ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC LÊNIN ĐỀ TÀI KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THÀNH PHẦN KINH TẾ NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LỚP NHÓM HK212 GVHD THS NGUYỄN TRUNG HIẾU SINH VIÊN THỰC HIỆN STT MSSV HỌ TÊN % ĐIỂM BTL ĐIỂM BTL GHI CHÚ 1 2 3 4 5 TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2022 BÁO CÁO KẾT QUẢ LÀM VIỆC NHÓM STT Mã số SV Họ và tên Nhiệm vụ được phân công % Điểm BTL Điểm BTL Ký tên 1 2 3 4 5 Họ và tên nhóm trưởng Số ĐT Email Nhậ.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC LÊNIN
GVHD: THS NGUYỄN TRUNG HIẾU
SINH VIÊN THỰC HIỆN
BTL
ĐIỂM BTL CHÚ GHI
Trang 2BÁO CÁO KẾT QUẢ LÀM VIỆC NHÓM
STT Mã số SV Họ và tên Nhiệm vụ được phân công
% Điểm BTL
Điểm BTL Ký tên
1
2
3
4
5
Họ và tên nhóm trưởng:
Nhận xét của GV:
GIẢNG VIÊN
(Ký và ghi rõ họ, tên)
Nguyễn Trung Hiếu
NHÓM TRƯỞNG
(Ký và ghi rõ họ, tên)
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
1 Tính cấp thiết của đề tài 6
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
3 Mục tiêu nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 7
5 Kết cấu của đề tài 7
CHƯƠNG 1: KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 8
1.1 Các khái niệm 8
1.1.1 Thị trường: 8
1.1.2 Kinh tế thị trường 8
1.1.3 KTTT định hướng XHCN 8
1.2 Tính tất yếu khách quan của việc phát triển KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam 9
1.2.1 Phát triển KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa là phù hợp với quy luật phát triển khách quan 9
1.2.2 KTTT có rất nhiều ưu việt, là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước 10
1.2.3 Mô hình KTTT định hướng XHCN phù hợp với nguyện vọng của nhân dân mong muốn một XHdân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh 11
1.3 Các đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của Việt Nam 14
1.3.1 Khái quát các đặc trưng cơ bản 16
Trang 41.3.2 Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của Việt Nam có một số đặc trưng
cơ bản sau 16
CHƯƠNG 2 SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THÀNH PHẦN KINH TẾ NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 24
2.1 Các khái niệm 24
2.1.1 Thành phần kinh tế 24
2.1.2 Sở hữu Nhà nước 24
2.1.3 Kinh tế nhà nước 24
2.2 Thực trạng phát triển của thành phần kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay 25
2.2.1 Thành tựu đạt được và nguyên nhân của nó 25
2.2.2 Hạn chế, tồn tại và nguyên nhân của nó 28
2.3 Định hướng và giải phát nhằm thúc đẩy phát triển thành phần kinh tế nhà nước ở nước ta giai đoạn tới 30
2.3.1 Định hướng nhằm thúc đẩy phát triển thành phần kinh tế nhà nước ở nước ta giai đoạn tới 30
2.3.2 Những giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy phát triển thành phần kinh tế nhà nước ở nước ta giai đoạn tới 30
KẾT LUẬN 37
Tài liệu tham khảo 39
Trang 5CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau năm 1991 cùng với sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống các nước XHCN ở Đông Âu, nền kinh tế – chính trị thế giới đã chuyển từ trạng thái hai cực đối đầu sang nền kinh tế chính trị đa cực, đa phương hoá, đa dạng hoá theo xu hướng hoà bình, đối thoại, hợp tác phát triển cùng có lợi
Trong bối cảnh đó, từ việc nhận thức đúng đắn trong thực tiễn và lý luận với mục tiêu đưa nước ta phát triển hội nhập với khu vực và thế giới Ngay từ đại hội Đảng VI, Đảng ta đã xác định “Chuyển đổi mô hình kinh tế chỉ huy mang nặng tính bảo thủ trì trệ sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần và vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN ” Hiện nay nền kinh tế nước ta bao gồm 6 thành phần kinh tế trong đó thành phần kinh tế nhà nước giữ vai tròchủ đạo, cùng với các thành phần kinh tế tập thể tạo nên một nền tảng vững chắc cho nền kinh
tế quốc dân
Thành phần kinh tế nhà nước giữa vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt nam, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Tuy nhiên trong nhiều năm, KTNN đã được bao cấp, ở hầu hết các lĩnh vực củanền kinh tế, lực lượng KTNN giữ vị trí độc quyền, không có một lực lượng kinh tế khác cạnh tranh, do đó khi chuyển sang cơ chế mới thì nhiều cơ sở KTNN không thíchnghi được với điều kiện mới Nhà nước ít vốn, Cán bộ quản lý chủ chốt thiếu tiêu chuẩn lãnh đạo, thiếu trách nhiệm trước tập thể cũng như trước cơ quan Nhà nước Trình độ trang bị cơ sở vật chất- kỹ thuật và công nghệ sản xuất của khu vực KTNN nói chung là lạc hậu, chắp vá, công suất sử dụng máy móc thiết bị không cao, năng suất và chất lượng sản phẩm thấp, không đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới Đó
là một trong những nguyên nhân quan trọng làm cho KTNN của nước ta trì trệ và kém hiệu quả
Trang 7Đứng trước những vấn đề đó, để nghiên cứu rõ hơn về thực trạng của thành phần
kinh tế nhà nước hiện nay và tìm ra các giải pháp cơ bản để khắc phục những hạn chếtiêu cực và nâng cao vai trò của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa làmột công việc cấp thiết Với ý nghĩa đó, nhóm chúng em đã quyết định chọn đề
tài“Kinh tế thị trường định hướng XHCN và sự phát triển của thành phần kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu.
