1. Trang chủ
  2. » Tất cả

TIỂU LUẬN QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC VỀ CON NGƯỜI

21 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan điểm của Triết học Mác về Con Người
Người hướng dẫn Giáo viên hướng dẫn
Trường học Trường đại học chưa rõ tên
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Bài tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 455,23 KB
File đính kèm TRIETHOC_CONNGUOI.zip (359 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG  TIỂU LUẬN MÔN HỌC TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN Tên đề tài “QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ CON NGƯỜI VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH LIÊN HỆ VIỆC PHÁT HUY NHÂ.

Trang 1

- -

TIỂU LUẬN MÔN HỌC TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN

Tên đề tài: “QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ CON

NGƯỜI VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH LIÊN

HỆ VIỆC PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP

ĐỔI MỚI HIỆN NAY”

Trang 2

Phần 2: NỘI DUNG CHÍNH 2

Chương 1: QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ CON NGƯỜI VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH 2

1.1 Khái niệm con người 2

1.2 Một số quan điểm triết học về con người trong lịch sử và những quan niệm cơ bản của triết học Mác-Lênin về con người 2

1.2.1 Một số quan điểm triết học về con người trong lịch sử 2

1.2.1.1 Quan niệm về con người trong triết học phương Đông 2

1.2.1.2 Quan niệm về con người trong triết học phương Tây 3

1.2.2 Những quan niệm cơ bản của triết học Mác-Lênin về con người 1.2.2.1 Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với mặt xã hội 4

1.2.2.2 Bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội 5

1.2.2.3 Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử 6

1.2.2.4 Ý nghĩa của quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin về con người 7

1.3 Sự vận dụng của chủ tịch Hồ Chí Minh 8

Chương 2: LIÊN HỆ VIỆC PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI HIỆN NAY 10

2.1 Liên hệ trong sự nghiệp đổi mới hiện nay 10

2.2 Liên hệ bản thân 17

Phần 3: KẾT LUẬN 18

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 19

Trang 3

Phần 1: MỞ ĐẦU

“Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy.” Bộ môn Triết học Mác - Lênin Triết học đã đem lại cho chúng ta kiến thức về vấn đề thế giới quan, nói một cách cụ thể hơn vai trò của bộ môn là giúp người học khám phá ra được thế giới xung quanh, về bản thân, về cuộc sống ngoài ra còn là ý nghĩa của sự tồn tại của chính mình Bước vào thời kì công nghiệp hóa hiện đại hóa nói chung

và thế kỉ XXI nói riêng, dựa trên những điều kiện lịch sử mới đã quy định vai trò của bộ môn Triết học Mác- Lênin ngày càng tăng Điều đó đòi hỏi nền giáo dục của đất nước phải bảo vệ, phát huy quá trình giáo dục môn học này nhằm giúp người học vận dụng kiến thức học được vào thực tiễn cuộc sống, phát triển đất nước theo những giá trị tốt đẹp nhất Để thực hiện tốt sứ mệnh trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, mỗi chúng ta cần tìm hiểu, học tập, tiếp thu quan điểm triết học Mác – Lênin ở nội dung về con người- đây là một nội dung lớn trong lịch sử triết học nhân loại Tìm hiểu về con người cũng đồng nghĩa với việc ta

đi tìm câu trả lời cho các câu hỏi nêu sau đây: con người là gì? Con người có những bản tính, bản chất đặc điểm ra sao? Con người với thế giới quan có mối quan hệ như thế nào? Con người cần làm gì để có một cuộc sống tốt đẹp, tiến bộ? Làm cách nào để phát huy được các tố chất của con người? Giải mã được các câu hỏi này sẽ giúp ta có kiến thức cơ bản về nhân sinh quan, hiểu được chính mình và sự tồn tại của mình mang lại ý nghĩa gì Từ những vấn đề đặt ra như vừa trình bày, nhận thấy được tính cấp thiết của nội dung, tôi lựa chọn đề tài: “Quan điểm của triết học Mác – Lênin về con người và sự vận dụng của chủ tịch Hồ Chí Minh Liên hệ việc phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp đổi mới hiện nay.”

Trang 4

Phần 2: NỘI DUNG CHÍNH Chương 1: QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ CON NGƯỜI VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH 1.1 Khái niệm con người

Khi tìm hiểu về con người trước tiên ta cần nắm khái niệm về “con người”, theo một số nguồn tham khảo có đưa ra các nhận định như sau:

“Con người là một dạng sinh vật sống trên Trái Đất với các tiến hóa cao nhất của động vật sống, có tri thức, ý thức Các nhận thức và hành động tác động lên nhau để hình thành với những nhu cầu, đáp ứng cho nhu cầu của con người.” Hoặc “Người, con người, loài người hay nhân loại (danh pháp khoa học: Homo sapiens, nghĩa đen: người tinh khôn) là loài linh trưởng đông đảo và lan rộng nhất Người có hai đặc trưng cơ bản là đi đứng bằng hai chân và bộ não lớn phức tạp; những đặc điểm cho phép họ phát triển công cụ, văn hóa và ngôn ngữ tiên tiến.”

