Trong khi chủnghĩ duy tâm quan niệm bản chất của thế giới, cơ sở đầu tiên của mọi tồn tại là mộtbản nguyên tinh thần, còn phần vật chất chỉ là sản phẩm của bản nguyên tinh thần ấy thì ch
Trang 1TIỂU LUẬN HỌC PHẦN TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
CHỦ ĐỀ: QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
SỰ VẬN DỤNG Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA MỐI QUAN HỆ NÀY TRONG CUỘC SỐNG, HỌC TẬP CỦA BẢN THÂN SINH VIÊN VÀ TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
Họ và tên: Nguyễn Hà Anh Lân MSSV: 47.01.301.056
Mã lớp HP: 2111POLI200123 Giảng viên giảng dạy: ThS Nguyễn Huỳnh Bích Phương
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2022
Trang 2Kết quả trình bày trong tiểu luận là trung thực Các trích dẫn về bảng biểu, kếtquả nghiên cứu của những tác giả khác; tài liệu tham khảo trong tiểu luận đều cónguồn gốc rõ ràng và theo đúng quy định.
TP Hồ Chí Minh, ngày 26 tháng 01 năm 202
SINH VIÊN THỰC HIỆN
Nguyễn Hà Anh Lân
Trang 31.1 Vật chất 1
1.2 Ý thức 4
2 Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức 7
3 Ý nghĩa phương pháp luận 9
4 Liên hệ thực tiễn 11
4.1 Trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay 12
4.2 Trong cuộc sống, học tập của bản thân sinh viên 15
KẾT LUẬN 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
Trang 4MỞ ĐẦU
Triết học cũng như những khoa học khác phải giải quyết rất nhiều vấn đề liênquan với nhau, trong đó vấn đề cực kỳ quan trọng là nền tảng và là điểm xuất phát
để giải quyết những vấn đề cơ bản còn lại được gọi là vấn đề cơ bản của triết học
Theo Ăngghen: “Vấn đề cơ bản lớn của triết học, đặc biệt là triết học hiện đại, là
vấn đề giữa tư duy với tồn tại” Từ đây, ta thấy được tầm quan trọng của việc tìm
hiểu khái niệm và mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức – hai phạm trùcăn bản nhất, quan trọng nhất của triết học Bên cạnh đó, thông qua việc tìm hiểu vềvật chất và ý thức, chúng ta sẽ rút ra được những phương pháp luận, những bài họcsâu sắc không chỉ trong lý luận mà còn mang ý nghĩa thực tiễn quý giá
1 Khái niệm về vật chất và ý thức
1.1 Vật chất
Vật chất với tư cách là phạm trù triết học đã có lịch sử phát triển trên 2500năm Ngay từ thời cổ đại, xung quanh phạm trù vật chất đã diễn ra cuộc đấu tranhkhông khoan nhượng giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Trong khi chủnghĩ duy tâm quan niệm bản chất của thế giới, cơ sở đầu tiên của mọi tồn tại là mộtbản nguyên tinh thần, còn phần vật chất chỉ là sản phẩm của bản nguyên tinh thần
ấy thì chủ nghĩa duy vật quan niệm: bản chất của thế giới, thực thể của thế giới làvật chất – cái tồn tại vĩnh viễn, tạo nên mọi sự vật, hiện tượng cùng với những thuộctính của chúng
Quan điểm về vật chất của các nhà triết học duy vật trước Mác đã đặt nềnmóng cho khuynh hướng lấy bản thân giới tự nhiên để giải thích về giới tự nhiênnhưng nó cũng bộc lộ nhiều hạn chế, như: đồng nhất vật chất với vật thể, khônghiểu bản chất của ý thức cũng như mối qaun hệ giữa ý thức và vật chất; không tìm
Trang 5được cơ sở để xác định những biểu hiện của vật chất trong đời sống xã hội nên cũngkhông có cơ sở để đứng trên quan điểm duy vật giải quyết các vấn đề xã hội, v.v Những hạn chế đó tất yếu dẫn đến quan điểm duy vật không triệt để: khi giải quyếtnhững vấn đề về giới tự nhiên, các nhà duy vật đứng trên quan điểm duy vật, nhưngkhi giải quyết những vấn đề xã hội họ đã “trượt” sang quan điểm duy tâm
