16 TRƯỜNG MÔN HỌC TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN ĐỀ THI KẾT THÚC HỌC PHẦN QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN VỀ NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN SỰ VẬN DỤNG Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA NGUYÊN TẮC NÀY TRONG CUỘC SỐNG, HỌC TẬP CỦA BẢN THÂN SINH VIÊN VÀ TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY GIẢNG VIÊN GIẢNG DẠY HỌ VÀ TÊN HỌC VIÊN MÃ HỌC VIÊN NGÀNH 2022 MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 2 Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN VỀ NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC.
Trang 1MÔN HỌC: TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
ĐỀ THI KẾT THÚC HỌC PHẦN
QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN VỀ NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN.
SỰ VẬN DỤNG Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA NGUYÊN TẮC NÀY TRONG CUỘC SỐNG, HỌC TẬP CỦA BẢN THÂN SINH VIÊN VÀ TRONG SỰ NGHIỆP
ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
GIẢNG VIÊN GIẢNG DẠY:
HỌ VÀ TÊN HỌC VIÊN:
MÃ HỌC VIÊN:
NGÀNH:
- 2022
Trang 2NỘI DUNG 2
Chương 1.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN VỀ NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC
1.3 Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn 4
Chương 2.
SỰ VẬN DỤNG Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA NGUYÊN TẮC NÀY TRONG CUỘC SỐNG, HỌC TẬP CỦA BẢN THÂN SINH VIÊN
VÀ TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở VIỆT
2.1 Sự vận dụng ý nghĩa phương pháp luận của nguyên tắcnày trong cuộc sống, học tập của bản thân sinh viên 8
2.2 Sự vận dụng ý nghĩa phương pháp luận của nguyên tắc
này trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay 10
Trang 3MỞ ĐẦU
Quan điểm triết học Mác - Lênin về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn là cơ sở lý luận cho việc xác định nội dung nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, suy cho cùng thì cơ sở của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là mối liên hệ hiện thực, thực tế giữa thực tiễn và lý luận Một khi nhận thức, lý luận đã xuất hiện và tỏ rõ vai trò không thể thiếu của nó đối với thực tiễn thì người ta phải ý thức được mối liên hệ hữu
cơ của nó với thực tiễn và như thế đưa đến hình thành những quan điểm, nguyên tắc cho hoạt động Như vậy, những quan điểm, nguyên tắc không chỉ được hình thành trên cơ sở thực tiễn, mà còn phải phục tùng những mục đích, điều kiện thực tiễn của con người
Quan điểm triết học Mác - Lênin về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn là nguyên tắc của nhận thức khoa học nói chung, nằm trong hệ thống phương pháp luận triết học duy vật biện chứng, khoa học chung nhất về
tự nhiên, xã hội và tinh thần Do đó, nội dung này có ý nghĩa phổ biến đối với mọi nhận thức khoa học, kể cả bản thân triết học Nó phụ thuộc vào lập trường, lợi ích giai cấp, nói khác đi, nó không mang tính giai cấp Nhà khoa học hay bất kỳ người hoạt động lý luận nào đều phải tính đến nội dung này trong hoạt động của mình, cũng giống như họ vận dụng các nội dung khác của chủ nghĩa duy vật biện chứng Nghiên cứu nghiên tắc này có ý nghĩa quan trọng trong quá trình đổi mới, hội nhập ở nước ta hiện nay Do đó, nghiên cứu
vấn đề “Quan điểm triết học Mác - Lênin về nguyên tắc thống nhất giữa lý
luận và thực tiễn Sự vận dụng ý nghĩa phương pháp luận của nguyên tắc này trong cuộc sống, học tập của bản thân sinh viên và trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài tiểu luận có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
sâu sắc
Trang 4NỘI DUNG Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN VỀ NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Phạm trù lý luận
Lý luận là sản phẩm cao nhất của nhận thức, của sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ não con người Cho nên, bản chất của lý luận là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Nhận thức là cả một quá trình biện chứng từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ nông cạn đến sâu sắc,
từ hiện tượng đến bản chất … Đúng như V.I.Lênin nhận xét: “Trong lý luận nhận thức cũng như trong tất cả các lĩnh vực khác của khoa học cần suy luận một cách biện chứng nghĩa là đừng giả định rằng nhận thức chúng ta là bất di bất dịch và có sẵn mà phải phân tích xem xét sự hiểu biết như thế nào, sự hiểu biết không đầy đủ và không chính xác trở thành đầy đủ và chính xác hơn như thế nào” [6, tr.117]
Như vậy có thể thấy, nhận thức là một quá trình biện chứng diễn ra rất phức tạp bao gồm nhiều giai đoạn, trình độ, vòng khâu và hình thức khác nhau Tuỳ theo tính chất nghiên cứu mà quá trình đó được phân chia thành nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính Nhận thức cảm tính (hay còn gọi là trực quan sinh động) là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức Nó được thể hiện ở ba hình thức cơ bản là cảm giác, tri giác và biểu tượng Xét về bản chất, lý luận là hệ thống những tri thức được khái quát từ thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, những tính quy luật của thế giới khách quan, lý luận được hình thành không phải nằm ngoài thực tiễn mà trong mối liên hệ với thực tiễn
1.2 Phạm trù thực tiễn
Theo C.Mác và Ph.Ăngghen “Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có
mục đích mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân con người” [1, tr.201].
