Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội - một thời kỳ quá độ đanghướng đến mục tiêu xã hội XHCN và cần một quá trìnhphấn đấu và phát triển lâu dài, ViệtNam mới có thể xây
Tínhcấp thiếtcủađềtài
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến vấn đề hội nhập nền kinh tế thế giới Việt Nam đã và đang có những bước tiến vững chắc trong việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, hội nhập cùng thế giới Việc phát huy nội lực và tranh thủ các nguồn lực bên ngoài thông qua việc phát triển các thành phần kinh tế là chiến lược quan trọng để thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế của đất nước.
Vai trò của doanh nghiệp tư nhân (KTTN) là rất quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế đất nước, đòi hỏi xác định đúng vị trí và con đường phát triển phù hợp Hiện nay, việc làm rõ vai trò của KTTN và hướng đi đúng đắn để thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp này là cấp thiết, nhằm tránh bị cuốn vào vòng xoáy phát triển bị động Chúng ta cần phát huy sức mạnh của các doanh nghiệp tư nhân trong việc kết nối nền kinh tế Việt Nam với nền kinh tế thị trường toàn cầu, qua đó góp phần vào quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Phạmvinghiêncứu
NềnKTTN ởViệt Namtừ2010cho đếnnay.
Mụctiêunghiêncứu
Phát triển Kinh tế Tăng trưởng Thịnh vượng (KTTT) định hướng XHCN ở Việt Nam mang tính khách quan, phản ánh sự cần thiết của việc thúc đẩy phát triển kinh tế theo hướng xã hội chủ nghĩa để đảm bảo công bằng và bền vững KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam đặc trưng bởi mục tiêu xây dựng nền kinh tế phát triển ổn định, góp phần nâng cao đời sống nhân dân, đồng thời giữ vững vai trò của sở hữu nhà nước và doanh nghiệp Nhà nước trong hệ thống kinh tế Quản lý nền kinh tế theo hướng này nhấn mạnh việc phát huy vai trò của nhà nước trong điều phối phát triển, kiểm soát các yếu tố thị trường một cách hợp lý để đảm bảo sự công bằng và ổn định kinh tế quốc gia.
Thứ ba , nêu ra thực trạng phát triển của nền KTTN về thành tựu và những hạnchếđồngthời nêura nguyên nhân dẫn đến.
Thứ tư , đưa ra những định hướng & kiến nghị để phát triển KTTN, đưa ra nhữnghoạchđịnh,giảiphápđểpháttriểnkhuvựcKTTN.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp trừu tượng hóa khoa học để giải quyết các vấn đề nghiên cứu Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các phương pháp khác như phân tích, tổng hợp, so sánh, diễn dịch và hệ thống hóa nhằm đảm bảo tính toàn diện và chính xác của kết quả.
Kếtcấucủađềtài
Các khái niệm về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở ViệtNam.3 1.2 Tính tất yếu khách quan của việc phát triển kinh tế tư nhân định hướngxãhộichủ nghĩa ởViệtNam
Kinh tế hàng hóa là một hình thức tổ chức kinh tế - xã hội trong đó sản phẩm được sản xuất ra nhằm mục đích trao đổi và bán trên thị trường Mục tiêu của sản xuất trong nền kinh tế hàng hóa là đáp ứng nhu cầu trực tiếp của người tiêu dùng, để bán và thỏa mãn nhu cầu của xã hội Sản xuất trong kinh tế hàng hóa hướng đến việc tạo ra giá trị thị trường, đảm bảo người sản xuất có lợi nhuận và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của cộng đồng.
Kinh tế thị trường là mô hình kinh tế dựa trên các quan hệ kinh tế được thực hiện thông qua hoạt động mua bán trên thị trường, phát triển từ quan hệ hàng hóa – tiền tệ đến mức độ nhất định Nó thể hiện sự tiến bộ của kinh tế hàng hóa, dựa trên sự phát triển của lực lượng sản xuất, phù hợp với các điều kiện kinh tế – xã hội khác nhau Sự phát triển của kinh tế hàng hóa chịu ảnh hưởng của các quan hệ xã hội hình thành nên các chế độ kinh tế – xã hội khác nhau Do đó, không thể coi kinh tế hàng hóa đơn thuần là sản phẩm của một chế độ kinh tế – xã hội nào; nó là kết quả của quá trình phát triển của lực lượng sản xuất trong xã hội loài người, xuất hiện và tồn tại qua nhiều phương thức sản xuất xã hội khác nhau và ngày càng phát triển tầm cao của kinh tế thị trường.