Theo quan điểm của triết học Mác – Lênin về con người: “Con người là thực thể sinh học xã hội Con người là một sinh vật có tính xã hội, vừa là sản phẩm cao nhất trong qua trình tiến hóa của tự nhiên và lịch sử xã hội, vừa là chủ thể sáng tạo mọi thành tựu văn hóa trên Trái đất.”

1.2 Một số quan điểm triết học về con người trong lịch sử và những quan niệm cơ bản của triết học Mác-Lênin về con người

1.2.1 Một số quan điểm triết học về con người trong lịch sử

1.2.1.1 Quan niệm về con người trong triết học phương Đông

Trong nền triết học Trung Hoa suốt chiều dài lịch sử trên hai ngàn năm

cổ - trung đại, vấn đề bản tính con người là vấn đề được quan tâm hàng đầu Giải quyết vấn đề này, các nhà tư tưởng của Nho gia và Pháp gia đã tiếp cận từ

Trang 5

giác độ hoạt động thực tiễn chính trị, đạo đức của xã hội và đi đến kết luận bản tính người là Thiện (Nho gia) và bản tính người là Bất Thiện (Pháp gia) Các nhà tư tưởng của Đạo gia, ngay từ Lão tử thời Xuân Thu, lại tiếp cận giải quyết vấn đề bản tính người từ giác độ khác và đi tới kết luận bản tính Tự Nhiên của con người Sự khác nhau về giác độ tiếp cận và với những kết luận khác nhau

về bản tính con người đã là tiền đề xuất phát cho những quan điểm khác nhau của các trường phái triết học này trong việc giải quyết các vấn đề về quan điểm chính trị, đạo đức và nhân sinh của họ

Các nhà tư tư tưởng của các trường phái triết học ấn độ mà tiêu biểu là trường phái Đạo Phật lại tiếp cận từ giác độ khác, giác độ suy tư về con người

và đời người ở tầm chiều sâu triết lý siêu hình (Siêu hình học) đối với những vấn đề nhân sinh quan Kết lụân về bản tính Vô ngã, Vô thường và tính hướng thiện của con người trên con đường truy tìm sự Giác Ngộ là một trong những kết luận 201 độc đáo của triết học Đạo Phật

1.2.1.2 Quan niệm về con người trong triết học phương Tây

Đối lập với các nhà triết học duy vật, các nhà triết học duy tâm trong lịch

sử triết học phương Tây lại chú trọng giác độ hoạt động lý tính của con người Tiêu biểu cho giác độ tiếp cận này là quan điểm của Platôn thời Cổ đại Hy Lạp, Đêcáctơ trong nền triết học Pháp thời Cận đại và Hêghen trong nền triết học Cổ điển Đức Do không đứng trên lập trường duy vật, các nhà triết học này đã lý giải bản chất lý tính của con người từ giác độ siêu tự nhiên Với Platôn, đó là bản chất bất tử của linh hồn thuộc thế giới ý niệm tuyệt đối, với Đêcáctơ, đó là bản tính phi kinh nghiệm (apriori) của lý tính, còn đối với Hêghen, thì đó chính

là bản chất lý tính tuyệt đối

Trong nền triết học phương Tây hiện đại, nhiều trào lưu triết học vẫn coi những vấn đề triết học về con người là vấn đề trung tâm của những suy tư triết học mà tiêu biểu là chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa Phơrớt

Trang 6

Nhìn chung, các quan điểm triết học trước Mác và ngoài mácxít còn có một hạn chế cơ bản là phiến diện trong phương pháp tiếp cận lý giải các vấn đề triết học về con người, cũng do vậy trong thực tế lịch sử đã tồn tại lâu dài quan niệm trừu tượng về bản chất con người và những quan niệm phi thực tiễn trong

lý giải nhân sinh, xã hội cũng như những phương pháp hiện thực nhằm giải phóng con người Những hạn chế đó đã được khắc phục và vượt qua bởi quan niệm duy vật biện chứng của triết học Mác-Lênin về con người

1.2.2 Những quan niệm cơ bản của triết học Mác-Lênin về con người 1.2.2.1 Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với mặt xã hội

Quan điểm mà triết học Mác – Lênin khẳng định con người hiện thực là

sự thống nhất giữa hai yếu tố sinh học và yếu tố xã hội

Tiền đề vật chất đầu tiên quy sự tồn tại của con người là giới tự nhiên Cũng do đó, bản tính tự nhiên của con người bao hàm trong nó tất cả bản tính sinh học, tính loài của nó Yếu tố sinh học trong con người là điều kiện đầu tiên quy định sự tồn tại của con người Vì vậy, có thể nói: Giới tự nhiên là "thân thể

vô cơ của con người"; con người là một bộ phận của tự nhiên; là kết quả của quá trình phát triển và tiến hoá lâu dài của môi trường tự nhiên