Trang 5Hoạt động của con người bao gồm hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần Thực tiễn là hoạt động vật chất Hoạt động vật chất là những hoạt động
mà chủ thể sử dụng phương tiện vật chất tác động vào đối tượng vật chất nhất định nhằm cải tạo chúng theo nhu cầu của con người Con người sử dụng các phương tiện để tác động vào đối tượng theo những hình thức và mức độ khác nhau tuỳ thuộc mục đích của con người Kết quả của quá trình hoạt động thực tiễn là những sản phẩm thoả mãn nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần của cá nhân và cộng đồng
Hoạt động thực tiễn là hoạt động có tính năng động sáng tạo, là hoạt động được đối tượng hoá, là quá trình chuyển hoá cái tinh thần thành cái vật chất Bởi hoạt động thực tiễn là quá trình tương tác giữa chủ thể và khách thể trong đó chủ thể hướng vào việc cải tạo khách thể trên cơ sở đó nhận thức khách thể Vì vậy thực tiễn là khâu trung gian nối liền ý thức con người với thế giới bên ngoài Như vậy, hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất của con người Nếu động vật chỉ hoạt động theo bản năng nhằm thích nghi một cách thụ động với thế giới bên ngoài thì con người nhờ vào thực tiễn như là hoạt động có mục đích, có tính xã hội của mình để cải tạo thế giới nhằm thoả mãn nhu cầu mình thích nghi một cách chủ động tích cực với thế giới và làm chủ thế giới Để thoả mãn nhu cầu của mình con người phải tiến hành sản xuất ra của cải vật chất để nuôi sống mình và nhờ đó con người tạo nên những vật phẩm vốn không có sẵn trong tự nhiên Như vậy, không có hoạt động thưc tiễn con người và xã hội không thể tồn tại và phát triển được
Vì vậy có thể nói: Thực tiễn là phương thức tồn tại cơ bản của con người
và xã hội, là phương thức đầu tiên và chủ yếu của mối quan hệ giữa con người và thế giới Mỗi hoạt động của con người đều mang tính lịch sử cụ thể
Nó chỉ diễn ra trong một giai đoạn nhất định nào đó Nó có quá trình hình thành phát triển và kết thúc hoặc chuyển hoá sang giai đoạn khác, không có
Trang 6hoạt động thực tiễn nào tồn tại vĩnh viễn Mặt khác, hoạt động thực tiễn chịu
sự chi phối của mỗi giai đoạn lịch sử cả về đối tuợng, phương tiện cũng như mục đích hoạt động
Hoạt động thực tiễn rất phong phú đa dạng, song có thể chia làm ba hình thức cơ bản là hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị - xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học Ngoài các hoạt động thực tiễn cơ bản nêu trên, còn có các hoạt động phát sinh trong các lĩnh vực đạo đức, nghệ thuật, y tế, giáo dục,… các loại hoạt động này nảy sinh trong quá trình phát triển của lịch
sử xã hội loài người, có tác dụng bổ sung làm phong phú thêm những dạng hoạt động thực tiễn của con người
1.3 Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
Được thể hiện bằng mối quan hệ giữa nhận thức và thực tiễn Giữa lý luận và thực tiễn thống nhất biện chứng với nhau Sự thống nhất đó bắt nguồn
từ chỗ: chúng đều là hoạt động của con người, đều nhằm mục đích cải tạo tự nhiên và cải tạo xã hội để thoả mãn nhu cầu của con người
Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn thể hiện:
* Lý luận bắt nguồn từ thực tiễn
Lý luận dựa trên nhu cầu của thực tiễn và lấy được chất liệu của thực tiễn Thực tiễn là hoạt động cơ bản nhất của con người, quyết định sự tồn tại
và phát triển xã hội Lý luận không có mục đích tự nó mà mục đích cuối cùng
là phục vụ thực tiễn Sức sống của lý luận chính là luôn luôn gắn liền với thực tiễn, phục vụ cho yêu cầu của thực tiến
* Lý luận mở đường và hướng dẫn hoạt động của thực tiễn
Ví dụ: lý luận Mác - Lênin hướng dẫn con đường đấu tranh của giai cấp
vô sản Sự thành công hay thất bại của hoạt động thực tiễn là tuỳ thuộc vào nó được hướng dẫn bởi lý luận nào, có khoa học hay không? Sự phát triển của lý luận là do yêu cầu của thực tiễn, điều đó cũng nói lên thực tiễn không tách rời