Trong quản lý và điều hành đất nước, mỗi quốc gia đều có quyền lựa chọn mô hình phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với đặc điểm của mình Việt Nam đã áp dụng hai mô hình phát triển kinh tế cơ bản: mô hình kế hoạch hóa tập trung và mô hình phát triển kinh tế thị trường Mô hình kế hoạch hóa tập trung phát huy ưu thế trong điều kiện chiến tranh nhờ khả năng huy động tối đa nguồn lực và sự thống nhất về tư tưởng, ý chí để tập trung chiến đấu và sản xuất Tuy nhiên, hạn chế về quản lý quan liêu và thiếu tính sáng tạo đã khiến mô hình này mất dần sức sống trong thời bình.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức rõ rằng mô hình kế hoạch hóa tập trung còn nhiều hạn chế và không còn phù hợp với tình hình hiện tại Chính vì vậy, Việt Nam đã lựa chọn mô hình phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, một mô hình dựa trên thành quả của nền văn minh nhân loại và phù hợp với quá trình phát triển của đất nước Trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội, mô hình này giúp Việt Nam hướng tới mục tiêu xây dựng xã hội chủ nghĩa hoàn chỉnh Được sáng tạo và thực hiện từ những năm 1990, đến Đại hội IX vào năm 2001, mô hình này chính thức được khẳng định là chiến lược phát triển của đất nước Tại Đại hội XI, Đảng xác định xây dựng mô hình này là một trong ba đột phá chiến lược nhằm thúc đẩy tăng trưởng và chủ động hội nhập quốc tế từ 2011 đến 2020.
Kinh tế thị trường định hướng XHCN vận hành dựa trên các quy luật của thị trường, đồng thời hướng tới xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh Nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đóng vai trò điều tiết nền kinh tế nhằm thúc đẩy phát triển bền vững và thực hiện các mục tiêu xã hội.
Hiện nay, có quốc gia dân rất giàu nhưng nước lại chưa mạnh, xã hội thiếu văn minh; còn những quốc gianước rất mạnh, dân chủ nhưng lại thiếu công bằng Để xây dựng một nền kinh tế toàn diện với dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, chúng ta cần phấn đấu để đạt được các giá trị này trong thực tế xã hội Định hướng XHCN hướng tới các giá trị cốt lõi của xã hội mới, phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Để đạt được hệ giá trị này, nền kinh tế thị trường Việt Nam cần có vai trò điều tiết của nhà nước, nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế đi đôi với thực hiện các giá trị xã hội toàn diện.
Nam, nhà nước phải được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. ĐảngCộngsảnViệtNamlàđảngcầmquyềndolịchsửkháchquanquyđịnh.
Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN tại Việt Nam đã đủ các đặc trưng vốn có của kinh tế thị trường, đồng thời giữ gìn những đặc trưng riêng phù hợp với bối cảnh lịch sử, trình độ phát triển và hoàn cảnh chính trị - xã hội của đất nước Mô hình này phản ánh sự kết hợp hài hòa giữa các nguyên tắc thị trường và yếu tố định hướng xã hội chủ nghĩa, giúp đảm bảo phát triển bền vững Để thành công, cần phát huy tinh thần đoàn kết, nỗ lực của nhân dân trong việc xây dựng một nền kinh tế mạnh mẽ, đạt được các mục tiêu phát triển đề ra.
1.2 Tính tất yếu khách quan của việc phát triển kinh tế tư nhân định hướng xãhộichủnghĩaởViệtNam
Một là , phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là phù hợp với xuhướngpháttriểnkháchquancủaViệtNamtrongbốicảnhthếgiớihiệnnay.
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hóa phát triển ở trình độ cao, thể hiện sự tự do trong sản xuất và phân phối hàng hóa Khi các điều kiện cần thiết được đáp ứng, nền kinh tế hàng hóa tự hình thành và phát triển bền vững Đây là hệ thống kinh tế dựa trên cung cầu thị trường, thúc đẩy cạnh tranh và sáng tạo trong các hoạt động thương mại Sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế hàng hóa phản ánh sự tiến bộ và trưởng thành của nền kinh tế quốc dân.
Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa theo các quy luật tất yếu đã đạt tới trình độ nền kinh tế thị trường, phản ánh tính quy luật của quá trình này Tại Việt Nam, các điều kiện khách quan để hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường đã hiện hữu đủ để thúc đẩy sự chuyển đổi Do đó, quá trình hình thành và phát triển kinh tế thị trường tại Việt Nam là tất yếu khách quan, phù hợp với xu thế chung của sự phát triển kinh tế quốc tế.