Do lần đầu tiên tiếp xúc với một vấn đề kinh tế có tính chất khá rộng và quy mônên trong đề tài này không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Chúng em rất mong có sự nhận xét, đóng góp ý của thầy bộ môn
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là lý luận về mô hình KTTT định hướng theo XHCN của Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: Thành phần KTNN giai đoạn 2010 - 2021
3 Mục tiêu nghiên cứu
Thứ nhất nắm, hiểu rõ và phân tích được khái niệm, tính tất yếu và đặc trưng của
lý luận về mô hình nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam.
Thứ hai, khái quát về thành phần KTNN ở Việt Nam.
Thứ ba, đánh giá thực trạng của thành phần KTNN ở nước ta.
Thứ tư, đưa ra được giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của thành phần KTNN và đóng góp chung vào sự phát triển của nền KTTT Việt Nam.
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phép biện chứng duy vật
- Phương pháp trừu tượng hóa khoa học
- Phương pháp thống kê, mô tả, so sánh, tổng hợp, phân tích.
5 Kết cấu của đề tài
Trang 8Đề tài nghiên cứu hai chương đó là:
- Chương 1: Kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
- Chương 2: Sự phát triển của thành phần kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay Ngoài ra đề tài còn có phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo
Trang 9CHƯƠNG 1 KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM
1.1.2 Kinh tế thị trường
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế được vận hành theo cơ chế thị trường Đó
là nền kinh tế hàng hóa phát triển cao, ở đó mọi quan hệ sản xuất và trao đổi đều được thông qua thị trường, chịu sự tác động, điều tiết của các quy luật thị trường
Sự hình thành kinh tế thị trường là khách quan trong lịch sử: từ kinh tế tự nhiên,
tự túc, kinh tế hàng hóa rồi từ kinh tế hàng hóa phát triển thành kinh tế thị trường Kinh tế thị trường cũng trải qua quá trình phát triển ở các trình độ khác nhau từ kinh tếthị trường sơ khai đến kinh tế thị trường hiện đại ngày nay Kinh tế thị trường là sản
phẩm của văn minh nhân loại
1.1.3 KTTT định hướng XHCN
Đó là nền kinh tế hàng hoá vận hành theo cơ chế thị trường dưới sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN
KTTT định hướng XHCN là sản phẩm của thời kỳ Đổi Mới, thay thế nền kinh
tế kế hoạch bằng nền kinh tế hỗn hợp hoạt động theo cơ chế thị trường
KTTT định hướng XHCN là việc sử dụng công nghệ để thực hiện mục tiêu của CNXH Là quá trình giải quyết đồng thời hai nhiệm vụ: vừa phát triển KTTT, vừa phảithực hiện các mục tiêu của CNXH
Phát triển nền KTTT định hướng XHCN nhằm mục đích phát triển LLSX, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH, nâng cao đời sống nhân dân
Trang 101.2 Tính tất yếu khách quan của việc phát triển KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam
1.2.1 Phát triển KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa là phù hợp với quy luật phát triển khách quan.
KTTT là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hóa, ở Việt Nam nhữngđiều kiện cho sự hình thành và phát triển của kinh tế hàng hóa không mất đi mà cònphát triển mạnh cả về chiều rộng và chiều sâu, sự phát triển kinh tế hàng hóa tất yếuhình thành KTTT
Sự ra đời của nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam gắn liền với côngcuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo KTTT định hướng XHCN là vấn đề lýluận và thực tiễn hết sức mới mẻ và phức tạp Nó thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữaviệc nhận thức sâu sắc tính quy luật khách quan với phát huy vai trò chủ động, sángtạo của chủ thể là Đảng, Nhà nước XHCN và nhân dân lao động trong thực tiễn cáchmạng Việt Nam Đây là sự lựa chọn con đường và mô hình phát triển của Việt Namtrong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế đáp ứng yêu cầu "đi tắt, đón đầu" đang đặt ra nhưmột yếu tố sống còn Sự hình thành tư duy của Đảng ta về nền KTTT định hướngXHCN là cả một quá trình tìm tòi thể nghiệm, phát triển từ thấp lên cao, từ chưa đầy
đủ, hoàn thiện tới ngày càng đầy đủ, sâu sắc và hoàn thiện
Phân phối theo lao động là đặc trưng ,bản chất của KTTT định hướng XHCN
là hình thức thực hiện về mặt kinh tế của chế độ công hữu tư liệu sản xuất Do vậy đây
là hình thức phân phối chủ yếu ở nước ta hiện nay KTTT định hướng XHCN thựchiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phốitheo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và thông quaphúc lợi xã hội Tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hộingay trong từng bước phát triển Tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa vàgiáo dục, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nâng caodân trí, giáo dục và đào tạo con người, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực của đấtnước Như vậy, sự lựa chọn mô hình KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam là phù hợpvới xu thế của thời đại và đặc điểm phát triển của dân tộc
Trang 111.2.2 KTTT có rất nhiều ưu việt, là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh
tế, xã hội của đất nước.
Lý luận và thực tiễn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa cho thấy, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã tạo nên những giá trịmới, rất ưu việt mà không một chế độ nào trước đó ở Việt Nam có được Những thànhquả của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của ĐảngCộng sản Việt Nam đã góp phần quan trọng tạo nên những giá trị tiến bộ mới, có sứcsống bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, đặc biệt những thành côngcủa sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh
tế quốc tế Sau 30 năm đổi mới, nhất là từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam lựa chọn kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa làm mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xã hội, thì Việt Nam đã rất nhanh chóng thoát khỏi khủng hoảngkinh tế và tình trạng kém phát triển, kinh tế tăng trưởng khá, trở thành nước đang pháttriển có thu nhập trung bình
Chính sự lựa chọn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa mà nhân dân Việt Nam đã và đang được hưởng cuộc sống ấm no, tự do, hạnhphúc hơn; cuộc sống của mọi tầng lớp dân cư từng ngày được thay da, đổi thịt, từ thiếuthốn trăm bề, cơm không đủ no, áo không đủ mặc, đến nay mọi người dân đang đượcthụ hưởng đầy đủ các dịch vụ phục vụ cho sự phát triển một cách toàn diện Chínhsách an sinh xã hội, đặc biệt là xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm, hệ thống bảohiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chế độ ưu đãi người có công, trợ giúp xã hội… tạo điềukiện để người dân được hưởng thụ nhiều hơn về mọi mặt Nhờ đó mà vị thế và uy tíncủa Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao Trong khi xã hội tưbản vẫn đang tồn tại nhiều khuyết tật và mâu thuẫn không thể giải quyết như: thấtnghiệp, đói nghèo, bất bình đẳng… Đặc biệt, tình trạng khủng bố, bạo lực, tội phạm,
an ninh, phân biệt chủng tộc diễn ra triền miên, điển hình là phương Tây, Mỹ, khu vựcTrung Đông
Vì vậy, những luận điệu phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa ở Việt Nam là một thủ đoạn nham hiểm được các thế lực thù địch sử dụngvới mục tiêu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa ở
Trang 12Việt Nam Song, đó chỉ là sự ảo tưởng của những kẻ ngông cuồng; bởi những thànhquả to lớn từ phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang hiệnhữu ở Việt Nam Đó là điều không thể phủ nhận.
