Trong lịch sử tư tưởng nhân loại đã có nhiều quan điểm khác nhau xung quanh vấn đề nguồn gốc và bản chất của con người. Trước C.Mác, vấn đề bản chất con người chưa được giải đáp một cách khoa học. Chỉ đến khi hình thành quan niệm duy vật lịch sử về con người, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã khẳng định vai trò cải tạo thế giới, làm nên lịch sử của con người. Điều đó đã được thể hiện trong Luận cương về Phoiơbăc, C.Mác viết: “Bản chất con người không phải là cái trừu tượng cố hữu của những cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà của những quan hệ xã hội” .
Trang 1MỞ ĐẦU
Trong lịch sử tư tưởng nhân loại đã có nhiều quan điểm khác nhau xungquanh vấn đề nguồn gốc và bản chất của con người Trước C.Mác, vấn đề bảnchất con người chưa được giải đáp một cách khoa học Chỉ đến khi hình thànhquan niệm duy vật lịch sử về con người, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đãkhẳng định vai trò cải tạo thế giới, làm nên lịch sử của con người Điều đó đã
được thể hiện trong Luận cương về Phoiơbăc, C.Mác viết: “Bản chất con người
không phải là cái trừu tượng cố hữu của những cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà của những quan hệ xã hội”1
Ở Việt Nam, qua các kỳ đại hội đến nay Đảng, Nhà nước ta luôn xác địnhxây dựng và phát triển con người là một trong những nhiệm vụ quan trọng trongthời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam Muốn thoát khỏi tìnhtrạng nghèo nàn, lạc hậu, nâng cao đời sống nhân dân thì không còn conđường nào khác là chúng ta phải chăm lo xây dựng và phát triển nguồn lực conngười, nhất là trong thời đại ngày nay khi nền kinh tế tri thức đang phát triểnmạnh mẽ, loài người bước sang thời kỳ cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (cáchmạng 4.0), do đó đòi hỏi yêu cầu cao hơn về xây dựng và phát triển con ngườiđáp ứng mọi điều kiện trong thời kỳ mới
Với mong muốn làm sáng rõ, sâu sắc hơn về luận điểm của C Mác về bảnchất con người, từ đó vận dụng vào quá trình xây dựng và phát triển con ngườiViệt Nam trong giai đoạn hiện nay Vì vậy tác giả lựa chọn đề tài tiểu luận:
Quan điểm triết học Mác - Lênin về con người, vận dụng quán triệt quan điểm của Đảng về phát triển văn hóa, con người ở nước ta hiện nay” Qua
tiểu luận góp phần khẳng định tính đúng đắn của quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin về bản chất con người từ đó rút ra cho mỗi cá nhân nhận thức sâu sắc hơn
-về quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước ta -về xây dựng vàphát triển con người Việt Nam, từ đó vận dụng vào quá trình xây dựng và pháttriển con người trong quân đội trong giai đoạn hiện nay
1 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.11.
Trang 2NỘI DUNG
I QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN VỀ CON NGƯỜI
1 Quan điểm triết học ngoài mácxít về con người
Trong lịch sử triết học đã có nhiều quan điểm khác nhau về con người,bản chất con người Đây là một trong những vấn đề quan trọng nhất của thế giới
từ trước tới nay và luôn được các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu phân tíchmột cách sâu sắc nhất Không những thế trong nhiều nghiên cứu của xã hội xưa
và nay thì nghiên cứu về con người là một trung tâm được các nhà khoa học cổđại đặc biệt chú ý Từ các lĩnh vực tâm lý học, sinh học, y học, đến triết học, xãhội học.v.v đã quan tâm đến con người và không ngừng nghiên cứu về nó.Mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó đều có ý nghĩa riêng đối với sự hiểu biết và tănghiểu biết cho con người Khi đề cập tới vấn đề con người các nhà triết học để tựhỏi: Thực chất con người là gì và để tìm cách trả lời câu hỏi đó phải giải quyếthàng loạt mâu thuẫn trong chính con người Càng ngày các nhà triết học tìm rađược bản chất của con người và không ngừng khắc phục, hoàn thiện lý luậntrước đó
a) Quan điểm triết học phương Đông
Triết học phương Đông quan niệm về con người trên cơ sở thế giới quanduy tâm, thần bí hoặc nhị nguyên luận, quan niệm con người là tiểu vũ trụ, giảiquyết quan hệ người - người là gốc để giải quyết các quan hệ khác Sức mạnhcủa con người được hướng vào cải tạo chính con người Tiêu biểu là trong triếthọc Phật giáo (Ấn độ) và Nho giáo, Đạo giáo (Trung Quốc)
* Phật giáo không thừa nhận đấng sáng thế (Brahmam) tạo ra con người,con người là sự kết hợp giữa sắc và danh (vật chất và tinh thần) Coi con ngườikhác con vật là có tâm và có thức Đời sống con người trên trần thế chỉ là ảogiác, hư vô; cuộc đời con người khi còn sống chỉ là sống gửi, là tạm bợ Cuộcsống vĩnh cửu là ở cõi Niết bàn, nơi tinh thần con người được giải thoát để trởthành bất diệt Tính người có hai thuộc tính: tính Phật và tính trần tục