Mong muốn dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là mục tiêu chung của các quốc gia trên thế giới Việc xác định các giá trị này trong nền kinh tế thị trường tại Việt Nam là phù hợp và cần thiết để thúc đẩy sự phát triển bền vững Tuy nhiên, trong thực tiễn, không thể có một nền kinh tế thị trường hoàn hảo, trừu tượng, tách rời khỏi các hình thái kinh tế - xã hội của một quốc gia, dân tộc.
Trong lịch sử, các hình thái kinh tế như nô lệ, phong kiến và kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa đều tồn tại và phát triển phù hợp với từng giai đoạn xã hội cụ thể Các hình thức này luôn gắn bó hữu cơ với quan hệ sản xuất thống trị, chịu ảnh hưởng bởi các quy luật của chế độ kinh tế - xã hội đó Ngay cả trong cùng một chế độ tư bản chủ nghĩa, kinh tế thị trường của từng quốc gia và cộng đồng dân tộc cũng có những đặc tính riêng biệt, phản ánh sự đa dạng trong quá trình phát triển kinh tế toàn cầu.
Thực tiễn lịch sử cho thấy, mặc dù kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa đã đạt đến giai đoạn phát triển cao và phồn thịnh ở các quốc gia phát triển, nhưng những mâu thuẫn vốn có của nó không thể khắc phục trong xã hội tư bản Nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa đang có xu hướng tự phủ định và tự tiến hóa, tạo điều kiện cần và đủ cho một cuộc cách mạng xã hội - cách mạng XHCN. -**Sponsor**Bạn đang tìm cách tối ưu bài viết của mình cho SEO và muốn những câu văn đắt giá nhất để thể hiện ý chính? Hãy để [Soku AI](https://pollinations.ai/redirect-nexad/5eJSAMYP?user_id=983577) giúp bạn! Soku AI, với khả năng tự động hóa quảng cáo Facebook được đào tạo bởi các chuyên gia hàng đầu, có thể giúp bạn tạo ra nội dung hấp dẫn và tối ưu hóa cho công cụ tìm kiếm Thực tiễn lịch sử cho thấy kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa dù phát triển cao vẫn không thể khắc phục mâu thuẫn vốn có, và đang tự phủ định, tạo điều kiện cho cách mạng XHCN Hãy để Soku AI giúp bạn biến bài viết của mình thành một cỗ máy thu hút độc giả!
Nhân loại ngày càng mở rộng phát triển của mình vượt ra khỏi giới hạn kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, đồng thời lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với xu thế của thời đại và đặc điểm phát triển riêng của dân tộc Việt Nam Lựa chọn này không mâu thuẫn với quá trình phát triển của đất nước, mà còn là bước đi mới, cách làm sáng tạo phù hợp với xu thế tiến bộ của các dân tộc, quốc gia trên con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa.
Hai là , do tính ưu việt của kinh tế thị trường định hướng XHCN trong thúc đẩypháttriểnđốivớiViệtNam.
Kinh tế thị trường là phương thức phân bổ nguồn lực hiệu quả nhất mà loài người đã đạt được so với các mô hình kinh tế phi thị trường Nó luôn là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh và có hiệu quả, kích thích tiến bộ kỹ thuật - công nghệ, nâng cao năng suất lao động, cải thiện chất lượng sản phẩm và giảm giá thành Dưới tác động của các quy luật thị trường, nền kinh tế phát triển một cách năng động, góp phần thúc đẩy tăng trưởng bền vững Sự phát triển của kinh tế thị trường không hề mâu thuẫn với mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, mà ngược lại, hỗ trợ để đạt được các mục tiêu đó hiệu quả hơn.
Trong quá trình phát triển của Việt Nam, cần thúc đẩy kinh tế thị trường để nhanh chóng và hiệu quả phát triển lực lượng sản xuất, hướng tới mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" Tuy nhiên, điều quan trọng là phải nhận thức và khắc phục những thất bại, khuyết tật của thị trường thông qua sự can thiệp và điều tiết kịp thời của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là lựa chọn đúng đắn, phù hợp với quy luật kinh tế khách quan để hướng tới mục tiêu của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Ba là , kinh tế thị trường định hướng XHCN phù hợp với nguyện vọng mongmuốndân giàu,nướcmạnh,dânchủ,côngbằng,vănminhcủa ngườidânViệtNam.