lý luận, không thể thiếu sự hướng dẫn của lý luận
Trang 7Vai trò của lý luận khoa học là ở chỗ: nó đưa lại cho thực tiễn các tri thức đúng đắn về các quy luật vận động, phát triển của hiện thực khách quan,
từ đó mới có cơ sở để định ra mục tiêu và phương pháp đúng đắn cho hoạt động thực tiễn Quan hệ lý luận và thực tiễn mang tính chất phức tạp, quan hệ
đó có thể là thống nhất hoặc mâu thuẫn đối lập
* Lý luận và thực tiễn là thống nhất
Lý luận và thực tiễn thống nhất khi giai cấp thống trị còn mang tinh thần tiến bộ và còn giữ sứ mệnh lịch sử Khi lý luận và thực tiễn thống nhất thì chúng sẽ tăng cường lẫn nhau và phát huy vai trò của nhau Sự thống nhất đó
là một trong những nguyên lý căn bản của triết học Mác - Lênin
Thực tiễn không có lý luận hướng đẫn thì thành thực tiễn mù quáng Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông Vì vậy cho nên trong khi nhấn mạnh sự quan trọng của lý luận, đã nhiều lần V.I.Lênin nhắc đi nhắc lại rằng lý luận cách mạng không phải là giáo điều, nó là kim chỉ nang cho hành động cách mạng, và lý luận không phải là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính sáng tạo Lý luận luôn luôn cần được bổ sung bằng những kết luận mới rút ra
từ trong thực tiễn sinh động
Vai trò của thực tiễn đối với lý luận: Thực tiễn là cơ sở, là động lực, là
mục đích và tiêu chuẩn của lý luận, lý luận hình thành, phát triển phải xuất phát từ thực tiễn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn Thực tiễn là cơ sở của lý luận Xét một cách trực tiếp, những tri thức được khái quát thành lý luận là kết quả của quá trình hoạt động thực tiễn của con người Thông qua kết quả hoạt động thực tiễn, kể cả thành công cũng như thất bại, con người phân tích cấu trúc, tính chất và các mối quan hệ của các yếu tố, các điều kiện trong các hình thức thực tiễn để hình thành lý luận Qúa trình hoạt động thực tiễn còn là cơ sở để
bổ sung và điều chỉnh những lý luận đã đựơc khái quát Mặt khác, hoạt động thực tiễn của con người làm nảy sinh những vấn đề mới đòi hỏi quá trình
Trang 8nhận thức phải tiếp tục giải quyết Thông qua đó, lý luận được bổ sung, mở rộng Chính vì vậy, V.I.Lênin nói: “Nhận thức lý luận phải trình bày khách thể trong tính tất yếu của nó, trong những quan hệ toàn diện của nó, trong sự vận động mâu thuẫn của nó, tự nó và vì nó” [7, tr.527]
Thực tiễn là động lực của lý luận Hoạt động của con người không chỉ là nguồn gốc để hoàn thiện các cá nhân mà còn góp phần hoàn thiện các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội Lý luận được vận dụng làm phương pháp cho hoạt động Thực tiễn, mang lại lợi ích cho con người càng kích thích con người tích cực bám sát thực tiễn để khái quát lý luận Quá trình
đó diễn ra không ngừng trong sự tồn tại của con người, làm cho lý luận ngày càng đầy đủ, phong phú và sâu sắc hơn Nhờ vậy hoạt động con người không
bị hạn chế trong không gian và thời gian Thông qua đó, thực tiễn đã thúc đẩy một ngành khoa học mới ra đời - khoa học lý luận
Thực tiễn là mục đích của lý luận Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận Tính chân lý của lý luận chính là sự phù hợp của lý luận với hiện thực khách quan và được thực tiễn kiểm nghiệm, là giá trị phương pháp của lý luận đối với hoạt động thực tiễn của con người Do đó, mọi lý luận phải thông qua thực tiễn để kiểm nghiệm Chính vì thế mà C.Mác nói: “vấn đề tìm hiểu tư duy của con người có thể đạt đến chân lý khách quan không hoàn toàn không phải
là vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý” [2, tr.210] Thông qua thực tiễn những lý luận đạt đến chân lý sẽ được bổ sung vào kho tàng tri thức nhân loại; những kết luận chưa phù hợp thực tiễn thì tiếp tục điều chỉnh bổ sung hoặc nhận thức lại giá trị của lý luận nhất thiết phải được chứng minh trong hoạt động thực tiễn