Trang 3* Nho giáo thừa nhận có lực lượng siêu tự nhiên chi phối, quyết định sựtồn tại, vận động và phát triển của sự vật, của con người Theo Khổng Tử, Trời
là thuỷ tổ của con người, con người có số mệnh là do Trời quy định và mỗingười có định mệnh khác nhau, ông đưa ra chủ trương nhập thế “Tu thân, tề gia,trị quốc, bình thiên hạ” và tư tưởng “hữu giáo vô loại” Tìm bản chất con người
ở phương diện đạo đức Đồng thời, cho rằng con người khác con vật ở chỗ biếthợp quần Nho giáo đã xem xét con người trong các mối quan hệ xã hội, songhạn chế là không thấy được con người trong quan hệ kinh tế
* Đạo giáo: Lão Tử cho rằng “Đạo” là gốc của vạn vật, con người là do
“Đạo” sinh ra và ông khuyên răn con người sống “Vô vi”, “Vô kỷ” Con người
là một bộ phận của tự nhiên và thần bí hoá bản chất xã hội của con người
Mặc dù chưa tìm thấy được những quan hệ cốt lõi trong việc cải tạo conngười và xã hội loài người, nhưng những triết gia phương Đông cũng có nhữngcống hiến quan trọng trong các giải pháp cải tạo xã hội, con người về đạo đức,
về giáo dục, về nhân sinh quan Song, do trình độ khoa học còn hạn chế mà cácquan điểm đó chưa được lý giải đầy đủ và sâu sắc
b) Quan điểm triết học phương Tây
* Quan điểm duy tâm và tôn giáo: con người là do thần thánh, do lựclượng siêu nhiên tạo ra, cuộc sống của con người là do Trời, thần sắp đặt, an bài
- Quan điểm duy tâm: Platôn cho rằng, con người được cấu thành từ thểxác và linh hồn, thể xác chỉ là chỗ trú ngụ tạm thời của linh hồn G.V.Ph.Hêghencho rằng, mọi sự vật hiện tượng xung quanh ta, từ những sự vật tự nhiên cho đếnnhững sản phẩm hoạt động của con người chỉ là hiện thân của “thần tuyệt đối”.Con người là sản phẩm và cũng là giai đoạn phát triển cao nhất của tinh thần tuyệtđối, hiện thân của “ý niệm tuyệt đối”, là bước cuối cùng của cuộc diễu hành của ýniệm tuyệt đối trên trái đất Pitago, mọi vật và con người có nguồn gốc từ con số.Con người có thể xác và linh hồn, trong đó linh hồn là bất tử Xôcrát cho rằng cóhai hạng người đối lập, trong đó chỉ có quý tộc là có đạo đức chân chính, còn nô
lệ không có đạo đức Aritxtốt cho rằng mọi sinh vật đều có linh hồn, thực vật có
Trang 4linh hồn thực vật; động vật có linh hồn cảm tính; con người có linh hồn lý tính Vịtrí linh hồn là ở trái tim Đặc biệt, với quan niệm con người là một động vật chínhtrị, ông đã đặt vấn đề nghiên cứu cả mặt tự nhiên và mặt xã hội của con người.
- Quan điểm tôn giáo: Theo Kitô giáo, con người do Chúa sáng tạo, conngười có thể xác và linh hồn Thể xác mất đi, linh hồn sẽ còn lại Thể xác vàlinh hồn đối lập nhau như cái thấp hèn và cái cao thượng Con người phải cứuvớt linh hồn của mình, phải chăm lo phần linh hồn cao quý Nhà thần họcÔguýtxtanh cho rằng Chúa là lực lượng siêu tự nhiên, định đoạt mọi số phận củacon người, ban phước hoặc trừng phạt con người Theo Tômát Đacanh, ChúaTrời sinh ra giới tự nhiên và con người, con người là hình ảnh của Chúa Linhhồn con người được tạo ra cùng với Chúa tạo ra con người Trật tự các sự vật doChúa sắp đặt là: Chúa Trời - thần thánh - con người - các sự vật không có linhhồn
* Quan điểm duy vật thời kỳ cổ đại: giải thích nguồn gốc, bản chất conngười theo quan điểm duy vật thô sơ, mộc mạc; cho con người là một bộ phậncấu thành của thế giới, là một bản nguyên vật chất xác định Đêmôcrít cho rằng,mọi sinh vật và con người đều cấu tạo từ nguyên tử, linh hồn con người cũng làvật chất, dược cấu tạo từ nguyên tử Sự khác nhau giữa con người và con vật là
ở chỗ trong cơ thể con người có nhiều nhiệt lượng hơn và các chất cấu thành nósạch sẽ hơn so với động vật
* Triết học cổ điển Đức:
- Các nhà triết học cổ điển đức, từ Cartơ đến Heghen đã phát triển quanđiểm triết học về con người theo hướng của chủ nghĩa duy tâm Đặc biệt Heghenquan niệm con người là hiện thân của ý niệm tuyệt đối là con người ý thức và do
đó đời sống con người chỉ được xem xét về mặt tinh thần Song Heghen cũng làngười đầu tiên thông qua việc xem xét cơ chế hoạt động của đời sống tinh thần
mà phát hiện ra quy luật về sự phát triển của đời sống tinh thần cá nhân Đồngthời Heghen cũng đã nghiên cứu bản chất quá trình tư duy khái quát các quy luật
cơ bản của quá trình đó