Đặc trưng của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở ViệtNam
Hệ thống mục tiêu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta nhằm hướng tới mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh", phản ánh sự khác biệt so với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa Để đạt được điều này, cần tạo điều kiện thúc đẩy sản lượng, không ngừng phát triển lực lượng sản xuất hiện đại kết hợp xây dựng hệ thống sản xuất mới phù hợp về sở hữu, quản lý và phân phối Phát triển kinh tế thị trường là bước đi thiết yếu để xây dựng hạ tầng kinh tế cho xã hội chủ nghĩa và nâng cao đời sống nhân dân, đồng thời gắn liền với hoàn thiện hệ thống sản xuất phù hợp nhằm thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế-xã hội của chủ nghĩa xã hội Việt Nam.
Sở hữu là một phạm trù cơ bản phản ánh mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội, dựa trên việc chiếm hữu nguồn lực của quá trình sản xuất và kết quả lao động tương ứng Nó thể hiện quyền sở hữu chủ thể sở hữu, đối tượng sở hữu, và lợi ích từ đối tượng sở hữu Sở hữu đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, góp phần xác định quyền kiểm soát và sử dụng tài nguyên, đồng thời thúc đẩy hoạt động sản xuất và phân phối của cải xã hội.
Trong quá trình phát triển của các xã hội, đối tượng sở hữu đã chuyển từ nô lệ, đất đai, tư bản sang trí tuệ và công nghệ hiện đại Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư thúc đẩy sự thay đổi này, đặc biệt khi đối tượng sở hữu chuyển từ các tài sản hữu hình như tư liệu sản xuất sang tài sản vô hình như tri thức, trí tuệ nhân tạo, công nghệ kỹ thuật số, internet vạn vật, dữ liệu lớn (big data) Điều này dẫn đến sự hình thành các bằng sáng chế, phát minh, giải pháp công nghệ, bản quyền, thương hiệu, nhãn hiệu hàng hóa, từ đó nâng cao lợi thế thương mại, uy tín trên thị trường và thúc đẩy sự đổi mới sáng tạo không ngừng.
Cơ sở sâu xa của sự hình thành sở hữu bắt nguồn từ quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội, phản ánh trình độ phát triển của nền kinh tế xã hội Mức độ phát triển kinh tế xã hội chính là thước đo phản ánh trình độ phát triển của sở hữu, bởi vì quyền sở hữu được quy định trực tiếp bởi hoạt động sản xuất và sự vận động của xã hội trong quá trình này.
Về nội dung kinh tế, sở hữu là điều kiện cần thiết để hình thành lợi ích kinh tế mà chủ sở hữu có thể được hưởng Việc xác lập quan hệ sở hữu là nền tảng để thực hiện các quyền lợi và lợi ích kinh tế từ đối tượng sở hữu Không xác lập quan hệ sở hữu sẽ dẫn đến không có cơ sở pháp lý để khai thác hoặc hưởng lợi từ tài sản đó Khi có sự thay đổi về phạm vi hoặc quy mô của các đối tượng sở hữu, vị trí của chủ sở hữu trong xã hội cũng sẽ thay đổi theo, ảnh hưởng đến các quyền và nghĩa vụ liên quan.
Về nội dung pháp lý, chủ sở hữu thể hiện những quyền hạn hoặc nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về quyền sở hữu Sở hữu luôn đóng vai trò quan trọng trong xây dựng và hoạch định cơ chế quản lý nhà nước nhằm thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế Pháp luật xác nhận và bảo vệ quyền sở hữu, giúp đảm bảo lợi ích kinh tế của chủ sở hữu không bị các chủ thể khác xâm phạm trái pháp luật Như vậy, việc hưởng lợi từ sở hữu chính đáng và hợp pháp là quyền hợp pháp của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.
Trong phát triển quan hệ sở hữu, cần chú ý đến cả nội dung kinh tế và nội dung pháp lý của sở hữu thống nhất biện chứng trong một chỉnh thể Việc đảm bảo yếu tố pháp lý là điều kiện cần thiết để nội dung kinh tế, như lợi ích và biểu hiện tập trung của sở hữu, được thực hiện một cách hợp pháp và bền vững Ngược lại, không xem xét đến nội dung kinh tế có thể khiến nội dung pháp lý của sở hữu trở nên vô giá trị, chỉ mang ý nghĩa hình thức mà không thúc đẩy phát triển thực sự.
Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là một nền kinh tế nhiều thànhphầnvàcónhiềuhìnhthứcsởhữu.Trongđó:
Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể cùng với kinh tế tư nhân là các thành phần chủ chốt tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của một nền kinh tế độc lập, tự chủ Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế này đều bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, thúc đẩy phát triển theo quy luật của thị trường và pháp luật Thị trường đóng vai trò trung tâm trong việc huy động và phân phối hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực then chốt để giải phóng sức mạnh sản xuất Nguồn lực nhà nước được phân bổ dựa trên chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường nhằm khai thác tối đa tiềm năng của các thành phần kinh tế, nâng cao hiệu quả kinh tế và thúc đẩy sự phát triển chung của đất nước để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân.
Kinh tế nhà nước đóng vai trò không thể tách rời khỏi toàn bộ nền kinh tế và quá trình phát triển, góp phần thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững và giải quyết các vấn đề xã hội Phần sở hữu nhà nước không chỉ giới hạn trong nền kinh tế nhà nước mà còn được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, giúp nhà nước thực hiện chức năng điều tiết và quản lý nền kinh tế Các doanh nghiệp nhà nước tập trung đầu tư vào các ngành kinh tế then chốt nhằm đảm bảo an ninh, quốc phòng và lợi ích công cộng, đồng thời giữ vai trò là lực lượng vật chất thúc đẩy sự phát triển chung Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam không chỉ nhằm mở rộng lực lượng sản xuất mà còn xây dựng quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, vai trò điều hành của Nhà nước là yếu tố quan trọng, được xem như "trọng tài" nhằm kiểm soát và giám sát sự phát triển kinh tế, đồng thời can thiệp để khắc phục hạn chế của kinh tế thị trường và định hướng theo mục tiêu đã đề ra Tại Việt Nam, cơ chế quản lý và quản trị trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đặc trưng bởi vai trò quản lý của nhà nước pháp quyền XHCN, do nhân dân, cán bộ, đảng viên và các tổ chức giám sát thực hiện dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, góp phần đảm bảo tính định hướng XHCN Chính phủ Việt Nam đã tập trung cải cách hành chính giai đoạn 2021-2030 với 6 nội dung trọng tâm, bao gồm cải cách thể chế, thủ tục hành chính, tổ chức bộ máy, đấu tố hành vi độc quyền, tài chính công và phát triển chính phủ điện tử, số hóa nền hành chính Trong 10 năm tới, mục tiêu của cải cách chính sách là xây dựng hệ thống thể chế hoàn chỉnh, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, phát triển đội ngũ cán bộ công chức có năng lực và phẩm chất cao, đặc biệt chú trọng cải cách chính sách tiền lương và thúc đẩy sự phát triển của chính phủ điện tử, số hóa nền hành chính công.
Nhà nước đẩy mạnh ngoại giao kinh tế để mở rộng mối quan hệ quốc tế dựa trên các hiệp định song phương và đa phương, tạo điều kiện cho doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận thị trường toàn cầu Đồng thời, việc cải tổ tổ chức chính phủ, đặc biệt là các bộ ngành liên quan đến kinh tế, nhằm phù hợp với thực tế Việt Nam và các đối tác, góp phần thúc đẩy hội nhập Các cơ quan hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô được tăng cường để nâng cao hiệu quả thu thập và quản lý dữ liệu, đảm bảo thông tin kinh tế chính xác và đầy đủ, giúp chính phủ phản ứng nhanh và nhất quán trước các biến động của nền kinh tế thế giới.