1.2.3 Mô hình KTTT định hướng XHCN phù hợp với nguyện vọng của nhân dân mong muốn một XH dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Tính định hướng XHCN trong phát triển kinh tế – xã hội quy định phát triểnKTTT ở nước ta nhằm “xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, côngbằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượngsản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu”
Không thể làm cho “dân giàu, nước mạnh” nếu không có tăng trưởng kinh tếtrên cơ sở đẩy mạnh CNH, HĐH Không thể có tăng trưởng kinh tế nếu không pháttriển và quản lý có hiệu quả nền KTTT Chỉ có sức mạnh của nền KTTT hỗn hợpnhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần mới là cơ sở kinh tế của sự phát triển theođịnh hướng XHCN chứ không phải chỉ duy nhất kinh tế quốc doanh như có thời lầmtưởng
Ở Việt Nam, sau hơn 30 năm đổi mới, nền KTTT định hướng XHCN đã hìnhthành, phát triển, đến nay đã có những yếu tố của một nền KTTT hiện đại, hội nhậpquốc tế và bảo đảm định hướng XHCN Đó là nền kinh tế có nhiều hình thức sở hữu,nhiều thành phần; có sự phát triển đầy đủ, đồng bộ các loại thị trường, thị trường trongnước gắn kết với thị trường quốc tế Thị trường đã phát huy vai trò trong việc xác địnhgiá cả, phân bổ nguồn lực, điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa; nền kinh tế đã vậnhành theo các quy luật của KTTT
Đồng thời, nền KTTT có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN; Nhànước vừa xây dựng và hoàn thiện thể chế, tạo khung khổ pháp luật, môi trường ổnđịnh, thuận lợi cho kinh tế phát triển, vừa sử dụng các nguồn lực kinh tế của Nhà nước
để điều tiết, thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo định hướng XHCN, phát triển bềnvững cả kinh tế, xã hội, môi trường; gắn phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ, côngbằng xã hội hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.Những yếu tố này hoàn toàn tương đồng với các định hướng xã hội của các nền KTTThiện đại trên thế giới
Trang 13Như vậy, từ thực tiễn và lý luận, có thể khẳng định, KTTT định hướng XHCN
là mô hình KTTT hiện đại, hội nhập quốc tế không chỉ phù hợp với thực tiễn ViệtNam và xu thế của thời đại, mà còn là mô hình kinh tế phù hợp với các nước kinh tếchưa phát triển quá độ lên CNXH
Về kinh tế: Việt Nam là một câu chuyện phát triển thành công Những cảicách kinh tế từ năm 1986 kết hợp với những xu hướng toàn cầu thuận lợi đã nhanhchóng giúp Việt Nam phát triển từ một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giớitrở thành quốc gia thu nhập trung bình thấp chỉ trong vòng một thế hệ Từ năm 2002đến 2020, GDP đầu người tăng 2,7 lần, đạt gần 2.800 USD Cũng trong giai đoạn này,
tỉ lệ nghèo (theo chuẩn 1,9 USD/ngày) giảm mạnh từ hơn 32% năm 2011 xuống còndưới 2%.1
Hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển toàn diện và sâu rộng, đưa nước ta hộinhập ngày càng đầy đủ với kinh tế khu vực và thế giới Tổng mức lưu chuyển hànghóa ngoại thương thực hiện trong giai đoạn 2011-2019 đạt 3.100,3 tỷ USD, gấp 20,2lần giai đoạn 1991-2000 và gấp 3,6 lần giai đoạn 2001-2010 Tỷ lệ tổng kim ngạchxuất nhập khẩu so với GDP từ 112,5% năm 2000 tăng lên 142,2% năm 2005; 152,2%năm 2010 và 210,4% vào năm 2019 Điều này cho thấy nền kinh tế nước ta có độ mởngày càng cao và tăng lên tương đối nhanh, nước ta đã khai thác được thế mạnh củakinh tế trong nước và tranh thủ được thị trường thế giới Kể từ khi thực hiện Luật Đầu
tư nước ngoài từ năm 1988, thu hút đầu tư nước ngoài vào nước ta đã đạt được nhiềukết quả đáng khích lệ Năm 2019, số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 4.028 dự ánvới tổng số vốn đăng ký đạt 38.951,7 triệu USD, tương ứng gấp 19,1 lần và 24,3 lần sovới giai đoạn 1988-1990 Đầu tư trực tiếp nước ngoài trở thành kênh huy động vốnquan trọng cho sự phát triển kinh tế- xã hội, có tác dụng to lớn trong việc thúc đẩy sựchuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo thêm nhiềuviệc làm, nâng cao năng lực quản lý và trình độ công nghệ cho nền kinh tế Đặc biệt, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã thúc đẩy việc mở rộng quan hệ kinh tế đốingoại giữa nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới.2
1 Tổng Quan về Việt Nam (18/ 11/ 2021) The word bank Truy cập từ
https://www.worldbank.org/vi/country/vietnam/overview# 1
2 TS Nguyễn Thị Hương (03/09/2020) Những dấu ấn quan trọng về kinh tế – xã hội trong hành trình 75 năm thành lập và phát triển đất nước qua số liệu thống kê Truy cập từ
Trang 14Năm 2019, kinh tế Việt Nam tiếp tục có khả năng chống chịu cao, nhờ nhucầu trong nước và sản xuất định hướng xuất khẩu được duy trì ở mức cao GDP thựctăng ước khoảng 7%, tương tự tỷ lệ tăng trưởng trong năm 2018, điều này cho thấyViệt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực.