Ví dụ: Con người có phân chia giới tính nam và nữ Một người mang giới tính nam sẽ có những đặc trưng riêng chiều cao, cân nặng và cấu trúc cơ thể (cơ bắp, vai, chân, các cơ quan sinh dục), hóc- môn giới tính, giọng nói, điệu bộ, được hình thành là kết quả của quá trình phát triển và tiến hoá lâu dài của môi trường

Trang 7

Ví dụ: Sự phân biệt giữa con người với các loài động vật khác từ khi con người sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình Phải kể đến thành tựu đầu tiên trong việc chế tạo ra công cụ sản xuất: công cụ bằng đá có niên đại khoảng 2,6 triệu năm từ Thời kì đồ đá sớm của một loại vượn người Chúng dùng các bộ phận lõi đá với các mảnh được tách ra khỏi để tạo cạnh sắc và thực hiện thao tác cắt, cạo, gọt

Lao động là yếu tố quyết định hình thành bản chất xã hội của con người, đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội

Con người là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành

và phát triển luôn luôn bị quyết định bởi ba hệ thống quy luật khác nhau, nhưng thống nhất với nhau Thứ nhất, hệ thống các quy luật tự nhiên như quy luật về

sự phù hợp cơ thể với môi trường, quy luật về sự trao đổi chất, về di truyền, biến dị, tiến hóa quy định phương diện sinh học của con người Thứ hai, hệ thống các quy luật tâm lý ý thức hình thành và vận động trên nền tảng sinh học của con người như hình thành tình cảm, khát vọng, niềm tin, ý chí Thứ ba, hệ thống các quy luật xã hội quy định quan hệ xã hội giữa người với người

Với phương pháp luận duy vật biện chứng, chúng ta thấy rằng quan hệ giữa mặt sinh học và mặt xã hội, cũng như nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội trong mỗi con người là thống nhất Mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của con người, còn mặt xã hội là đặc trưng bản chất để phân biệt con người với loài vật

Ví dụ: Quan hệ giữa mặt sinh học và mặt xã hội thống nhất như sau Người dân nước Việt Nam gồm 54 dân tộc anh em, xuyên suốt quá trình dựng nước và giữ nước họ đã luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, yêu nước, nhân ái; không có sự phân chia giữa các dân tộc đã tạo nên một khối sức mạnh lớn đẩy lùi giặc ngoại xâm, xây dựng đất nước

1.2.2.2 Bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội

Trang 8

Để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác đã nêu lên luận đề nổi tiếng trong tác phẩm Luận cương về Phoiơbắc: "Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội" Con người luôn luôn cụ thể, xác định, sống trong một điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, một thời đại nhất định Chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ xã hội đó (như quan hệ giai cấp, dân tộc, thời đại; quan hệ chính trị, kinh tế; quan hệ cá nhân, gia đình,

xã hội ) con người mới bộc lộ toàn bộ bản chất xã hội của mình

Ví dụ: Bản chất xã hội của con người là tổng hợp tất cả những mặt, những mối liên hệ tất nhiên tương đối ổn định bên trong cuộc sống Nếu bất cứ người nào không có bất cứ mối quan hệ xã hội nào, dù nhỏ nhất, thì người đó chưa phải là con người theo đúng nghĩa

1.2.2.3 Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử

Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại con người Bởi vậy, con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hóa lâu dài của giới hữu sinh Song, điều quan trọng hơn cả là, con người luôn luôn là chủ thể của lịch sử - xã hội

Con người hoạt động thực tiễn, tác động vào tự nhiên, cải biến giới tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận động phát triển của lịch sử xã hội Thế giới loài vật dựa vào những điều kiện có sẵn của tự nhiên Con người thì trái lại, thông qua hoạt động thực tiễn của mình để làm phong phú thêm thế giới tự nhiên, tái tạo lại một tự nhiên thứ hai theo mục đích của mình

Trong quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng làm ra lịch sử của mình Con người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra lịch sử của chính bản thân con người Để phát triển bản chất con người theo hướng tích cực, cần phải làm cho hoàn cảnh ngày càng mang tính người nhiều hơn Hoàn cảnh đó chính là toàn bộ môi trường tự nhiên và xã hội tác động đến con người