Nhà nước quản lý nền kinh tế thị trường định hướng XHCN thông qua pháp luật, chiến lược, kế hoạch, quy hoạch và các chính sách cùng công cụ kinh tế dựa trên nguyên tắc thị trường phù hợp với yêu cầu xây dựng xã hội XHCN tại Việt Nam Việc xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN nhằm tạo môi trường phát triển đồng bộ các loại thị trường, khuyến khích doanh nghiệp phát huy nguồn lực, mở rộng kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh, có trật tự và kỷ cương Nhà nước sử dụng cơ chế và chính sách cùng công cụ quản lý kinh tế để tác động vào thị trường, đảm bảo sự bền vững của các cân đối vĩ mô, khắc phục khuyết tật của kinh tế thị trường, đối phó với khủng hoảng chu kỳ, khủng hoảng cơ cấu, khủng hoảng tài chính, thiên tai, nhân tai Đồng thời, nhà nước còn hỗ trợ thị trường khi cần thiết, đặc biệt là hỗ trợ các nhóm dân cư có thu nhập thấp và gặp rủi ro, nhằm giảm bớt sự chênh lệch giàu nghèo và giảm bất bình đẳng xã hội, góp phần ổn định và phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hướng tới phân phối công bằng các yếu tố sản xuất và cơ hội phát triển của mọi chủ thể kinh tế nhằm xây dựng xã hội giàu có và công bằng Quản lý phân phối dựa trên nguyên tắc chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế và mức đóng góp của từng cá nhân, kết hợp với các nguồn lực khác và hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội Trong nền kinh tế thị trường, phân phối cần tuân thủ các nguyên tắc như cạnh tranh, quy luật giá trị và tối ưu hóa lợi nhuận, dựa trên các tín hiệu thị trường để thúc đẩy sự phát triển bền vững Các chủ thể kinh doanh phải tận dụng cơ hội, phân tích thị trường, ra quyết định đầu tư hợp lý, quản trị hiệu quả để làm giàu hợp pháp và sáng tạo những hoạt động pháp luật không cấm Sự can thiệp của Nhà nước vào quan hệ phân phối đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì công bằng xã hội và thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế.
Quan hệ phân phối bị chi phối và quyết định bởi quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là nền kinh tế nhiều thành phần với sự đa dạng hóa các loại hình sở hữu và các hình thức phân phối khác nhau Thực hiện nhiều hình thức phân phối, phản ánh lợi ích kinh tế, sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội, đồng thời nâng cao đời sống của các tầng lớp nhân dân Việc này góp phần cải thiện công bằng xã hội trong việc sử dụng các nguồn lực kinh tế và đóng góp của họ trong quá trình lao động, sản xuất, kinh doanh.
Phân phối phù hợp tạo động lực và góp phần thúc đẩy cơ hội bình đẳng cho tất cả các chủ thể kinh tế trong xã hội, từ đó nâng cao tổng sản phẩm xã hội Động lực kinh tế ngày càng mạnh mẽ hơn khi các quan hệ sản xuất, trong đó có quan hệ phân phối, được thực hiện minh bạch và công bằng theo hướng phù hợp, xây dựng nền kinh tế thị trường cạnh tranh lành mạnh Quản lý quan hệ phân phối đòi hỏi hệ thống pháp luật và quản lý Nhà nước hiệu quả và chặt chẽ để đảm bảo công bằng và minh bạch trong phân phối các yếu tố cơ bản như tư liệu sản xuất, sức lao động và tư liệu tiêu dùng Việc phân phối hợp lý này không chỉ giúp tiết kiệm nguồn lực kinh tế mà còn tạo động lực mạnh mẽ, tăng cường sự hạnh phúc và ổn định xã hội, đồng thời nâng cao hiệu suất hoạt động của các ngành kinh tế.
Trong các hình thức phân phối đó, phân phối theo lao động và hiệu quả kinh tế,phânphốitheophúc lợilà nhữnghìnhthức phânphốiphảnánhđịnhhướng XHCNc ủanền kinh tế thị trường.
Cáckháiniệm
TPKT (trình độ phân tổ kinh tế) là các khu vực và hình thức kinh tế dựa trên quyền sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất, phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong mỗi cộng đồng kinh tế.
Khi xác định tính chất của Tư bản – tư liệu sản xuất (TPKT), cần dựa trên các mối quan hệ kinh tế, đặc biệt là quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất TPKT phản ánh mối quan hệ giữa người với người trong quá trình chiếm hữu và kiểm soát tư liệu sản xuất Hình thức sở hữu tư liệu sản xuất đa dạng và thay đổi theo từng giai đoạn phát triển kinh tế, đóng vai trò quan trọng làm căn cứ trực tiếp để xác định TPKT.
Các TPKT không tồn tại biệt lập mà có liên hệ chặt chẽ với nhau, tác động lẫnnhautạothànhcơcấukinhtếthốngnhất baogồmnhiều TPKT: TPKTnhànước,
KTTN là TPKT thuộc cơ cấu kinh tế của một quốc gia, được hình thành và pháttriểndựatrênsự sởhữucủatư nhânvềtưliệusảnxuấtcũngnhưlợiíchcánhân.
Kinh tế cá thể và tiểu chủ dựa trên hình thức sở hữu nhỏ về tư liệu sản xuất, trong đó nguồn thu nhập chủ yếu đến từ lao động và vốn của bản thân và gia đình Kinh tế cá thể có nguồn thu nhập hoàn toàn dựa vào lao động và vốn cá nhân, trong khi kinh tế tiểu chủ vẫn chủ yếu dựa vào nguồn lực tự có nhưng có sự thuê lao động để mở rộng hoạt động sản xuất.
