ở phía Nam,được xem là “thánh địa” công nghiệp của Việt Nam
+ Nước ta có nền kinh tế ổn định và năng động: Trong những năm vừa qua, Việt Nam
là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất ở châu Á Tốc độ tăng trưởng kinh tếbình quân của Việt Nam trong giai đoạn 1991 – 2010 đạt khoảng 7,5% và trong giai đoạn2011-2013 dù gặp rất nhiều khó khăn vẫn đạt 5,6% Với GDP vào khoảng 223 tỉ USD và đạtmức tăng trưởng 6,8% trong năm 2017, Việt Nam đã ghi tên mình trong danh sách nhữngnền kinh tế năng động nhất thế giới
+ Có những chính sách mở cửa dành cho các nhà đầu tư nước ngoài: Việt Nam luôn
Trang 14nhật, điều chỉnh các quy định về đầu tư Việt Nam đâng tiếp tục triển khai các chính sách ưuđãi thu hút nhà đầu tư nước ngoài như miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, miễn thuếnhập khẩu một số ngành hàng, miễn giảm tiền thuê và sử dụng đất, v.v Chính phủ cũng camkết tiếp tục cải cách thủ tục hành chính tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư.
+ Cơ sở hạ tầng dần được cải thiện: Trước đây, kết cấu hạ tầng hạn chế, nhất là hạtầng giao thông được xác định là một trong những nguyên nhân tạo nên rào cản vô hình
trong quá trình thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Tuy nhiên, trong những năm
gần đây, để tháo gỡ những rào cản này, chính phủ và các địa phương đã và đang tích cựctriển khai thu hút mọi nguồn lực để đầu tư tốt cơ sở hạ tầng, các tuyến đường giao thônghuyết mạch, cảng hàng không, các tuyến đường ra cửa khẩu, biên giới, các khu kinh tế, khucông nghiệp.
+ Lực lượng lao động ở nước ta trẻ và có sự cạnh tranh cao dẫn đến chất lượng
lao động tốt: Việt Nam là một quốc gia có dân số trẻ và cơ cấu dân số ngày càng trẻ hóa với
độ tuổi trung bình là 30,8 tuổi, theo thống kê năm 2017 Ngoài sức trẻ, lực lượng lao độngViệt Nam còn được đánh giá cao bởi sự chăm chỉ, trình độ học vấn cao và dễ đào tạo ViệtNam cũng đã, đang và sẽ tiếp tục đầu tư nhiều vào giáo dục đào tạo hơn các nước đang pháttriển khác Đây là một trong những lợi thế cạnh tranh của Việt Nam so với những thị trườnglao động khác trong khu vực
+ Nước ta là thành viên của nhiều hiệp định thương mại tự do, tạo điều kiện cho
nhiều nhà đầu tư tiếp cận: Việt Nam tham gia ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do songphương và đa phương với nhiều quốc gia và khu vực để thu hút thị trường, vốn đầu tư nướcngoài vào Việt Nam như Hiệp định thương mại song phương với Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản,Liên minh châu Âu, Cộng đồng kinh tế ASEAN, CPTPP, v.v và đang tiếp tục đàm phántrong nhiều thỏa thuận thương mại khác Việc tăng cường hội nhập với thế giới sẽ mang lạinhiều thuận lợi cho các nhà đầu tư đến từ các quốc gia và khu vực này khi đầu tư vào Việt
Nam.