Vai trò của lý luận đối với thực tiễn: Thực tiễn chỉ đạo lý luận, ngược lại
lý luận phải được vận dụng vào thực tiễn, tiếp tục bổ sung và phát triển trong
Trang 9thực tiễn C.Mác đã từng nói, người thợ xây không bao giờ tinh xảo như con ong xây tổ nhưng người thợ xây hơn hẳn con ong ở chỗ, trước khi xây dựng một công trình họ đã hình thành được hình tượng của công trình ấy trong đầu
họ Tức là hoạt động của con người là hoạt động có ý thức Ban đầu hoạt động của con người chưa có lý luận chỉ đạo, song con người phải hoạt động
để đáp ứng nhu cầu tồn tại của mình Thông qua đó, con người khái quát thành lý luận Từ đó những hoạt động của con người muốn có hiệu quả nhất thiết phải có lý luận soi đường hoạt động thực tiễn của con người mới trở thàng tự giác, có hiệu quả và đạt được mục đích mong muốn
Lý luận đóng vai trò soi đường cho thực tiễn vì lý luận có khả năng định hướng mục tiêu xác định lực lượng biện pháp thực hiện Lý luận còn dự báo được khả năng phát triển cũng như các mối quan hệ của thực tiễn, dự báo được những rủi ro có thể xảy ra, những hạn chế những thất bại có thế có trong quá trình hoạt động Như vậy lý luận không chỉ giúp con người hoạt động hiệu quả mà còn là cơ sở để khắc phục những hạn chế và tăng năng lực hoạt động của con người Mặt khác lý luận còn có vai trò giác ngộ mục tiêu, lý tưởng liên kết các cá nhân thành cộng đồng, tạo thành sức mạnh to lớn của quần chúng trong cải taọ tự nhiên và cải tạo xã hội Chính vì vậy, C.Mác đã khẳng định “vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ lực lượng vật chất, nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng” [3, tr.180]
Lý luận hình thành là kết quả của nhận thức lâu dài và khó khăn của con người trên cơ sở hoạt động thực tiễn Hoạt động thực tiễn tuy đa dạng phong phú nhưng không phải không có tính quy luật Tính quy luật của thực tiễn được khái quát dưới hình thức lý luận Mục đích của lý luận không chỉ là
Trang 10phương pháp mà còn là định hướng cho hoạt động thực tiễn Đó là định hướng mục tiêu, biện pháp sử dụng lực lượng, định hướng giải quyết các mối quan hệ trong hoạt động thực tiễn Không những thế, lý luận còn định hướng
mô hình của hoạt động thực tiễn Vận dụng lý luận vào hoạt động thực tiễn, trước hết từ lý luận để xây dựng mô hình thực tiễn theo những mục đích khác nhau của quá trình hoạt động, dự báo các diễn biến, các mối quan hệ lực lượng tiến hành và những phát sinh của nó trong quá trình phát triển để phát huy các nhân tố tích cực, hạn chế những yếu tố tiêu cực nhằm đạt kết quả cao hơn
Chương 2 SỰ VẬN DỤNG Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA NGUYÊN TẮC NÀY TRONG CUỘC SỐNG, HỌC TẬP CỦA BẢN THÂN SINH VIÊN VÀ TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Sự vận dụng ý nghĩa phương pháp luận của nguyên tắc này trong cuộc sống, học tập của bản thân sinh viên
Trong quá trình học tập, sinh viên phải nắm vững mục tiêu, yêu cầu và nhiệm vụ giáo dục, đào tạo, có động cơ học tập đúng đắn; tham gia một cách chủ động, tích cực vào mọi khâu của quá trình giáo dục, đào tạo Để nâng cao chất lượng tự học môn Triết học Mác - Lênin của sinh viên, bên cạnh những kinh nghiệm của mỗi cá nhân thì cần có những buổi trao đổi nhóm, những buổi tọa đàm về các nhóm đề tài, chuyên đề, phương pháp tự học khoa học, từ
đó mỗi sinh viên vận dụng, học tập nâng cao chất lượng tự học nhằm đạt kết quả và chất lượng cao Cụ thể là: Thường xuyên ôn luyện kiến thức bài học
cũ, chuẩn bị tốt nội dung bài học mới Tập trung chú ý nghe giảng, truyền cảm hứng cho từng bài học Tăng cường trao đổi, thảo luận, học tập nhóm về nội dung bài học và những vấn đề lý luận hoặc thực tiễn liên quan Chú trọng đọc sách và tài liệu tham khảo, thường xuyên liên hệ lý luận với thực tiễn Thi