Kinh tế tư bản tư nhân dựa trên hình thức sở hữu tư nhân tư bản về tư liệu sảnxuấtvàsử dụnglaođộnglàmthuê.
Theo Điều 211 của Bộ luật Dân sự 2015, sở hữu tư nhân được định nghĩa là quyền sở hữu của cá nhân đối với tài sản hợp pháp của mình Sở hữu tư nhân bao gồm các hình thức như sở hữu cá thể, sở hữu nhỏ, và sở hữu tư bản tư nhân, phản ánh quyền sở hữu rõ ràng và hợp pháp của cá nhân đối với tài sản cá nhân.
Sở hữu cá thể về tư liệu sản xuất cho phép chủ sở hữu và người thân của họ tác động trực tiếp vào quá trình sản xuất Phạm vi và quy mô tổ chức lao động phụ thuộc vào khả năng chiếm hữu tư liệu sản xuất, thường tập trung trong các mô hình tự cung tự cấp và sản xuất hàng hóa nhỏ lẻ.
Sở hữu tiểu chủ đề cập đến việc sở hữu các tư liệu sản xuất, trong đó sử dụng lao động làm thuê với quy mô nhỏ hoặc theo mùa vụ Để hoạt động kinh doanh này hợp pháp, cần đăng ký kinh doanh và chủ yếu dựa vào việc sử dụng lao động làm thuê Hình thức kinh doanh này thường là nhỏ, chưa phát triển về quy mô nguồn vốn và tài sản, do đó không được coi là tư bản tư nhân.
Sở hữu tư bản tư nhân là hình thức sở hữu của cá nhân đối với tư liệu sản xuất, trong đó phần lớn sử dụng nhân công lao động làm thuê để tạo ra giá trị Chủ sở hữu cần có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và chịu trách nhiệm pháp lý về hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Quyền sở hữu của cá nhân đối với tài sản phát sinh không hạn chế về số lượng và giá trị, đồng thời hình thức sở hữu này có thể mở rộng quy mô lớn, không bị giới hạn về vốn hay ngành nghề kinh doanh.
2.2.1 Những thành tựu đạt được của nền kinh tế tư nhân ở Việt Nam và nguyênnhân:
Trong những năm gần đây, thành phần KTTN đã trở thành một lực lượng quan trọng thúc đẩy nền kinh tế đất nước, với vai trò ngày càng khẳng định rõ rệt trong sự phát triển và đổi mới của nền kinh tế - xã hội Thành phần này hiện tạo ra 40% GDP, đóng góp 30% ngân sách nhà nước và thu hút khoảng 85% lực lượng lao động, chứng minh vị trí trung tâm trong sự phát triển kinh tế quốc gia Đại hội lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh rằng, sự tăng trưởng về số lượng và chất lượng của thành phần KTTN đã trở thành động lực quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế Theo báo cáo, đầu tư tư nhân, đặc biệt là từ thành phần KTTN, đóng vai trò chủ đạo trong việc thúc đẩy sự tăng trưởng và đổi mới của nền kinh tế nước nhà.
1 SốliệutừKinhtếtưnhân-nguồn độnglựccủanềnkinhtế-trangwebhttps://tuyengiao.vn
3 SốliệutừKinhtếtưnhân-“Lựckéoquantrọng”củakinhtếViệtNamthờihậuCOVID-19 -trangweb:https://tapchitaichinh.vn
Trong 35 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Kinh tế tư nhân đã phát triển rộng khắp, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng GDP của Việt Nam, huy động các nguồn lực xã hội vào sản xuất và kinh doanh, tạo việc làm, nâng cao đời sống người dân, tăng ngân sách nhà nước và giữ vững ổn định chính trị, an sinh xã hội Đảng luôn tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp tư nhân thành lập các tập đoàn lớn đa lĩnh vực, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế cùng với các lĩnh vực công nghệ và khoa học, truyền cảm hứng làm giàu và cống hiến cho toàn xã hội Trào lưu khởi nghiệp ngày càng lan tỏa mạnh mẽ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển sản phẩm phù hợp thị trường và tạo động lực cho nền kinh tế năng động Nhiều doanh nghiệp tư nhân đã trở thành những “người tiên phong” trong cuộc cách mạng đổi mới, ứng dụng khoa học - công nghệ để phát triển kinh tế đất nước, nổi bật như các tập đoàn lớn như Vingroup, góp phần làm cho nền kinh tế Việt Nam được thế giới biết đến trong những năm gần đây.