Trang 5- Sau khi đoạn tuyệt với chủ nghĩa duy tâm Heghen, L.Phoiơbắc đã phêphán tính siêu tự nhiên, phi thể xác trong quan niệm triết học Heghen, ông quanniệm con người là sản phẩm của tự nhiên, có bản năng tự nhiên, là con ngườisinh học trực quan, phụ thuộc vào hoàn cảnh, ông đã sử dụng thành tựu củakhoa học tự nhiên để chứng minh mối liên hệ không thể chia cắt của tư duy vớinhững quá trình vật chất diễn ra trong cơ thể con người, song khi giải thích conngười trong mối liên hệ cộng đồng thì ông lại rơi vào lập trường của chủ nghĩaduy tâm Theo L.Phoiơbắc, “Bản chất tuyệt đối và cao quý của con người như
nó vốn có và là mục đích cho sự tồn tại của nó nằm ở trong ý chí, tư duy và cảmxúc” Con người trong quan niệm của L.Phoiơbắc là con người tự nhiên, sinhvật, chung chung, trừu tượng, phi lịch sử, phi giai cấp
C.Mác đã nhận xét: “L.Phoiơbắc đã hòa tan bản chất tôn giáo vào bảnchất con người ở L.Phoiơbắc bản chất con người chỉ có thể được hiểu là
“loài”, là tính phổ biến nội tại, câm, gắn bó một cách thuần túy tự nhiên đôngđảo cá nhân lại với nhau”2
Các quan niệm triết học nói trên đã đi đến những cách thức lý luận xemxét người một cách trừu tượng Đó là kết quả của việc tuyệt đối hoá phần hồnthành con người trừu tượng Tự ý thức còn chủ nghĩa duy vật trực quan thì tuyệtđối hoá phần xác thành con người trừu tượng Sinh học, tuy nhiên họ vẫn cònnhiều hạn chế, các quan niệm nói trên đều chưa chú ý đầy đủ đến bản chất conngười Tuy nhiên, một số trường phái triết học vẫn đạt được những thành tựutrong việc phân tích, quan sát con người, đề cao lý tính, xác lập các giá trị vềnhân bản học để hướng con người tới tự do, nhất là cống hiến của L.Phoiơbắc
Đó là những tiền đề có ý nghĩa cho việc hình thành tư tưởng về con người củatriết học mácxít
c) Quan điểm triết học ngoài mácxít đương đại về con người
Các trào lưu triết học ngoài mácxít đương đại (chủ yếu là triết học phươngTây) đã có những cách giải thích khác nhau về con người, tuy có một số hạtnhân hợp lý nhưng xét đến cùng đều biện hộ cho lập trường của giai cấp tư sản
2 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.11.
Trang 6nên không tránh khỏi rơi vào chủ nghĩa duy tâm và phiến diện.
* Triết học nhân bản cho rằng, con người mang bản chất vĩnh viễn khôngbiến đổi trong lịch sử Họ quy bản chất con người về bản chất tự nhiên sinh học
- nhân bản của nó Do đó, tìm bản chất của con người không phải ở các quan hệ
xã hội của họ, mà là ở cái bản thể sinh học của họ, theo đó, lịch sử xã hội cũngkhông khác lịch sử sinh học - tự nhiên Thậm chí, họ còn coi con người là sinhvật tiêu cực, hoạt động của con người được quy về hoạt động thuần túy bảnnăng, kể cả hoạt động xã hội cũng chỉ là sinh hoạt bầy đàn nhằm bảo toàn cuộcsống sinh học như giá trị tối cao
* Chủ nghĩa hiện sinh cho rằng, con người như một chủ thể tưởng tượng
cô độc, bị tha hóa bởi chính sản phẩm họ làm ra Con người trong chủ nghĩahiện sinh sống không có niềm tin vào thế giới, vào tương lai và vào người khác.Bởi vì, theo triết học hiện sinh, khi giữa xã hội và cá nhân có liên hệ chặt chẽ thì
sự tồn tại của cá nhân sẽ không còn là cá nhân thực sự mà là cá nhân đã bị đốitượng hóa, bị mất cá tính do bị ràng buộc với người khác và với xã hội Để khôiphục sự hiện sinh của mình, con người cần thoát khỏi sự ràng buộc của nhữngngười khác và xã hội để được tự do Khi đã tự do tuyệt đối thì tự bản thân sửdụng cuộc đời của mình, đó là tự xác định bản chất của mình
* Chủ nghĩa thực chứng mới giải thích xã hội và con người bằng các luậnđiểm có tính chất tự nhiên chủ nghĩa Chủ nghĩa thực chứng mới trình bày conngười trong sự tha hóa nhưng không quan tâm đến truy tìm nguyên nhân và cáchthức giải quyết sự tha hóa Họ đề cao sự hiểu biết tùy tiện về con người và xãhội, xác định giá trị cho con người một cách hoàn toàn chủ quan, thực chất làmang tính chủ nghĩa cá nhân
* Chủ nghĩa Phơrớt coi bản năng tính dục của con người là cơ sở duy nhấtcho các hoạt động của con người, tức là hạ thấp con người xuống hàng động vật
ở mặt tâm lý Đây là điều hết sức sai lầm và không đúng với bản chất con người
Như vậy, trong suốt quá trình lịch sử lâu dài, việc con người tự nhận thức
về bản thân mình đã được nâng lên không ngừng, cùng với việc nhận thức tự
Trang 7nhiên và xã hội Các quan điểm trước Mác về con người chưa thoát khỏi quanđiểm vật siêu hình hoặc duy tâm thần bí Nhưng chúng ta cũng thấy rằng tronglịch sử, rất nhiều vấn đề về con người chưa được giải quyết một cách thoả đáng,căn bản và triệt để Loài người chỉ có thể tìm thấy câu trả lời xác đáng cho mọivấn đề về con người trong triết học Mác-Lênin.