Năm 2020, với độ mở về kinh tế và sự hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thếgiới, kinh tế Việt Nam bị tác động nặng nề bởi đại dịch Covid-19 Tăng trưởng GDPđạt 1,8% trong nửa đầu năm, dự kiến cả năm đạt 2,8% Việt Nam là một trong số ítquốc gia trên thế giới không dự báo suy thoái kinh tế, nhưng tốc độ tăng trưởng dựkiến năm nay thấp hơn nhiều so với dự báo trước khủng hoảng (6-7%) Tuy nhiên, tácđộng của dịch Covid-19 rất khó đoán định, tùy thuộc vào quy mô và thời gian kéo dàicủa dịch bệnh Sức ép lên tài chính công sẽ gia tăng do thu ngân sách giảm, trong khichi ngân sách tăng lên để kích hoạt các gói hỗ trợ các hộ gia đình và doanh nghiệpgiảm thiểu tác động của đại dịch Covid-19
Về xã hội: Việt Nam đang chứng kiến sự thay đổi nhanh về cơ cấu dân số và
xã hội Dân số Việt Nam đã đạt 96,5 triệu dân vào năm 2019 và dự kiến sẽ tăng lên
120 triệu dân tới năm 2050 Hiện nay, 70% dân số có độ tuổi dưới 35, với tuổi thọ
https://www.gso.gov.vn/su-kien/2020/09/23410/
Trang 15trung bình gần 76 tuổi3, cao hơn những nước có thu nhập tương đương trong khu vực.Tầng lớp trung lưu đang hình thành, hiện chiếm khoảng 13% dân số và dự kiến sẽ tănglên đến 26% vào năm 2026.4
Tuổi thọ trung bình của người Việt đã đạt 75,6 tuổi, xếp vị trí 56
Trong giai đoạn 2010-2020, Chỉ số vốn nhân lực của Việt Nam tăng từ 0,66lên 0,69 Một em bé Việt Nam được sinh ra ở thời điểm hiện nay khi lớn lên sẽ đạtmức năng suất bằng 69% so với cũng đứa trẻ đó được học tập và chăm sóc sức khỏeđầy đủ Như vậy, Việt Nam là quốc gia có Chỉ số Vốn con người cao nhất trong số cácquốc gia có thu nhập trung bình, tuy nhiên vẫn còn tồn tại khoảng cách giữa các địaphương, nhất là ở nhóm dân tộc thiểu số
Y tế của nước ta cũng đạt nhiều tiến bộ khi mức sống ngày càng cải thiện.Trong giai đoạn 1993-2017, tỷ suất tử vong ở trẻ sơ sinh giảm từ 32,6 xuống còn 16,7(trên 1.000 trẻ sinh) Tuổi thọ trung bình tăng từ 70,5 lên 76,3 tuổi trong giai đoạn1990-2016 Chỉ số bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân là 73, cao hơn mức trung bìnhcủa khu vực và thế giới, với 87% dân số có bảo hiểm y tế Tuy nhiên, tỷ lệ chênh lệchgiới tính khi sinh còn ở mức cao và ngày một tăng, điều này cho thấy tình trạng phânbiệt giới tính vẫn còn tồn tại Bên cạnh đó, Việt Nam là một trong những quốc gia có
3 Minh Anh (29/9/2016) Người Việt thọ 75,6 tuổi, đứng thứ 2 khu vực Truy cập từ
https://vietnamnet.vn/vn/suc-khoe/nguoi-viet-tho-75-6-tuoi-dung-thu-2-khu-vuc-331532.html
4 Quy mô dân số Việt Nam những phát hiện chính (03/08/2020) Con số sự kiện Truy cập từ
http://consosukien.vn/quy-mo-dan-so-viet-nam-nhung-phat-hien-chinh.htm
Trang 16tốc độ già hóa dân số nhanh nhất, dự báo đến năm 2050 nhóm tuổi trên 65 sẽ tăng gấp2,5 lần.5
Trong 30 năm qua, việc cung cấp các dịch vụ cơ bản đã có sự thay đổi tíchcực Khả năng người dân tiếp cận hạ tầng cơ sở được cải thiện Tính đến năm 2016,99% dân số sử dụng điện chiếu sáng, cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ 14% năm 1993 Tỷ
lệ tiếp cận nước sạch nông thôn cũng được cải thiện, từ 17% năm 1993 lên 70% năm
2016, trong khi tỷ lệ ở thành thị là trên 95%
Việt Nam đã đặt ra những tầm nhìn phát triển tham vọng hơn, hướng tới mụctiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045 Để làm được điều này, nền kinh
tế cần tăng trưởng với tốc độ bình quân hàng năm khoảng 5% trên đầu người trong 25năm tới Việt Nam cũng hướng tới mục tiêu phát triển theo hướng xanh hơn, bao trùmhơn