Sự phát triển của khoa học tự nhiên cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, đặc biệt lànhững phát hiện của Rơnghen về tia X (1895), Béccơren về hiện tượng phóng xạcủa nguyên tố Uranni (1896), Tômxơn về điện tử (1897), v.v đã bác bỏ quan điểmcủa các nhà duy vật về những chất được coi là “giới hạn tột cùng”, từ đó dẫn tớicuộc khủng hoảng về thế giới quan trong lĩnh vực nghiên cứu vật lý học Nhữngngười theo chủ nghĩa duy tâm đã lợi dụng cơ hội này để khẳng định bản chất “phivật chất” của thế giới, khẳng định vai trò của lực lượng siêu nhiên đối với quá trìnhsáng tạo ra thế giới
Trong bối cảnh lịch sử đó, để chống sự xuyên tạc của các nhà triết học duytâm, bảo vệ và phát triển thế giới quan duy vật, V.I Lênin đã tổng kết những thànhtựu khoa học tự nhiên cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, đồng thời kế thừa tư tưởng
của C Mác và Ph Ăngghen để đưa ra định nghĩa về vật chất: “Vật chất là một
phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” Đây là một định nghĩa hoàn chỉnh về vật chất mà
cho đến nay được các nhà khoa học hiện đại coi là một định nghĩa kinh điển
Định nghĩa về vật chất của V.I Lênin bao hàm các nội dung cơ bản sau đây:
Thử nhất, cần phân biệt khái niệm “vật chất” với tư cách là phạm trù triếthọc (phạm trù khái quát thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất của mọi tồn tại vậtchất và được xác định từ góc độ giải quyết vấn đề cơ bản của triết học) với kháiniệm “vật chất” được sử dụng trong các khoa học chuyên ngành (khái niệm dùng đểchỉ những dạng vật chất cụ thể, cảm tính)
Trang 6Thứ hai, thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất của mọi dạng vật chất làthuộc tính tồn tại khách quan, tức tồn tại ngoài ý thức, độc lập, không phụ thuộc vào
ý thức của con người, cho dù con người có nhận thức được hay không nhận thứcđược nó Vật chất là hiện thực chứ không phải hư vô và hiện thực này mang tínhkhách quan Mọi sự vật, hiện tượng từ vi mô đến vĩ mô, từ những cái đã biết đếnnhững cái chưa biết, từ những sự vật “đơn giản nhất” đến những hiện tượng vô cùng
“kỳ lạ”, dù tồn tại trong tự nhiên hay trong xã hội cũng đều thuộc phạm trù vật chất,đều là các dạng cụ thể của vật chất Phạm trù vật chất khái quát cái chung về mặttồn tại của mọi cái riêng với tính cách là các dạng cụ thể của vật chất
Thứ ba, vật chất, dưới những dạng cụ thể của nó là cái có thể gây nên cảmgiác ở con người khi nó trực tiếp hay gián tiếp tác động đến giác quan của conngười, hay có thể nói, vật chất là cái mà khi tác động vào các giác quan con ngườithì đem lại cho con người cảm giác
Thứ tư, ý thức của con người là sự phản ánh đối với vật chất, vật chất là cáiđược ý thức phản ánh Chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất, theo quyluật vốn có của nó mà đến một thời điểm nhất định sẽ cùng một lúc tồn tại hai hiệntượng – hiện tượng vật chất và hiện tượng tinh thần Hiện tượng vật chất tồn tạikhách quan, không lệ thuộc vào hiện tượng tinh thần Hiện tượng tinh thần luônluôn có nguồn gốc từ các hiện tượng vật chất và những gì có được trong các hiệntượng tinh thần ấy chẳng qua cũng chỉ là chép lại, chụp lại, phản ánh thế giới kháchquan
Định nghĩa về vật chất của V.I Lênin có ý nghĩa quan trọng đối với sự pháttriển của chủ nghĩa duy vật và nhận thức khoa học:
Một là, bằng việc tìm ra thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất của vật chất
là tính tồn tại khách quan, V.I Lênin đã phân biệt sự khác nhau cơ bản giữa kháiniệm vật chất với tư cách là phạm trù triết học với khái niệm vật chất với tư cách làphạm trù của các khoa học chuyên ngành, từ đó khắc phục được hạn chế trong quan