2 Quan điểm của triết học Mác - Lênin về con người
a) Khái niệm con người
Trên cơ sở quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử xã hội và về conngười, triết học Mác – Lênin đã đem lại quan niệm hoàn chỉnh về con người.Theo quan điềm chung nhất, con người là thực thể sinh học xã hội
Con người là sinh vật có tính chất xã hội, vừa là sản phẩm cao nhất trongquá trình tiến hóa của tự nhiên và lịch sử xã hội, vừa là chủ thể sáng tạo mọithành tựu văn hóa trên Trái đất Triết học Mác – Lênin đã chỉ rõ tính hai mặt, haiyếu tố cơ bản cấu thành con người là mặt sinh học và mặt xẫ hội Con người cómặt tự nhiên, vật chất, nhục thể, sinh vật, tộc loại Đồng thời, con người có mặt
xã hội, tinh thần, ngôn ngữ, ý thức, tư duy, lao động, giao tiếp, đạo đức Hai mặt
đó hợp thành một hệ thống năng động, phức tạp, luôn luôn biến đối, phát triển
Về vai trò của con người, triết học Mác – Lênin khẳng định con người là chủ thểhoạt động thực tiễn Bằng hoạt động thực tiễn, con người sáng tạo ra mọi của cảivật chất, tinh thần, đồng thời sáng tạo ra cả bộ óc và tư duy của mình
b) Các phương diện tiếp cận nguồn gốc, bản chất con người
* Sự hình thành, phát triển con người là một quá trình gắn liền với lịch sửsản xuất vật chất
Triết học Mác Lênin xuất phát từ quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử
đã tiếp cận sự hình thành, phát triển con người trong lịch sử sản xuất vật chất, từ
đó khẳng định lao động là điều kiện chủ yếu quyết định sự hình thành, phát triểncủa con người Chính trong lao động, thông qua lao động mà con người biến đổiđiều kiện tự nhiên bên ngoài; làm biến đổi bản chất tự nhiên, cải tạo bản năngsinh học của con người; đồng thời, hình thành và phát triển những phẩm chất xã
Trang 8hội của mình.
Con người khác con vật ở chỗ, con vật sống dựa hoàn toàn vào tặng phẩmcủa tự nhiên, còn con người phải bằng lao động sản xuất để cải tạo tự nhiên,sáng tạo ra của cải vật chất, thoả mãn nhu cầu ngày càng phát triển của mình.Lịch sử sản xuất vật chất cũng là lịch sử con người cải tạo tự nhiên phù hợp vớinhu cầu tồn tại và phát triển của mình Mác khẳng định rằng nhờ sản xuất màgiới tự nhiên biểu hiện ra là tác phẩm của con người, làm cho tự nhiên “có tínhngười”, tự nhiên được “nhân loại hoá” Lịch sử phát triển của tự nhiên gắn bóhữu cơ với lịch sử phát triển của xã hội loài người Chính vì vậy, Mác nhấnmạnh: Con người đứng trước một tự nhiên có tính lịch sử và một lịch sử có tính