2.2.2 Những mặt hạn chế trong thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và nguyên nhân
2.2.2.1 Những mặt hạn chế
Vấn đề chuyển giao công nghệ
- Việc chuyển giao công nghệ (cả phần “cứng” lẫn phần “mềm”) không được thực hiện
đầy đủ, hoặc chỉ chuyển giao những công nghệ lạc hậu, thì mặc nhiên “những lợi thế tươngđối của nước bắt đầu muộn” sẽ bị tước bỏ – đó là một mặt Mặt khác, khi đó nước tiếp nhậnkhông chỉ không cải thiện được tình trạng công nghệ, khả năng xuất khẩu, mà còn phải chịuthêm gánh nặng nuôi dưỡng và dỡ bỏ những công nghệ “bất cập” này theo kiểu “bỏ thìvương, thương thì tội” Ngoài ra, còn phải kể thêm tình trạng phụ thuộc một chiều vào đốitác nước ngoài về kinh tế – kỹ thuật của nước tiếp nhận dòng đầu tư kiểu ấy gây ra Do đó,hiệu quả tiếp nhận vốn đầu tư sẽ không như mong đợi, hoặc không tương xứng với chi phícủa nước chủ nhà bỏ ra, cả về chi phí tài chính, nhân lực và môi trường, tức “một tiền gà, batiền thóc”
Trang 15- Để hấp thụ được 1 USD đầu tư nước ngoài, theo tính toán của các chuyên gia thế giới,nước tiếp nhận cũng phải có sự bỏ vốn đầu tư đối ứng từ 0,5 – 3 USD, thậm chí nhiều hơn.Thêm nữa, lượng ngoại tệ đổ vào trong nước sẽ làm tăng lượng cung tiền tệ lẫn lượng cầuhàng hoá và dịch vụ tương ứng “Hợp lực” của những yếu tố đó sẽ tạo nên những xung lựclạm phát mới do tính chất “quá nóng” của tăng trưởng kinh tế gây ra.
Cơ cấu đầu tư bất hợp lý
- Mục đích cơ bản trong kêu gọi nguồn vốn FDI của Việt Nam là vốn, công nghệ… nhằmtạo cho nền kinh tế phát triển được cân đối và hiện đại Còn đối với nhà đầu tư nước ngoài làlợi nhuận, nên việc họ đưa vốn vào những nơi mà ta cần là rất ít, vì đó là những lĩnh vực ítmang lại khả năng sinh lợi nhưng lại chứa đựng nhiều rủi ro Kết quả là dòng vốn FDI đãgây mất cân đối cho nền kinh tế Sự mất cân đối này được thể hiện trên 3 góc độ:
+ Sự mất cân đối trong FDI vào ba ngành kinh tế công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ; + Sự mất cân đối trong việc đầu tư vào nội bộ mỗi ngành
+ Sự mất hợp lý trong cơ cấu đầu tư vùng
- Việc góp vốn bằng công nghệ của các nhà đầu tư nước ngoài đã gây nên tình trạng thừacông nghệ lạc hậu, nhưng lại thiếu công nghệ hiện đại Đối với nước chủ nhà, một trongnhững mục tiêu quan trọng nhất của thu hút FDI là tiếp thu công nghệ hiện đại, nhằm sảnxuất ra hàng hóa, dịch vụ có chất lượng cao, đủ sức cạnh tranh trên thị trường khu vực vàquốc tế Nhưng trong thực tế, một số nhà đầu tư đã lợi dụng chính sách này của các nướcđang phát triển trong đó có Việt Nam để xuất khẩu công nghệ lạc hậu, hiện không thể sửdụng được ở nước họ bằng cách bán dây chuyền sản xuất hoặc góp vốn bằng công nghệ đểthu lợi nhuận
- Trên thực tế cho thấy, mức độ hiện đại và cập nhật các công nghệ được chuyển giao vàoViệt Nam rất thấp Nhiều máy móc, công nghệ được nhập vào Việt Nam không phải là côngnghệ mới, mà đều đã cũ, thậm chí hết khấu hao và lao động Việt Nam chỉ phụ trách công
đoạn đơn giản Hiện tại, chỉ có 5% FDI chuyển giao công nghệ cao, 15% là loại công nghệ kém, lạc hậu, yêu cầu lao động phổ thông Điều này cũng đồng nghĩa, giá trị gia tăng thu được từ chuyển giao công nghệ của FDI chỉ tạo ra được khoảng 20% Giá trị nội địa cũng rất khiêm tốn ở mức 10%