Tương lai của Việt Nam đang được định hình bởi một vài xu thế lớn Dân sốđang già đi nhanh chóng, thương mại toàn cầu đang suy giảm, trong khi đó suy thoáimôi trường, các vấn đề biến đổi khí hậu và tự động hóa ngày gia tăng Tiến trình củacác xu hướng này càng bị đẩy nhanh bởi đại dịch COVID-19
Lựa chọn mô hình KTTT định hướng XHCN không phải đơn giản là sự trở vềvới phương thức chuyển nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp, cũngkhông phải là sự gán ghép chủ quan giữa KTTT và chủ nghĩa xã hội, mà là sự nắm bắt
và vận dụng xu thế vận động khách quan của KTTT trong thời đại ngày nay Điềuquan trọng có ý nghĩa quyết định là phải chuyển sang nền kinh tế hiện đại, văn minhnhằm mục tiêu từng bước đi lên chủ nghĩa xã hội Đây là sự lựa chọn phù hợp với cácquy luật phát triển và các điều kiện lịch sử cụ thể của thời đại và của những nước đisau, cho phép các nước này giảm thiểu được những đau khổ và rút ngắn con đường đicủa mình tới chủ nghĩa xã hội trên cơ sở sử dụng được ưu thế cũng như hạn chế đượcnhững khuyết điểm của hai cơ chế: kế hoạch và thị trường KTTT định hướng XHCN
là kiểu tổ chức kinh tế đặc biệt, vừa tuân theo những nguyên tắc và quy luật của hệthống KTTT, vừa bảo đảm tính định hướng XHCN Chính tính chất, đặc trưng cơ bản
5 Nguyễn Thị Hương, Lê Thị Phương (23/01/2021) Thực tiễn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Truy cập từ : https://tapchitaichinh.vn/su-kien-noi-bat/thuc-tien-phat-trien-nen- kinh-te-thi-truong-dinh-huong-xa-hoi-chu-nghia-o-viet-nam-331532.html
Trang 17này chi phối và quyết định phương tiện, công cụ, động lực của nền kinh tế và conđường đạt tới mục tiêu, là sử dụng KTTT, nâng cao hiệu lực và hiệu quả điều tiết củaNhà nước XHCN, phát triển khoa học và công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, mởcửa và hội nhập nhằm thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triểnrút ngắn để trong khoảng thời gian không dài có thể khắc phục tình trạng lạc hậu, đưaViệt Nam trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Sự tồn tại của KTTT ở nước ta tạo ra một động lực quan trọng cho sự pháttriển của lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội.Với đặc điểm lịch sử của dân tộc, Việt Nam không thể lựa chọn mô hình KTTT tư bảnchủ nghĩa, chỉ có lựa chọn mô hình KTTT định hướng XHCN mới phù hợp với ý chí
và nguyện vọng của đông đảo nhân dân về một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ,công bằng, văn minh
1.3 Các đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của Việt Nam
1.3.1 Khái quát các đặc trưng cơ bản
Nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam ; vừa vận động theo những quy luật của KTTT, vừa được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội
1.3.2 Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của Việt Nam có một số đặc trưng
cơ bản sau
1.3.2.1 Vị trí đặc thù của kinh tế thị trường trong công cuộc xây dựng CNXH
Nền KTTT là cơ sở kinh tế của xã hội quá độ tiến lên CNXH ở Việt Nam Đặctrưng này hàm ý không có một nền kinh tế nào khác ngoài KTTT có thể đảm nhiệm vai trò là cơ sở kinh tế để xây dựng CNXH ở nước ta Đây là sự khẳng định trên thực
tế Việt Nam nguyên lý kinh điển của C.Mác về vai trò của KTTT trong tiến trình phát triển của loài người
1.3.2.2 Mục tiêu phát triển của nền kinh tế
Trang 18Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phương thức để phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện “ dân giàu, nước mạnh, dân chủ, văn minh”.