3 C.Mác và Ăngghen, Toàn tập, t.3, sđd., tr.44.
Trang 9Nhờ lao động mà con người vừa tách khỏi tự nhiên, vừa hoà nhập với tựnhiên trở thành một thực thể sáng tạo Hoạt động lịch sử đầu tiên mang ý nghĩasáng tạo chân chính của con người là chế tạo ra công cụ lao động Con người bắtđầu lịch sử của mình từ đó Nhờ công cụ lao động – tư liệu của mọi tư liệu, sứcmạnh vật chất đầu tiên mà con người tách khỏi tự nhiên, tách khỏi loài vật với tưcách là một chủ thể hoạt động thực tiễn xã hội Đồng thời bằng hoạt động cải tạo
tự nhiên, con người hoà nhập với tự nhiên, biến “tự nhiên thứ nhất” thành “tựnhiên thứ hai”, “tự nhiên thứ ba” sáng tạo ra của cải, tri thức, tinh thần Nhưvậy sáng tạo là thuộc tính tối cao của con người Bản chất con người là sáng tạongay từ đầu với đầy đủ ý nghĩa của nó
* Con người là một chỉnh thể thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội.Triết học Mác – Lênin tiếp cận con người trong tính toàn vẹn, khẳng địnhcon người là một chỉnh thể tồn tại và phát triển trong sự thống nhất giữa mặtsinh học và mặt xã hội Đây là một chinh thể phức tạp, năng động luôn luôn vậnđộng, phát triển
Về mặt sinh học, con người tồn tại ở cấp độ cơ thể, biểu hiện trong cáchiện tượng sinh lí, di truyền, thần kinh, điện – hoá và các quá trình khác của cơthể Về mặt này, con người phục tùng các quy luật của tự nhiên, sinh học Vềmặt xã hội, con người tồn tại ở cấp độ nhân cách, biểu hiện trong những quátrình ý thức, tính cách, tính khí là chủ thể quan hệ xã hội, lao động, giao tiếp,tinh thần Về mặt này, con người phục tùng các quy luật xã hội
Con người tồn tại và phát triển trong tính toàn vẹn thống nhất của hai quátrình sinh học và xã hội Sự hình thành phát triển con người thông qua một quátrình thống nhất giữa cơ chế di truyền và hoạt động xã hội Cơ chế di truyềnquyết định quá trình tiến hoá sinh học của con người, tạo nên cơ sở sinh học cho
sự tiến hoá xã hội Quá trình gia nhập hoạt động xã hội, gia nhập vào bối cảnhvăn hoá lịch sử của quần thể xã hội đã quyết định sự hình thành phát triển nhữngphẩm chất xã hội của con người Đây là một quá trình thống nhất và phức tạp.Trong đó, cơ chế di truyền không chỉ quyết định về mặt sinh học là chủ yếu mà
Trang 10còn gắn liền với sự hình thành phát triển “bản năng xã hội” của con người.Ngược lại, quá trình tập nhiễm trong cuộc sống xã hội không chỉ quyết định mặt
xã hội của con người mà còn cải biến mặt sinh học, làm cho cái sinh học thíchnghi với hoạt động xã hội Chính vì vậy, Ăngghen cho rằng giới tự nhiên đạt đếntrình độ tự nhận thức được mình đó là con người
* Con người tồn tại, phát triển trong môi trường cư trú và mang thuộc tính
xã hội – hành tinh – vũ trụ
Triết học Mác – Lênin tiếp cận con người trong hệ thống con người – môitrường cư trú, từ Trái đất đến vũ trụ Môi trường là điều kiện cần thiết cho sự tồntại và phát triển của con người Đó là toàn bộ hoàn cảnh tự nhiên và xã hội đượcthu hút vào quá trình đời sống con người Theo nghĩa rộng nhất, môi trường baogồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội
Con người tồn tại trong hệ thống tương tác của tất cả các lực lượng tựnhiên Con người là một bộ phận của tự nhiên, giao tiếp với tự nhiên và phụthuộc vào tự nhiên Con người thuộc về giới tự nhiên, nằm trong giới tự nhiên,sống trên hành tinh và phụ thuộc vào các quá trình cơ, lí, hoá, sinh học của hànhtinh Con người phụ thuộc vào các hiện tượng tự nhiên mà trong đó nhiều hiệntượng ở trình độ khoa học hiện nay chưa giải thích được Con người giao tiếp vàphụ thuộc vào tự nhiên ở cả cấp độ chức năng – cơ thể và cấp độ cảm xúc - tinhthần Khoa học tự nhiên đã phát hiện sự tương tác giữa “nhịp điệu vũ trụ” với
“nhịp điệu sinh học” Điều đó nói lên con người mang thuộc tính xã hội – hànhtinh – vũ trụ và phụ thuộc vào môi trường
Con người tồn tại trong môi trường xã hội, thông qua xã hội mà thích nghivới tự nhiên Bởi vì, xã hội là một bộ phận của giới tự nhiên, một kết cấu vậtchất đặc thù của giới tự nhiên Toàn bộ quần thể xã hội hoạt động trong giới tựnhiên, chỉ có thể tồn tại và phát triển trong mối quan hệ hài hoà với tự nhiên.Mác khẳng định: “Chừng nào loài người còn tồn tại thì lịch sử của họ và lịch sử
tự nhiên quy định lẫn nhau”4 Như vậy, bản chất con người là tổng hoà các thuộctính tự nhiên – sinh học – xã hội