Trang 9

theo khuynh hướng phát triển nhằm đạt tới các giá trị có tính mục đích, tự giác,

có ý nghĩa định hướng giáo dục

Có thể thấy, bản chất con người luôn được hình thành và thể hiện ở những con người cụ thể trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể Con người, một thực thể xã hội, thông qua những hoạt động thực tiễn đã làm thay đổi giới tự nhiên nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu sinh tồn và phát triển của nó Đồng thời, trong quá trình ấy, con người cũng sáng tạo, làm chủ lịch sử của chính nó và góp phần phát triển lịch sử đó

1.2.2.4 Ý nghĩa của quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin về con người

Quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin về con người và bản chất con người là nền tảng, cơ sở phương pháp luận cho mọi suy nghĩ và hành động của con người,

cụ thể như sau:

Trong cách nhìn nhận vấn đề, khi đưa ra quan điểm cá nhân, ta không thể xem xét phiến diện chỉ theo góc nhìn riêng mình rồi kết luận mà cần phải xem xét một cách toàn diện ở cả hai phương diện bản tính tự nhiên và phương diện bản tính xã hội Trong đó, cần đặc biệt chú trọng đề cao phương diện bản tính

Trang 10

cân bằng mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, tránh đề cao cái tôi bản thân hoặc cái ta của xã hội một cách quá mức

Phương pháp luận trong triết học Mác – Lênin giữ vai trò định hướng cho con người trong nhận thức và hoạt động thực tiễn Đồng thời phát triển thế giới quan của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng trong lịch sử Trong cuộc sống, cần nhận thức và phát huy vai trò chủ thể sáng tạo của con người và có ý thức tự giác vượt ra khỏi tác động tiêu cực từ hoàn cảnh lịch sử, không để lịch sử tiêu cực ảnh hưởng đến hiện tại

Muốn phát huy sức mạnh của con người, Đảng, chính quyền, mỗi cá nhân

có tấm lòng nhân ái, cảm thông, tin tưởng tuyệt đối vào con người, đồng bào mình Như chủ tịch Hồ Chí Minh có nói: “trước hết phải tin tưởng lực lượng và trí tuệ của nhân dân là vô cùng vô tận” “Việc gì có lợi cho dân thì làm, việc gì

có hại cho dân thì phải tránh” Người cũng nhấn mạnh: nếu không tin dân thì dân cũng không tin Đảng, Chính phủ Nếu dân chúng không tin Đảng, Chính phủ thì “biết, họ cũng không nói Nói, họ cũng không nói hết lời”

Theo Bác, “chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn Nghĩa rộng là đồng bào cả nước Rộng nữa là cả loài người” Với ý nghĩa này, khái niệm con người bao gồm bản chất xã hội, con người xã hội, phản ánh các mối quan hệ xã hội từ hẹp đến rộng Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người bao

Trang 11

hàm nhiều nội dung khác nhau, trong đó có các nội dung cơ bản như: tư tưởng

về giải phóng nhân dân lao động, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, tư tưởng về con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của cách mạng, tư tưởng

về phát triển con người toàn diện

Người khẳng định, con người là động lực to lớn quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà, xây dựng đời sống mới, tiến lên xã hội chủ nghĩa đều phải bắt đầu từ con người, từ việc phát huy nhân tố con người Ở Việt Nam, quyền lợi của nhân dân lao động thống nhất với quyền lợi của giai cấp và dân tộc, vì vậy, giải phóng nhân dân lao động phải gắn liền với giải phóng giai cấp và giải phóng dân tộc Giai cấp vô sản lãnh đạo các cuộc đấu tranh giải phóng nhân dân lao động, giải phóng giai cấp vô sản và giai cấp nông dân không phải chỉ để giải phóng bản thân giai cấp vô sản mà còn để giải phóng giai cấp nông dân và toàn thể dân tộc khỏi ách áp bức, bóc lột

Những công cuộc giải phóng ấy, tất cả chỉ có thể thắng lợi và thắng lợi hoàn toàn, triệt để bằng việc thực hiện cách mạng vô sản, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản Sự nghiệp giải phóng đó chỉ hoàn thành

và kết thúc khi các giai cấp bị bóc lột, các dân tộc bị áp bức và những người lao động, không chỉ ở Việt Nam mà ở toàn thế giới thoát khỏi ách áp bức nô lệ Do bối cảnh lịch sử của quốc gia dân tộc, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh tư tưởng giành độc lập, tự do cho đất nước Người luôn xem độc lập là tiền đề, tự do là then chốt, còn hạnh phúc là đích đến bởi vì theo Người, nếu đất nước giành được độc lập nhưng nhân dân không có một cuộc sống ấm no, hạnh phúc, không

có cuộc đời tự do thì độc lập cũng trở nên vô nghĩa

Theo chủ tịch Hồ Chí Minh cần phải phát huy tiềm năng của nhân tố con người nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp cho khối đại đoàn kết dân tộc để giải quyết những nhiệm vụ cách mạng; phải có biện pháp phát huy nhân tố con

Ngày đăng: 24/11/2022, 19:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w