Đây là sự khác biệt về mục tiêu giữa kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa Mục tiêu đó bắt nguồn từ cơ sở kinh tế -
xã hội của thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội và là sự phản ánh mục tiêu chính trị -
xã hội mà nhân dân ta phấn đấu dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam Mặt khác, đi đôi với việc phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, quá trình phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam còn gắn với xây dựng quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp nhằm ngày càng hoàn thiện cơ sở kinh tế - xã hội của Chủ nghĩa xã hội
Việt Nam đang ở chặng đầu của thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, khi lực lượng sản xuất còn yếu kém, lạc hậu nên việc sử dụng cơ chế thị trường cùng các hình thức và phương pháp quản lý của kinh tế thị trường là để kích thích sản xuất, khuyến khích sự năng động, ảnh sáng tạo của người lao động, ảnh giải phóng sức sản xuất, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ra bảo đảm từng bước xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội
1.3.2.3 LLSX của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Trong điều kiện hiện đại, nền kinh tế XHCN phải có LLSX đạt trình độ cao hơn
về chất so với tiêu chuẩn đặt ra trong quan niệm truyền thống về CNXH Trình độ đó không chỉ đo bằng chuẩn “đại Công nghiệp cơ khí” mà còn được đo bằng chuẩn công nghệ cao Trong nền kinh tế này, yếu tố ngày càng có vai trò quyết định là khoa học -
kỹ thuật và trí tuệ con người
Do có sự thay đổi như vậy, quan niệm truyền thống về công nghiệp hoá XHCN, vốn gắn với cơ chế kế hoạch hoá tập trung và bị nguyên lý tự cấp - tự túc chi phối, đã không còn thích hợp Cần phải có một cách thức, một mô hình CNH mới phù hợp có khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển mới này Trong thời đại ngày nay, CNH không chỉ gắn với các mục tiêu, giải pháp truyền thống mà phải đạt tới mục tiêu hiện đại,
được thực hiện dựa trên các công cụ và giải pháp hiện đại Theo nghĩa đó, CNH cũng chính là và phải là quá trình HĐH Khái niệm CNH, HĐH, được hiểu là quá trình
CNH với các mục tiêu và giải pháp phù hợp với điều kiện và xu hướng phát triển hiện
Trang 19đại Đây là một trong những nội dung - đặc điểm quan trọng bậc nhất của nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam.
1.3.2.4 Đa dạng hình thức sở hữu
Nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam là nền kinh tế hỗn hợp, bao gồm nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại trong một thể thống nhất, trong đó, chế độ công hữu ngày càng trở thành nền tảng vững chắc Không thể
có nền kinh tế định hướng XHCN nếu trong nó, chế độ công hữu không đóng vai trò nền tảng Đây là một cấu trúc đặc thù của nền KTTT theo nghĩa:
- Không loại trừ các quan hệ sở hữu tư nhân và sở hữu TBCN, thừa nhận tính chất "hỗn hợp" sở hữu như bất cứ nền KTTT nào
- Khu vực KTNN chứ không phải bất cứ lực lượng kinh tế nào khác đóng vai trò chủ đạo, dẫn dắt sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế
Theo quan niệm của C Mác, sở hữu công cộng (chế độ công hữu) là sở hữu được
xã hội hoá và mang tính xã hội trực tiếp Công hữu phải từng bước trở thành nền tảng vững chắc là vấn đề có tính nguyên tắc không chỉ đối với nền kinh tế XHCN mà còn đối với nền kinh tế định hướng XHCN Tuy nhiên, vai trò nền tảng của nó trong nền KTTT định hướng XHCN chưa thể đậm nét như trong nền kinh tế XHCN Nhưng sự khác biệt ở đây không phải là về bản chất mà là về quy mô, mức độ và phạm vi tác
động Chế độ sở hữu trong nền KTTT định hướng XHCN dựa trên hai hình thức cơ bản là sở hữu công cộng (công hữu) và sở hữu tư nhân (tư hữu) Còn sở hữu hỗn hợp được hình thành trên cơ sở đan xen, hỗn hợp giữa các hình thức sở hữu và là kết quả
của sự hợp tác, liên doanh giữa các chủ sở hữu khác nhau là nhà nước, tập thể (nhóm)
và tư nhân Công hữu ngày càng trở thành nền tảng vững chắc, các hình thức sở hữu khác cùng phát triển mạnh mẽ không hạn chế và đan xen, hỗn hợp với nhau theo luật định cần được xem là chế độ kinh tế cơ bản của giai đoạn phát triển theo định hướng XHCN ở Việt Nam
Trước đây, theo quan niệm truyền thống, các hình thức sở hữu là đơn nhất: nhà nước, tập thể hoặc tư nhân Sau gần 30 năm đổi mới, kinh tế hỗn hợp đang được hình thành và từng bước phát triển mạnh; chế độ cổ phần đang dần trở thành hình thức tổ
Trang 20chức chủ yếu của kinh tế công hữu Vì thế, công hữu không chỉ bao gồm sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể đơn nhất mà còn bao gồm cả phần sở hữu của nhà nước và tập thể trong kinh tế hỗn hợp Cũng như vậy, tư hữu không chỉ bao gồm sở hữu tư nhân đơn nhất mà còn bao gồm cả phần sở hữu của tư nhân trong kinh tế hỗn hợp.