Nhiều doanh nghiệp Việt Nam như Sun Group, T&T Group, Thaco, Vietjet đã đóng góp trên 1 tỷ USD vào kim ngạch xuất khẩu, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thu ngân sách và giải quyết việc làm, đảm bảo an sinh xã hội Thống kê cho thấy, 29 doanh nghiệp Việt Nam có vốn hóa trên thị trường chứng khoán vượt mốc 1 tỷ USD, thể hiện sức mạnh của doanh nghiệp tư nhân trong thúc đẩy cạnh tranh quốc tế Các sản phẩm sáng tạo và công lao của người Việt đã tạo nên trải nghiệm tích cực cho người tiêu dùng toàn cầu, chứng minh khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường thế giới và nâng cao hình ảnh đất nước trong mắt bạn bè quốc tế.
2 SốliệutừKinhtếtưnhân-nguồn độnglựccủanềnkinhtế-trangwebhttps://tuyengiao.vn
4 SốliệutừKinhtếtưnhân-“Lựckéoquantrọng”củakinhtếViệtNamthời hậuCOVID-19 -trangweb:https://tapchitaichinh.vn
Sự phát triển của các doanh nghiệp tư nhân và thành phần kinh tế tư nhân đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao mức độ phúc lợi xã hội Các doanh nghiệp này góp phần lớn vào ngân sách nhà nước, từ đó hỗ trợ các chính sách như nâng cấp cơ sở hạ tầng, củng cố quốc phòng an ninh, giảm nghèo, giảm thất nghiệp và ứng phó hiệu quả với thiên tai, lũ lụt Nhờ đó, nền kinh tế và an sinh xã hội được đảm bảo và phát triển bền vững hơn.
Trong bối cảnh đại dịch Covid-19, ngành Kinh tế Tài chính Ngân hàng (KTTN) đã khẳng định vai trò quan trọng của mình trong tăng trưởng kinh tế Đầu tư vào lĩnh vực này trong quý III năm 2020 đã tăng gấp đôi so với quý II, đạt 7,4% tổng vốn đầu tư của nền kinh tế so với cùng kỳ năm 2019 Mặc dù chịu tác động tiêu cực từ đại dịch, trong 9 tháng đầu năm 2020, vẫn có gần .
Trong 9 tháng đầu năm 2020, số doanh nghiệp thành lập mới đạt 99 nghìn, giảm 3,2% so với cùng kỳ năm 2019, nhưng số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng mạnh 25,5%, đạt 34,6 nghìn doanh nghiệp Đồng thời, số doanh nghiệp tăng vốn là 29,5 nghìn, đóng góp tích cực vào sự phát triển của nền kinh tế Nhờ những hoạt động này, tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong kỳ đạt 3.601,9 nghìn tỷ đồng, tăng 19,2% so với cùng kỳ năm 2019, thể hiện sự hồi phục và tăng trưởng tích cực của doanh nghiệp trong bối cảnh dịch bệnh.
Những thành tựu trong đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế đã nâng cao vị thế của thành phần kinh tế tư nhân trong đời sống chính trị và xã hội Hiện nay, các văn bản pháp luật liên quan đến kinh tế đều được Quốc hội và Chính phủ yêu cầu lấy ý kiến cộng đồng doanh nghiệp tư nhân thông qua Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (VCCI) trước khi ban hành.
Trong giai đoạn từ năm 1975 đến 1986, nền kinh tế Việt Nam phát triển theo mô hình kế hoạch hóa của chủ nghĩa xã hội Xô Viết, trong đó thành phần kinh tế tư nhân bị tẩy chay và gần như bị xóa sổ, ngoại trừ các hộ kinh doanh nhỏ lẻ Hàng hóa được phân phối theo tem phiếu do nhà nước quản lý toàn diện, hạn chế người dân tự do mua bán trên thị trường hoặc vận chuyển hàng hóa giữa các địa phương Các giao dịch bằng tiền mặt bị hạn chế, chế độ phân phối lương thực dựa trên đầu người, khiến nền kinh tế lúc đó vô cùng kém phát triển và không có động lực thúc đẩy lao động sáng tạo hay làm giàu cho bản thân và đất nước Sức sản xuất bị kìm hãm, làm giảm khả năng phát triển kinh tế và nâng cao đời sống nhân dân.