Trang 7niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật cũ; cung cấp căn cứ nhận thức khoa học đểxác định những gì thuộc về vật chất; tạo lập cơ sở lý luận cho việc xây dựng quanđiểm duy vật về lịch sử, khắc phục được những hạn chế duy tâm trong quan niệm
về xã hội
Hai là, khi khẳng định vật chất là “thực tại khách quan”, “được đem lại chocon người trong cảm giác” và “được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phảnánh, V.I Lênin không những đã khẳng định tính thứ nhất của vật chất, tính thứ haicủa ý thức theo quan điểm duy vật mà còn khẳng định khả năng con người có thểnhận thức được thực tại khách quan thông qua sự “chép lại, chụp lại, phản ánh” củacon người đối với thực tại khách quan
1.2 Ý thức
Nguồn gốc của ý thức
Theo quan điểm duy vật biện chứng, ý thức có nguồn gốc tự nhiên và nguồngốc xã hội
- Nguồn gốc tự nhiên của ý thức: có nhiều yếu tố cấu thành nguồn gốc tự
nhiên của ý thức; trong đó, hai yếu tố cơ bản nhất là bộ óc người và mối quan hệgiữa con người với thế giới khách quan tạo nên hiện tượng phản ánh năng động,sáng tạo
+ Về bộ óc người: ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao
là bộ óc người, là chức năng của bộ óc, là kết quả hoạt động sinh lý thần kinh của
bộ óc Bộ óc càng hoàn thiện, hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc càng có hiệuquả, ý thức của con người càng phong phú và sâu sắc
+ Về mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan tạo nên hiệntượng phản ánh năng động, sáng tạo: quan hệ giữa con người với thế giới kháchquan là quan hệ tất yếu ngay từ khi con người xuất hiện Trong mối quan hệ này,
Trang 8thế giới khách quan được phản ánh thông qua hoạt động của các giác quan đã tácđộng đến bộ óc người, hình thành nên ý thức.
+ Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của dạng vật chất này ở dạng vậtchất khác trong quá trình tác động qua lại lẫn nhau với chúng Phản ánh là thuộctính của tất cả dạng vật chất, song phản ánh được thể hiện dưới nhiều hình thức,trình độ: phản ánh vật lý, hoá học; phản ánh sinh học; phản ánh tâm lý và phản ánhnăng động, sáng tạo Những hình thức này tương ứng với quá trình tiến hoá của cácdạng vật chất tự nhiên
- Nguồn gốc xã hội của ý thức: có nhiều yếu tố cấu thành nguồn gốc xã hội
của ý thức; trong đó, cơ bản nhất và trực tiếp nhất là lao động và ngôn ngữ
+ Lao động là quá trình con người tác động vào giới tự nhiên nhằm tạo rasản phẩm phục vụ cho nhu cầu tồn tại và phát triển của mình Lao động cũng là quátrình vừa làm thay đổi cấu trúc cơ thể người, vừa làm giới tự nhiên bộc lộ nhữngthuộc tính, những kết cấu, những quy luật vận động, v.v của nó qua những hiệntượng mà con người có thể quan sát được Những hiện tượng ấy, thông qua hoạtđộng của các giác quan, tác động đến bộ óc người và bằng hoạt động của bộ óc, trithức nói riêng, ý thức nói chung về thế giới khách quan hình thành và phát triển
+ Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất chứa đựng thông tin mang nộidung ý thức Không có ngôn ngữ, ý thức không thể tồn tại và thể hiện Mối quan hệgiữa các thành viên trong quá trình lao động làm nảy sinh ở họ nhu cầu phải cóphương tiện để giao tiếp, trao đổi tư tưởng Nhu cầu này làm ngôn ngữ nảy sinh vàphát triển ngay trong quá trình lao động Nhờ ngôn ngữ, con người đã không chỉgiao tiếp, trao đổi mà còn khái quát, tổng kết, đúc kết thực tiễn, truyền đạt kinhnghiệm, truyền đạt tư tưởng từ thế hệ này sang thế hệ khác
Như vậy, nguồn gốc cơ bản, trực tiếp và quan trọng nhất quyết định sự ra đời
và phát triển của ý thức và lao động Sau lao động và đồng thời với lao động là