Một yêu cầu khách quan của thị trường và KTTT là phải xác nhận và xác định quyền sở hữu dưới dạng tiền tệ những đóng góp tài sản, tiền vốn, trí tuệ, v.v vào kinh doanh nhằm lượng hoá quyền sở hữu của từng chủ sở hữu Không có quyền sở hữu chung chung, vô chủ, cũng không có quyền sở hữu như nhau cho tất cả mọi người trong nền KTTT định hướng XHCN
1.3.2.5 Duy trì phát triển bền vững
“Phải phát triển bền vững về kinh tế, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an ninh kinh tế Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, coi chất lượng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh là ưu tiên hàng đầu, chú trọng phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri thức.
Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hoà với phát triển văn hoá, thực hiện tiến
bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân Phát triển kinh tế - xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường,
Tính định hướng XHCN đòi hỏi phải bảo đảm công bằng và tiến bộ xã hội, thực hiện sự thống nhất và gắn liền hữu cơ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng và tiến
bộ xã hội ở tất cả các giai đoạn của sự phát triển KTTT ở nước ta Tăng trưởng kinh tế đồng thời với phát triển xã hội, văn hoá, giáo dục, vì mục tiêu phát triển con người và mang đậm bản sắc của đất nước và con người Việt Nam là những nội dung cấu thành của phát triển nhanh, hiệu quả, hiện đại và bền vững trong quá trình chuyển sang KTTT định hướng XHCN ở nước ta
Bản chất của CNXH là công bằng Song, cũng cần nhấn mạnh công bằng xã hội trong KTTT định hướng XHCN khác về chất với chủ nghĩa bình quân, cào bằng thu
6 Đảng cộng sản Việt Nam Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020.
Trang 21nhập và chia đều đói nghèo cho mọi người Không thể có CNXH và định hướng XHCN trong tình trạng đói nghèo và chậm phát triển.
Trước đây, CNXH "hiện thực" đã giải quyết không tốt vấn đề công bằng kinh tế Trong thực tiễn, cơ chế thực hiện công bằng (kế hoạch hoá tập trung) có khuynh hướng dẫn tới sự cào bằng, "bình quân" Cách hiểu này là cơ sở lý luận của thực tế phân phối bình quân sự đói nghèo và thiếu hụt, thủ tiêu động lực phát triển của chính CNXH
Ngược lại, trong quá trình chuyển đổi sang KTTT, cách thức phân phối ngày càng ít bình quân - cào bằng đã giúp giải quyết cả hai vấn đề: tăng trưởng và phát triểnnhanh; đồng thời nâng cao phúc lợi cho tất cả mọi người, đưa nhiều người thoát khỏi cảnh đói nghèo Với hai kết quả này, quá trình chuyển sang KTTT thật sự đồng hướng với CNXH
Tuy nhiên, vẫn còn một vấn đề là sự phân hoá giàu nghèo, cơ sở sâu xa của những bất bình đẳng xã hội tiềm tàng khác
Về nguyên tắc, cần có cách tiếp cận mới đến vấn đề công bằng trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, cụ thể:
- Thứ nhất, cần xác định rõ và giải quyết tốt mối quan hệ kết hợp giữa mục tiêu tăng trưởng và phát triển (mục tiêu thoát khỏi tụt hậu phát triển cho dân tộc Việt Nam) và mục tiêu công bằng xã hội trong từng giai đoạn cụ thể
- Thứ hai, cần quan niệm công bằng xã hội trước hết là sự bình đẳng về cơ hội phát triển và dân chủ hoá đời sống kinh tế - xã hội của mọi người dân, mọi chủ thể kinh tế và mọi vùng miền của đất nước Đồng thời, phải chấp nhận ở mức độ nào đó
sự chênh lệch về trình độ phát triển, thu nhập chính đáng, về dân trí trong từng thời kỳ,giữa các vùng miền và tầng lớp dân cư cụ thể Dĩ nhiên, không được phép để độ doãngcủa sự chênh lệch này làm tổn hại đến ổn định chính trị - xã hội Chấp nhận chênh lệch
để từng bước thu hẹp chênh lệch trong mỗi bước phát triển của đất nước là một thực tếkhách quan trong phát triển ở nước ta hiện nay
- Thứ ba, cần trả lời câu hỏi:”Nhà nước phải làm gì và làm như thế nào để thị trường phục vụ người nghèo hiệu quả; hỗ trợ các vùng chậm phát triển, và chặn đứng,