4 C.Mác và Ăngghen, Toàn tập, t.1, sđd., tr.267.
Trang 11* Con người là một thực thể cá nhân – xã hội
Con người vừa là một chỉnh thể đơn nhất, vừa mang những phẩm chất của
hệ thống các quan hệ xã hội Đó là một hệ thống năng động, phát triển thốngnhất giữa cái chung, cái đặc thù và cái riêng Trước hết, con người là một nhâncách mang đặc trưng chung, đại biểu cho nhân loại, tộc loại Thuộc tính chungnhất và cao nhất của con người là sáng tạo Con người mang những phẩm chấtđặc thù đại biểu cho một xã hội lịch sử - cụ thể, đại biểu cho một dân tộc, giaicấp, tập đoàn xã hội, tập thể, nhóm xã hội, gia đình Những phẩm chất xã hộicủa con người mang dấu ấn của một thời đại lịch sử và những quan hệ xã hội cụthể Những phẩm chất riêng có của mỗi người là cái đơn nhất, cái đặc thù của cánhân tạo nên kinh nghiệm, tính đơn nhất về tâm lí xã hội của mỗi người Cáiriêng của con người do đặc điểm di truyền, do điều kiện sống riêng của mỗingười quy định Nhờ những phẩm chất riêng mà phân biệt được giữa cá nhânnày và cá nhân khác về trí tuệ, tình cảm, ý chí, động cơ hành động, tính cách Mác nói: “Con người là một thực thể xã hội mang tính cá nhân”5
* Sự thống nhất biện chứng giữa con người giai cấp và con người nhânloại
Con người mang tính nhân loại Đây là thuộc tính vốn có hình thành trongsuốt chiều dài lịch sử của cuộc sống cộng đồng phổ biến rộng lớn nhất Tínhnhân loại thể hiện trong thuộc tính chung nhất cao nhất của con người là sángtạo và trong những giá trị văn hoá chung mà nhân loại đạt được Tính nhân loạicòn được thể hiện trong những quy tắc chuẩn mực của cuộc sống chung đượchình thành như những đạo lí Tính nhân loại thể hiện trong những giá trị chung
mà con người quan tâm như nhân đạo, dân chủ, công bằng xã hội, hoà bình, bảo
vệ môi trường sinh thái Cơ sở của tính nhân loại là từ bản chất xã hội của conngười, do yêu cầu khách quan của cuộc sống cộng đồng là con người phải dựavào người khác, nương tựa vào nhau để tồn tại và phát triển
Trong xã hội có giai cấp, con người mang tính giai cấp Mỗi người là mộtthành viên của giai cấp mang địa vị kinh tế xã hội của giai cấp đó Địa vị kinh tế
5 C.Mác và Ăngghen, Những tác phẩm đầu tay, Mátxcơva, tr.590.
Trang 12xã hội mang tính khách quan, do toàn bộ điều kiện sinh hoạt vật chất quy định,mặc dù mỗi thành viên giai cấp có thể ý thức được hoặc không ý thức được địa
vị của mình
Tính giai cấp và tính nhân loại trong con người vừa đồng nhất vừa khácbiệt Con người tồn tại thông qua những cá nhân hiện thực với tư cách là các chủthể hành động xã hội Tính nhân loại vĩnh hằng Bởi vì, trật tự kinh tế, chính trị
xã hội có thể bị thay đổi, nhưng quy luật con người luôn luôn phải biết dựa vàongười khác, khai thác sự phong phú của người khác để tồn tại, làm phong phúcho mình là không bao giờ mất đi Mặt khác, trong xã hội còn chế độ tư hữu về
tư liệu sản xuất, còn quan hệ đối kháng giai cấp thì con người còn mang tính giaicấp Các giai cấp và các hệ thống xã hội tương ứng vẫn là chủ thể chủ yếu của
xã hội hiện thực Không bao giờ có một “lợi ích nhân loại thuần khiết” Nó đượcphản ánh trong nhận thức, trong hoạt động thực tiễn không tách rời lợi ích cácgiai cấp
Con người thống nhất biện chứng giữa tất yếu và tự do Hoạt động của conngười bị chi phối bởi tính tất yếu Tính tất yếu tồn tại dưới hình thức các quyluật khách quan Mặc dù con người nhận thức được quy luật khách quan haykhông thì lịch sử xã hội vẫn vận động phát triển theo quy luật Hoạt động củacon người biểu hiện ra như là tất yếu “mù quáng” Con người tự do là con ngườinhận thức sâu sắc quy luật và hoạt động tự giác Tự do là tiền đề, điều kiện chohoạt động sáng tạo của con người
Hoạt động của con người là sự thống nhất giữa tất yếu và tự do Hoạtđộng con người có ý thức là hoạt động tiếp cận dần, nắm bắt quy luật kháchquan làm tiền đề cho sự sáng tạo Lịch sử xã hội loài người là lịch sử con ngườivươn lên giành lấy tự do ngày càng cao hơn Con người muốn tự do, trước hếtphải được giải phóng về mặt xã hội, phải có chế độ kinh tế xã hội tạo điều kiệntốt nhất cho hoạt động con người vươn tới tự do Một xã hội bao gồm trong đónhững con người phát triển tự do, toàn diện chính là mục tiêu của chủ nghĩacộng sản
Trang 13* Hiện tượng tha hoá của con người