Trang 9ngôn ngữ; đó là hai sức kích thích chủ yếu đã ảnh hưởng đến bộ óc của con vượn,
đã làm cho bộ óc đó dần dần biến chuyển thành bộ óc của con người, khiến cho tâm
đã có, nó có thể tạo ra những thông tin mới và phát hiện ý nghĩa của thông tin đượctiếp nhận, từ đó con người nắm bắt được bản chất và quy luật của hiện thực kháchquan Tính chất năng động, sáng tạo của sự phản ánh còn được thể hiện ở quá trìnhcon người tạo ra những ý tưởng, giả thuyết, huyền thoại, v.v trong đời sống tinhthần của mình hoặc khái quát bản chất, quy luật khách quan, xây dựng các mô hình
tư tưởng, tri thức trong các hoạt động của con người Cho dù tồn tại dưới dạng nàothì ý tưởng cũng phải dựa trên những tiền đề vật chất nhất định
Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Điều đó thể hiện ở chỗ:
Ý thức là hình ảnh về thế giới khách quan, bị thế giới khách quan quy định cả vềnội dung và về hình thức biểu hiện, nhưng nó không còn y nguyên như thế giớikhách quan mà nó đã cải biến thông qua lăng kính chủ quan (tâm tư, tình cảm,nguyện vọng, kinh nghiệm, tri thức, nhu cầu, v.v.) của con người Theo C Mác, ý
thức “chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và
được cải biến đi trong đó” Hay Ph Ăngghen đã từng chỉ rõ tính chất biện chứng
phức tạp của quá trình phản ánh: “Trên thực tế, bất kỳ phản ánh nào của hệ thống
thế giới vào trong tư tưởng cũng đều bị hạn chế về mặt khách quan bởi những điều kiện lịch sử, và về mặt chủ quan bởi đặc điểm về thể chất và tinh thần của tác giả”.
Trang 10Ý thức là một hiện tượng xã hội và mang bản chất xã hội Sự ra đời và tồn tạicủa ý thức gắn liền với hoạt động thực tiễn, chịu sự chi phối không chỉ của các quyluật tự nhiên mà còn (chủ yếu là) của các quy luật xã hội; được quy định bởi nhucầu giao tiếp xã hội và các điều kiện sinh hoạt hiện thực của đời sống xã hội Vớitính năng động, ý thức đã sáng tạo lại hiện thực theo nhu cầu của thực tiễn xã hội.Chính bản chất xã hội của ý thức là tiêu chuẩn cơ bản để phân biệt ý thức của conngười và tâm lý của động vật Đồng thời, là cơ sở để chống lại một quan điểm sailầm cho rằng, trong tương lai con người sẽ tạo ra những thế hệ người máy có ý thứcnhư ý thức của con người.
Từ kết quả nghiên cứu nguồn gốc và bản chất của ý thức cho thấy: ý thức làhình thức phản ánh cao nhất riêng có của óc con người về hiện thực khách quan trên
cơ sở thực tiễn xã hội – lịch sử Thực chất, ý thức chỉ là thuộc tính phản ánh củamột dạng vật chất đặc biệt là bộ óc người; nói cách khác, chỉ có con người mới có ýthức Loài người xuất hiện là kết quả của lịch sử vận động, phát triển lâu dài của thếgiới vật chất Cấu trúc hoàn thiện của bộ óc người là nền tảng vật chất, hoạt độngthực tiễn và đời sống xã hội phong phú là động lực, để ý thức được hình thành vàphát triển Sáng tạo là thuộc tính đặc trưng bản chất nhất của ý thức Sức sáng tạocủa ý thức trong tinh thần và sức sáng tạo của con người trong thực tiễn khác nhau
về bản chất nhưng chỉ là những biểu hiện khác nhau của năng lực sáng tạo, khẳngđịnh sức mạnh của con người trong nhận thức và cải tạo thế giới
2 Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là mối quan hệ biện chứng Trong mốiquan hệ này, vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức,quyết định ý thức; song ý thức không hoàn toàn thụ động mà nó có thể tác động trởlại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người
- Vật chất quyết định ý thức
Trang 11Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: Vật chất có trước, ý thức có sau,vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức vì:
Thứ nhất, vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức Con người do giới tựnhiên, vật chất sinh ra, cho nên lẽ tất nhiên, ý thức – một thuộc tính của bộ phận conngười – cũng do giới tự nhiên, vật chất sinh ra Vật chất tồn tại khách quan, độc lậpvới ý thức và là nguồn gốc sinh ra ý thức Sự vận động của thế giới vật chất là yếu
tố quyết định sự ra đời của cái vật chất có tư duy là bộ óc người
Thứ hai, vật chất quyết định nội dung của ý thức Ý thức dưới mọi hìnhthức đều là phản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu óc con người Sự pháttriển của hoạt dộng thực tiễn cả về bề rộng và chiều sâu là động lực mạnh mẽ nhấtquyết định tính phong phú và độ sâu sắc của nội dung của tư duy, ý thức con ngườiqua các thế hệ, qua các thời đại từ mông muội tới văn minh, hiện đại
Thứ ba, vật chất quyết định bản chất của ý thức Phản ánh và sáng tạo là haithuộc tính không tách rời trong bản chất của ý thức Nhưng là sự phản ánh tích cực,
tự giác, sáng tạo thông qua thực tiễn chứ không chỉ là “soi gương”, “chụp ảnh” hay
“phản ánh tâm lý” như con vật
Thứ tư, vật chất quyết định sự vận động, phát triển của ý thức Mọi sự tồntại phát triển của ý thức đều gắn liền với quá trình biến đổi của vật chất; vật chấtthay đổi thì sớm hay muộn, ý thức cũng phải thay đổi theo Con người – một sinhvật có tính xã hội ngày càng phát triển cả về thể chất và tinh thần, thì dĩ nhiên ýthức – một hình thức phản ánh của óc người cũng phát triển cả về nội dung và hìnhthức phản ánh của nó
- Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất
Trong mối quan hệ với vật chất, ý thức có thể tác động trở lại vật chất thôngqua hoạt động thực tiễn của con người
Trang 12Thứ nhất, tính độc lập tương đối của ý thức thể hiện ở chỗ, ý thức là sựphản ánh thế giới vật chất vào trong đầu óc con người, do vật chất sinh ra, nhưngkhi đã ra đời thì ý thức có “đời sống” riêng, có quy luật vận động, phát triển riêng,không lệ thuộc một cách máy móc vào vật chất Ý thức một khi ra đời thì có tínhđộc lập tương đối, tác động trở lại thế giới vật chất ý thức có thể thay đổi nhanh,chậm, đi song hành so với hiện thực, nhưng nhìn chung nó thường thay đổi chậm sovới sự biến đổi của thế giới vật chất.
Thứ hai, sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt độngthực tiễn của con người Nhờ hoạt động thực tiễn, ý thức có thể làm biến đổi nhữngđiều kiện, hoàn cảnh vật chất, thậm chí còn tạo ra “thiên nhiên thứ hai” phục vụ chocuộc sống của con người Nhờ những tri thức về thế giới và quy luật khách quan,con người đề ra mục tiêu, phương hướng, biện pháp và ý chí quyết tâm để thực hiệnthắng lợi mục tiêu đã xác định, mà đặc biệt nhất là ý thức tiến bộ và cách mạng
Thứ ba, ý thức thể hiện vai trò của mình thông qua việc nó chỉ đạo hoạtđộng, hành động của con người, nó có thể quyết định làm cho hoạt động của conngười đúng hay sai, thành công hay thất bại Khi phản ánh đúng hiện thực, ý thức
có thể dự báo, tiên đoán một cách chính xác cho hiện thực, có thể hình thành nênnhững lý luận định hướng đúng đắn và những lý luận này được đưa vào quần chúng
sẽ góp phần động viên, cổ vũ, khai thác mọi tiềm năng sáng tạo, từ đó sức mạnh vậtchất được nhân lên gấp bội
Thứ tư, xã hội càng phát triển thì vai trò của ý thức càng to lớn, nhất làtrong thời đại ngày nay, thời đại thông tin, kinh tế tri thức, thời đại của cuộc cáchmạng khoa học và công nghệ hiện đại, khi mà tri thức khoa học đã trở thành lựclượng sản xuất trực tiếp Trong bối cảnh toàn cầu hoá, vai trò của tri thức khoa học,của tư tưởng chính trị, tư tưởng nhân văn là hết sức quan trọng
3 Ý nghĩa phương pháp luận