Triết học Mác Lênin nghiên cứu sự hình thành, phát triển con người trong quá trình lịch sử, khẳng định bên cạnh mặt chủ đạo của con người là sángtạo, còn có hiện tượng con người bị tha hoá Tha hoá là quá trình xã hội trong đóhoạt động của con người và sản phẩm của nó biến thành một lực lượng độc lậpthù địch và thống trị lại con người
-Nguồn gốc của tha hoá là do sự phát triển của phân công lao động xã hội
và sự xuất hiện chế độ tư hữu Triết học Mác – Lênin nghiên cứu những dấuhiệu đặc trưng của sự tha hoá từ các phương diện: sự tha hoá của điều kiện laođộng; sự tha hoá của kết quả lao động; sự tha hoá của thiết chế chính trị xã hội;
sự tha hoá của tư tưởng; sự tha hoá của tự nhiên Khắc phục sự tha hoá là mộtquá trình lâu dài, gắn liền với xoá bỏ chế độ tư hữu Triết học Mác – Lêninchính là lí luận triết học về khắc phục sự tha hoá của con người, trước hết là líluận giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bóc lột
Như vậy, triết học Mác - Lênin trên cơ sở quan điểm duy vật biện chứng
về lịch sử, tiếp cận con người trong tính chỉnh thể của nó, đem lại một hình ảnhtoàn vẹn, đúng đắn về con người, khôi phục lại địa vị vốn có của con ngườitrong lịch sử Triết học Mác – Lênin là học thuyết về sự giải phóng con người,
vì hạnh phúc con người Đây là cơ sở để bác bỏ những luận điểm tư sản, xét lạicho rằng triết học Mác bỏ quên vấn đề con người, không xây dựng học thuyết vềcon người, chỉ xây dựng học thuyết về giai cấp và đấu tranh giai cấp
* Vấn đề giải phóng con người
Tiền đề nghiên cứu triết học của Mác và Ăngghen là xuất phát từ conngười hiện thực – sống và hoạt động thực tiễn Logic lí luận của Mác vàĂngghen là đưa thực tiễn vào triết học, có quan niệm đúng đắn về thực tiễn vàvai trò của thực tiễn đối với đời sống xã hội, từ đó, giải đáp được những bí ẩn,
bế tắc của mọi lí luận triết học cũ Nguyên lí đầu tiên của chủ nghĩa duy vật lịch
sử là sản xuất vật chất, đây là cơ sở, nền tảng của sự tồn tại và phát triển đờisống xã hội Tiền đề mọi lịch sử xã hội là con người hiện thực, con người thực
Trang 14tiễn, trước hết là thực tiễn lao động sản xuất Sản xuất vật chất là phương thức
cơ bản biểu hiện bản chất con người và lối sống xã hội
Do sự phát triển của phân công lao động xã hội và sự xuất hiện chế độ tưhữu mà xuất hiện sự tha hoá con người Khắc phục sự tha hoá chính là một quátrình giải phóng con người Đấu tranh giai cấp cũng là một quá trình khắc phục
sự tha hoá con người về mặt xã hội, giải phóng con người khỏi mọi chế độ ápbức, bóc lột Thực chất của triết học Mác – Lênin là học thuyết giải phóng conngười, vì sự phát triển toàn diện của con người
3 Vấn đề con người trong Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Tiếp cận với Chủ nghĩa Mác - Lênin, từ phương pháp luận về vấn đề conngười, trong toàn bộ sự nghiệp hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ ChíMinh đã lĩnh hội và vận dụng sáng tạo vào điều kiện Việt Nam, xây dựng nên hệthống những quan điểm, tư tưởng, nội dung các vấn đề về con người một cáchsâu sắc Hồ Chí Minh luôn coi các vấn đề của con người, bản chất con người, sựnghiệp trồng người là mục tiêu, là quan tâm thường trực, là trách nhiệm vẻ vangtrong cuộc đời hoạt động của mình Từ lá thư đầu tiên gửi Cụ Phan Chu Trinhnăm 1913 đến lời di chúc cuối cùng, vấn đề tha thiết nhất mà Hồ Chí Minhthường đề cập là các vấn đề thuộc về con người Mong muốn cháy bỏng trongsuốt cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh là làm sao cho dân ta, nhữngngười cùng khổ, trẻ em, thanh niên, phụ nữ, những người già cả đều vui vẻ,khoẻ mạnh, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành và sống tronghoà bình, trong tình hữu nghị, tình yêu thương và niềm hạnh phúc
Hồ Chí Minh quan niệm rằng con người vừa là sản phẩm của lịch sử, vừa
là động lực phát triển của lịch sử Con người sinh ra trong xã hội, do đó cáchoàn cảnh xã hội làm nảy sinh trong con người cả cái thiện và cái ác Vì lẽ đó,khi kiến tạo một xã hội mới, theo quan niệm của Hồ Chí Minh trước hết phảitích cực, chủ động xây dựng những con người, những nhân cách cho xã hội đó
Xã hội nào cũng có những con người đại diện cho nó Xã hội phong kiến ở ViệtNam, có những nhân cách kẻ sỹ, bậc trượng phu, người quân tử làm nòng cốt
Trang 15xây dựng xã hội ấy Xã hội tư sản đã coi các thương gia, nhân sỹ, các nhà tư bản
là nòng cốt xây dựng xã hội đó Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mục tiêu phấn đấutrong cuộc cách mạng của chúng ta là chủ nghĩa xã hội, vì vậy “muốn có chủnghĩa xã hội thì trước hết phải có những con người mới xã hội chủ nghĩa”
Con người xã hội chủ nghĩa vừa là sản phẩm sinh thành của quá trình pháttriển xã hội mới, vừa là kết quả của hoạt động lao động sản xuất tích cực Conngười xã hội chủ nghĩa là những con người có phẩm chất rất mới mà xã hội cũkhông có Con người xã hội chủ nghĩa khác với nhân cách của kẻ sỹ, thương gia,trượng phu, quân tử, nhà tư bản Đó là những con người được hình thành khôngchỉ gắn với tiến trình cách mạng của nhân dân mà nó còn phải đại diện cho cácgiá trị đạo đức mới, lý tưởng của xã hội mới Đó là những con người kiên quyếtchống áp bức và bóc lột, coi lao động là nguồn sống, là trách nhiệm, là vinh dự,
là nguồn tạo ra hạnh phúc Đó là những con người có tình yêu sâu sắc với đồngloại, yêu những người lao động nghèo khổ trên thế giới Nhân tố cơ bản tạothành tính cách của những con người như vậy là tính cách mạng của nó Congngười vừa có đạo đức trong sạch, vừa có lý tưởng tiên tiến
Những quan điểm, tư tưởng trên đây và những lời dạy của Chủ tịch HồChí Minh: “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân, taphải hết sức tránh”, “Vì lợi ích mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm nămphải trồng người”, “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết cần có con ngườimới xã hội chủ nghĩa” đã trở thành những tư tưởng xuyên suốt toàn bộ sựnghiệp cách mạng của Đảng ta trong thế kỷ XX, trong những năm đầu và nhữngnăm tiếp theo của thế kỷ XXI
Thực tế chứng minh rằng, những tư tưởng vĩ đại về con người của các nhàkinh điển, của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được Đảng ta vận dụng sáng tạo vàođiều kiện cụ thể ở Việt Nam Con người và nhân tố con người đã trở thành mụctiêu, động lực của sự phát triển kinh tế xã hội, và “chiến lược con người” đượcĐảng và Nhà nước ta xác định trong những năm thực hiện công cuộc đổi mớiđất nước, trong hệ thống các chính sách xã hội là phù hợp với điều kiện và hoàn
Trang 16cảnh nước ta Mỗi con người Việt Nam sẽ tự vươn lên và khẳng đinh đúng diệnmạo của mình trong đời sống xã hội.
Trước đây, trong một thời gian dài do nhận thức không đúng và thực hiệnkhông có hiệu quả trên phương diện lý luận cũng như trong thực hiện chínhsách xã hội cho nên không phát huy hết được mọi tiềm năng, trí sáng tạo củacon người Việt Nam, coi lợi ích của tập thể là cái cao cả, cái tốt đẹp và hoànthiện nhất, vì vậy, mà lợi ích của cá nhân, của người lao động bị xem nhẹ, thậmtrí cho rằng quan tâm đến lợi ích cá thể là tính xấu, là cái mà cần phải lên án Đặc biệt là trong thời gian dài của chế độ bao cấp thì đã có lúc lợi ích riêng của
cá nhân bị xem nhẹ, không được khuyến khích phát triển Như vậy đã làm triệttiêu động lực của sự phát triển, làm lu mờ, cũng như không phát huy được tàinăng của mỗi cá nhân và con người trong sự phát triển kinh tế - xã hội, đánhđồng giữa lợi ích của nhân tố con người với các nhân tố khác, nói cách khác chỉthấy con người như một phương tiện của sự phát triển kinh tế - xã hội
II QUÁN TRIỆT QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA, CON NGƯỜI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1 Các quan điểm của Đảng về phát triển văn hóa, con người Việt Nam hiện nay
Khơi dậy ý chí, khát vọng phát triển đất nước cường thịnh, phồn vinh, hạnh phúc của dân tộc và con người Việt Nam
Đại hội XIII xác định lộ trình với các mục tiêu cụ thể: Đến năm 2025, lànước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thunhập trung bình thấp Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nướcđang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao Và đến năm
2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay lànước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trở thành nước phát triển, thu nhậpcao Đây chính là khát vọng và tầm nhìn của Đảng và Nhân dân ta trong thời đạimới Để thực hiện được khát vọng và tầm nhìn ấy,
Đại hội XIII xác định: ”Động lực và nguồn lực phát triển quan trọng củađất nước là khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức