LUAN VAN Le Vinh Quang 1 doc BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH –––––––––�&�––––––––– LÊ VINH QUANG THU NGÂN SÁCH ĐÀ NẴNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG TÍNH BỀN VỮNG CHO NGÂN SÁ[.]
DẪN NHẬP
Bối cảnh nghiên cứu
Trước năm 1986, Việt Nam theo nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, mọi nguồn lực đều thuộc về chính quyền trung ương, dẫn đến tình hình kinh tế - xã hội ngày càng trì trệ Chính sách “đổi mới” bắt đầu chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường tự do hóa, giúp đất nước bước vào giai đoạn mới tự chủ hơn về mặt kinh tế Từ năm 1996, chính quyền trung ương bắt đầu phân cấp ngân sách cho địa phương theo Luật Ngân sách Nhà nước, thúc đẩy sự tự chủ và linh hoạt trong quản lý ngân sách địa phương.
Phân cấp ngân sách đã thúc đẩy tính chủ động và tích cực trong quản lý chính sách phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Việc phân cấp này dựa trên nền tảng điều hành chính sách công tại cấp địa phương, giúp nâng cao hiệu quả và phù hợp với đặc điểm riêng của từng khu vực Nhờ đó, các địa phương có thể linh hoạt điều chỉnh và triển khai các chính sách phù hợp với nhu cầu thực tế của cộng đồng, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân.
Việc quy định rõ nguồn thu, nhiệm vụ chi và khoản chuyển giao từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương giúp các địa phương xác định và cân đối giữa nhu cầu và nguồn lực Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương thực hiện các ưu tiên đầu tư, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương một cách bền vững (Vũ Như Thăng và Lê Thị Mai Liên, 2013)
Năm 1997 đánh dấu bước ngoặt quan trọng đối với Đà Nẵng khi luật ngân sách 1996 được thực thi cùng với việc thành phố trở thành thành phố trực thuộc trung ương, mở ra giai đoạn phát triển vượt bậc về cơ sở hạ tầng Trong vòng 10 năm, Đà Nẵng đã giải tỏa và tái định cư gần 150.000 hộ dân, thay đổi rõ nét diện mạo đô thị và đời sống người dân Thành phố đã xây dựng hơn một ngàn tuyến đường mới và mọc lên hàng trăm khách sạn, nâng cao đáng kể ngành dịch vụ du lịch Từ năm 2000, số phòng khách sạn của Đà Nẵng chỉ dưới 1.000, thường xuyên khai thác hết công suất; hiện nay, thành phố có hơn 11.500 phòng khách sạn, trên 50% đạt tiêu chuẩn 3 sao trở lên (Hồ Trung Tú, 2013), góp phần thúc đẩy du lịch và phát triển kinh tế địa phương.
Qua 16 năm xây dựng và phát triển (1997–2012), Đà Nẵng trở thành một trong những thành phố hàng đầu cả nước có môi trường sống tốt nhất Từ mức GDP năm 1997 đạt
Năm 2012, giá trị đạt 46.961 tỷ đồng, tăng gần 14,5 lần so với mức 3.209 tỷ đồng ban đầu Tốc độ tăng trưởng danh nghĩa liên tục duy trì ở mức cao, trung bình 19,54% mỗi năm, thể hiện xu hướng phát triển mạnh mẽ của thị trường trong giai đoạn này (Hồ Kỳ Minh).
Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn Đà Nẵng liên tục tăng qua các năm, đạt đỉnh gần 20.000 tỷ đồng vào năm 2011, thể hiện sự năng động trong phát triển kinh tế của thành phố Tốc độ tăng trưởng GDP của Đà Nẵng trung bình 11% mỗi năm từ 1997 đến 2012, trong khi thu ngân sách tăng gần 20% mỗi năm, vượt xa tốc độ tăng trưởng GDP, đưa Đà Nẵng vào nhóm 10 địa phương đứng đầu cả nước về thu ngân sách Một điểm sáng của Đà Nẵng là khả năng khai thác giá trị từ đất đai qua các chính sách phát triển đô thị, xây dựng hạ tầng hiện đại và khang trang, phù hợp với thể chế chung của cả nước Tuy nhiên, bước ngoặt năm 2012 khi nguồn thu đất giảm khiến ngân sách thành phố không đạt dự toán, đặt ra thách thức về tính bền vững và ảnh hưởng đến chính sách phát triển kinh tế xã hội của Đà Nẵng Đây đồng thời là cơ hội để thành phố đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu kinh tế, tập trung phát triển các lĩnh vực dịch vụ, du lịch, cũng như các ngành sản xuất tạo giá trị gia tăng cao, nhằm hướng tới phát triển bền vững dựa trên nền tảng ngân sách ổn định.
Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm đánh giá sự phù hợp của mô hình tài chính công, đặc biệt là cơ cấu thu chi ngân sách, với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Đà Nẵng giai đoạn 2002-2012 Bên cạnh đó, nghiên cứu còn xem xét tính bền vững của ngân sách thành phố trong khoảng thời gian này và đưa ra dự báo về khả năng duy trì của ngân sách trong tương lai dài hạn Cuối cùng, đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm tăng cường tính bền vững của ngân sách nhà nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và ổn định tài chính của Đà Nẵng.
Câu hỏi nghiên cứu
Các phân tích trong luận văn tập trung trả lời các câu hỏi:
1 Tính bền vững của ngân sách Đà Nẵng trong thời gian qua và xu hướng trong thời gian tới sẽ như thế nào?
2 Để nâng cao tính bền vững của ngân sách, Đà Nẵng cần phải làm gì?
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu đề ra, tác giả đã phân tích mô hình tài chính công của Đà Nẵng thông qua cơ cấu thu – chi ngân sách giai đoạn 2002–2012 Nghiên cứu này giúp đưa ra những giải pháp cải thiện lên kế hoạch tài chính và nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới.
Trong bối cảnh phân cấp ngân sách năm 2020, luận văn tập trung nghiên cứu cơ cấu thu – chi ngân sách nhằm hỗ trợ chính sách phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Đặc biệt, bài viết nhấn mạnh vào hoạt động thu ngân sách nhà nước trên địa bàn, phân tích các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thu ngân sách, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững và ổn định ngân sách địa phương.
Phương pháp nghiên cứu và nguồn thông tin
Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính để phân tích tài chính công và đánh giá tính bền vững của ngân sách địa phương Dựa trên tổng quát mô hình phát triển kinh tế - xã hội và dữ liệu thu – chi ngân sách giai đoạn 2002 – 2012, bài viết đánh giá sự ổn định của ngân sách theo các khái niệm của Schick (2005) và tuân thủ quy định của Luật ngân sách 2002 Các giải pháp được đề xuất nhằm nuôi dưỡng nguồn thu và tăng thu ngân sách một cách bền vững, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội lâu dài.
Tác giả đã thu thập thông tin từ các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân thành phố qua các năm từ 2002 đến 2012 để phân tích tình hình thu chi ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố Báo cáo này cung cấp các số liệu chính xác về ngân sách, giúp đánh giá hiệu quả quản lý tài chính đô thị Ngoài ra, các dữ liệu quan trọng còn được khai thác từ trang web của Bộ Tài Chính và Sở Tài Chính, tăng cường độ tin cậy và phạm vi phân tích Những thông tin này góp phần cung cấp cái nhìn tổng thể về ngân sách thành phố qua các giai đoạn, giúp các cơ quan quản lý đưa ra quyết định phù hợp.
Kết cấu của nghiên cứu
Nghiên cứu chính sách gồm bốn chương chính, bắt đầu bằng phần dẫn nhập nêu rõ các vấn đề chung của đề tài Tiếp theo, chương hai trình bày cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đó để làm rõ nền tảng nghiên cứu Chương ba tập trung phân tích tính bền vững của ngân sách Đà Nẵng hiện tại cũng như dự báo các xu hướng trong tương lai nhằm đánh giá vấn đề ở cấp độ toàn diện Cuối cùng, chương bốn đưa ra kết luận và các khuyến nghị chính sách dựa trên phân tích, đồng thời đề cập đến những hạn chế của nghiên cứu và hướng đi cho các nghiên cứu tiếp theo nhằm nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách địa phương.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NHỮNG NGHIÊN CỨU TRƯỚC
Tăng trưởng và phát triển kinh tế ở các địa phương với cấu trúc ngân sách
Sự tăng trưởng kinh tế của từng địa phương phụ thuộc vào mức độ đóng góp của các khu vực kinh tế khác nhau Chiến lược phát triển kinh tế dựa trên cơ cấu khu vực sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ đóng góp của từng thành phần Các thành phần kinh tế như khu vực tư nhân, nhà nước và đầu tư nước ngoài đều có vai trò quan trọng và mức đóng góp của mỗi thành phần này thay đổi theo thời gian Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, khu vực nhà nước thường nhận được ưu đãi về nguồn lực như vốn, đất đai và chính sách tín dụng, giúp đóng góp trong ngắn hạn cao hơn, nhưng về dài hạn lại mang lại hiệu quả thấp hơn so với khu vực tư nhân.
Khu vực nhà nước đóng vai trò quan trọng nhất trong tăng trưởng kinh tế của Đà Nẵng, trong khi chính quyền thành phố vẫn còn thận trọng với khu vực tư nhân Nguyên nhân chính là do chính quyền tập trung nguồn lực vào phát triển cơ sở hạ tầng cứng, dẫn đến sự thiếu chú trọng vào thu hút đầu tư nước ngoài và phát triển kinh tế tư nhân có cơ sở hạ tầng mềm Theo tác giả Nguyễn Xuân Thành, hướng phát triển dựa vào đầu tư nhà nước được xem là an toàn, nhưng việc quá thiên về một phía có thể gây ra những tác động tiêu cực cho sự cân bằng và bền vững của nền kinh tế địa phương.
Tiếp cận đất đai và giá đất là những rào cản lớn đối với khu vực tư nhân, ảnh hưởng đến việc thành lập và điều hành doanh nghiệp như đã chỉ ra trong nghiên cứu của Dapice (2004), đặc biệt tại Đà Nẵng và các địa phương khác Cấu trúc ngân sách của các địa phương phân chia theo tỷ lệ giữa các ngành Nông nghiệp, Công nghiệp và Dịch vụ, phản ánh mục tiêu phát triển và lợi thế cạnh tranh của từng tỉnh Luật Ngân sách Việt Nam 2002 quy định rằng ngân sách địa phương cân đối khi tổng thu từ thuế, phí, lệ phí lớn hơn chi thường xuyên và góp phần tích lũy cho đầu tư phát triển Nguồn thu ngân sách gồm các khoản thu nội địa, thu chia sẻ từ trung ương, phát hành trái phiếu và các khoản vay nợ, trong đó việc đẩy mạnh phân cấp ngân sách giúp chính quyền địa phương linh hoạt hơn trong huy động và phân bổ nguồn lực để thúc đẩy phát triển bền vững Ngân sách cân bằng đảm bảo thu đủ chi, trong khi ngân sách bền vững phải hiệu quả cả trong thu và chi nhằm duy trì nguồn thu trong tương lai Brodjonegoro (2004) nhấn mạnh ngân sách địa phương nên được xem như công cụ kích thích kinh tế, còn Rosengard và đồng nghiệp (2006) cho rằng chi cho đầu tư phát triển sẽ thúc đẩy phát triển bền vững của địa phương.
Tính bền vững của ngân sách
Tính bền vững của ngân sách nhà nước là khái niệm thể hiện khả năng cung cấp các công cụ tài chính khả dụng trong mọi tình huống, giúp kiểm soát thu ngân sách và chi tiêu một cách chủ động Đặc biệt, ngân sách bền vững không đẩy Nhà nước vào tình trạng vỡ nợ trong ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn (Vũ Đình Ánh, 2013) Tính bền vững của ngân sách thể hiện rõ qua cơ cấu thu, chi ngân sách được cân đối một cách hợp lý, đảm bảo sự ổn định tài chính quốc gia.
Ngân sách địa phương được chia thành các khoản thu đặc biệt, thu nhập thường xuyên và khoản thu phân chia, trong khi các khoản chi gồm chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên Các nguồn thu bền vững cho ngân sách địa phương bao gồm nguồn thu được phân chia, phí và lệ phí, cũng như thuế bất động sản Tuy nhiên, các khoản thu đặc biệt từ bán nhà và quyền sử dụng đất lại mang tính không bền vững, như đã phân tích bởi Rosengard và các cộng sự (2006) Theo Ninh Ngọc Bảo Kim và Vũ Thành, việc đa dạng hóa nguồn thu là yếu tố quan trọng để đảm bảo ổn định ngân sách địa phương.
Theo Tự Anh (2008), ngân sách của Đà Nẵng có mức độ cao nhưng không bền vững, chủ yếu phụ thuộc vào nguồn thu từ chuyển đổi đất đai, một nguồn thu có giới hạn và sẽ cạn kiệt trong tương lai gần.
Theo Schick (2005) nhấn mạnh rằng ngân sách bền vững cần đảm bảo bốn yếu tố chính, trong đó quan trọng hàng đầu là khả năng trả nợ (solvency), phản ánh khả năng của chính phủ trong việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính một cách bền vững.
Trong luận văn này, các yếu tố chính được xem xét bao gồm Tăng trưởng (Growth), với chính sách chi tiêu đảm bảo nền kinh tế phát triển bền vững; Ổn định (Stability), thể hiện khả năng của chính phủ trong việc đáp ứng các nghĩa vụ tài chính trong tương lai dựa trên gánh nặng thuế hiện tại; và Công bằng (Fairness), đánh giá khả năng của chính phủ trong việc thanh toán các nghĩa vụ hiện tại mà không làm gánh nặng chi phí chuyển sang các thế hệ tương lai.
PHÂN TÍCH TÍNH BỀN VỮNG CỦA NGÂN SÁCH ĐÀ NẴNG HIỆN TẠI VÀ XU HƯỚNG TƯƠNG LAI
Tổng quan về Đà Nẵng
Đà Nẵng là thành phố cảng lớn nhất miền Trung Việt Nam, có vai trò quan trọng trong phát triển khu vực Sau khi chia tách từ Quảng Nam năm 1997, Đà Nẵng trở thành thành phố trực thuộc trung ương, đánh dấu bước chuyển mình vượt bậc Trong giai đoạn từ 1997 đến 2012, thành phố đã trải qua cuộc cách mạng về diện mạo và quy mô, thể hiện sự quyết liệt và mạnh mẽ trong sự đổi mới Sự phát triển của Đà Nẵng không chỉ đáp ứng nhu cầu tự thân mà còn khẳng định vị trí đầu tàu, trách nhiệm của thành phố đối với sự phát triển của miền Trung.
Đà Nẵng đã trải qua một sự chuyển mình đáng kinh ngạc trong thời gian ngắn, thu hút không chỉ du khách xa gần mà còn khiến người dân địa phương tự hỏi về con đường phát triển thần kỳ của thành phố Chính nhờ vào chiến lược phát triển bền vững và đầu tư vào cơ sở hạ tầng hiện đại, Đà Nẵng đã nhanh chóng đổi mới diện mạo, trở thành điểm đến du lịch và trung tâm kinh tế năng động của miền Trung Sự thay đổi này không chỉ mang lại diện mạo mới cho thành phố mà còn mở ra nhiều cơ hội phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân địa phương.
Trong bối cảnh lịch sử của thành phố Đà Nẵng, có thể có nhiều câu trả lời khác nhau về những thay đổi, nhưng điểm chung nổi bật là sự quyết tâm và nỗ lực không ngừng của toàn thể công dân, từ lãnh đạo cao nhất đến người dân bình thường, từ Đảng bộ thành phố đến các tổ chức Đảng, đoàn thể cơ sở Sự đồng thuận xã hội và lòng quyết tâm của cộng đồng đã góp phần thay đổi diện mạo thành phố, tạo nên một sức mạnh lớn lao, thúc đẩy các bước phát triển tiếp theo và hướng tới tương lai của đô thị này.
Nghị quyết 33 của Bộ Chính trị ban hành ngày 16/10/2003 định hướng phát triển Đà Nẵng thành trung tâm kinh tế - xã hội lớn của miền Trung, với vai trò trung tâm công nghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ Thành phố được xác định trở thành đô thị lớn của cả nước, là thành phố cảng biển và trung tâm giao thông vận tải quan trọng trong nước và quốc tế Đà Nẵng còn là trung tâm bưu chính - viễn thông, tài chính - ngân hàng, và là một trong những trung tâm văn hóa - thể thao, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ của miền Trung Ngoài ra, thành phố có vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh của khu vực miền Trung và cả nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển toàn diện của khu vực.
GDP của Đà Nẵng năm 1997 chỉ đạt 3.208,8 tỷ đồng, nhưng đến năm 2012 đã tăng lên 46.961 tỷ đồng theo giá hiện hành, gấp gần 14,5 lần, thể hiện sự phát triển vượt bậc của kinh tế địa phương (Hồ Kỳ Minh, 2013) Trong giai đoạn 1997-2012, tốc độ tăng trưởng GDP thực đạt 12,78% mỗi năm, cao hơn gấp hơn hai lần mức trung bình của cả nước, phản ánh chính sách phát triển kinh tế bền vững và năng động của Đà Nẵng (Niên giám thống kê TP Đà Nẵng 1997 – 2012).
Từ năm 1997 đến 2010, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã thúc đẩy sự phát triển của các ngành “Công nghiệp – Dịch vụ - Nông nghiệp”, sau đó chuyển sang cơ cấu “Dịch vụ – Công nghiệp – Nông nghiệp” sau năm 2010 Kết quả của quá trình này thể hiện rõ qua bảng 3.1, trong đó tỷ lệ của ngành Nông nghiệp giảm dần theo thời gian, ngành Công nghiệp duy trì ổn định, còn ngành Dịch vụ ngày càng trở thành ngành chủ lực chiếm hơn 50% tỷ trọng trong GDP.
B ả ng 3.1: C ơ c ấ u GDP theo khu v ự c kinh t ế qua các n ă m Đơn vị: % Khu vực
Nguồn: Niên giám thống kê Đà Nẵng qua các năm 2003-2012
Trong những năm đầu của thập kỷ 2000, đóng góp của các khu vực vào GDP của Đà Nẵng đã có những chuyển biến rõ nét Theo nhận định của Nguyễn Xuân Thành (2003), thành tích tăng trưởng kinh tế có sự đóng góp lớn nhất từ khu vực nhà nước, trong khi khu vực tư nhân vẫn còn bị Chính quyền thành phố khá thận trọng Tuy nhiên, kể từ năm 2009, khu vực nhà nước đóng góp vào GDP bắt đầu giảm mạnh, trong khi khu vực tư nhân có xu hướng tăng nhanh và dần trở thành lĩnh vực đóng góp nhiều nhất vào tăng trưởng GDP của thành phố.
TP Khu vực FDI tỉ lệ đóng góp còn thấp, bình quân chỉ có 7,46% nhưng có xu hướng tăng dần theo các năm từ 2009 (Bảng 3.2.)
B ả ng 3.2: T ỷ tr ọ ng đ óng góp c ủ a các thành ph ầ n kinh t ế vào GDP Đơn vị tính: %
Tư nhân 29,25 36,07 36,77 44,03 42,88 51,89 53,59 53,25 60,08 57,62 FDI 7,43 6,76 7,07 5,53 5,31 5,45 6,77 7,45 11,61 11,17 Đầu tư
Nguồn: Niên giám thống kê Đà Nẵng năm 2012
Nguồn vốn đầu tư tập trung chủ yếu vào khu vực Nhà nước, nhưng hiệu quả đầu tư của khu vực này còn nhiều hạn chế Mặc dù tỷ lệ đóng góp của khu vực Nhà nước vào GDP đạt trung bình 46%, tuy nhiên, vốn đầu tư vào lĩnh vực này chiếm gấp đôi so với khu vực tư nhân Các nguồn vốn đầu tư dành cho khu vực Nhà nước chủ yếu tập trung vào công trình giải tỏa, đền bù và quy hoạch chỉnh trang đô thị dựa trên nguồn thu từ đất đai.
B ả ng 3.3: C ơ c ấ u GDP ngành D ị ch v ụ qua các n ă m ĐVT: %
Đà Nẵng đã tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố, theo số liệu từ Cục Thống kê Thành phố Đà Nẵng, niên giám 2012 Từ những năm 2000, thành phố chỉ có một khách sạn 5 sao với dưới 1.000 phòng, hoạt động chưa hết công suất Tuy nhiên, đến nay, Đà Nẵng đã có hơn nhiều khách sạn cao cấp và hạ tầng du lịch phát triển mạnh mẽ, góp phần thúc đẩy ngành du lịch địa phương.
Đà Nẵng có hơn 11.500 phòng khách sạn, trong đó hơn 50% đạt tiêu chuẩn 3 sao trở lên, với hàng loạt resort 5 sao của các thương hiệu nổi tiếng như Hyatt, Crowne Plaza, Pullman, Novotel, Mercure, góp phần thúc đẩy ngành lưu trú, ẩm thực, vận tải và bất động sản tại khu vực Từ năm 1997, sau khi tách tỉnh, Đà Nẵng thay đổi mạnh mẽ nhờ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và chỉnh trang đô thị, giúp bộ mặt thành phố ngày càng khang trang Chiến lược phát triển kinh tế của thành phố đã chuyển từ mô hình Công nghiệp – Dịch vụ – Nông nghiệp sang Dịch vụ – Công nghiệp – Nông nghiệp kể từ năm 2010, nhằm thúc đẩy hiệu quả kinh tế cao hơn Tuy nhiên, Đà Nẵng vẫn còn tồn tại những hạn chế như nguồn lực xã hội tập trung quá nhiều vào khu vực Nhà nước nhưng hiệu quả còn hạn chế so với khu vực tư nhân và FDI Ngoài ra, thành phố vẫn còn quá chú trọng vào đầu tư hạ tầng mà bỏ qua các mục tiêu quan trọng khác như thu hút đầu tư nước ngoài và đảm bảo tính bền vững của nguồn thu ngân sách.
Đánh giá tính bền vững của ngân sách Đà Nẵng
Theo tiêu chí về ngân sách bền vững của Schick (2005), ngân sách cần đảm bảo khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính hiện tại, đồng thời duy trì chính sách chi tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Ngoài ra, ngân sách phải có khả năng đáp ứng các nghĩa vụ trong tương lai dựa trên gánh nặng thuế hiện tại, và quan trọng nhất là không chuyển gánh nặng chi phí sang thế hệ tương lai, đảm bảo sự bền vững lâu dài.
3.2.1 Kh ả n ă ng th ự c hi ệ n các ngh ĩ a v ụ tài chính hi ệ n t ạ i
Mô hình tài chính công của Đà Nẵng phản ánh chính xác chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đặc biệt là đầu tư vào hạ tầng giao thông và quy hoạch đô thị Trong giai đoạn 2002-2012, tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt trên 87.000 tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng hàng năm cao hơn nhiều so với tốc độ tăng GDP của thành phố Thu từ thuế và phí chiếm khoảng 54% tổng thu nội địa, đạt hơn 20.266 tỷ đồng trong giai đoạn này, với tốc độ tăng bình quân gần 27% mỗi năm Tuy nhiên, tỷ lệ thu từ thuế và phí còn thấp so với tiêu chí bền vững của ngân sách, bởi ước tính nguồn thu thuế từ giá trị gia tăng do sản xuất kinh doanh phải chiếm từ 70-80% tổng thu nội địa, trong đó tổng thu từ giá trị gia tăng là 28.276 tỷ đồng.
Trong giai đoạn 2002-2012, chi ngân sách thành phố đạt 75.291 tỷ đồng, với tốc độ tăng trung bình hàng năm là 24,7%, phản ánh sự phát triển mạnh mẽ về nguồn lực tài chính Cơ cấu chi ngân sách chủ yếu tập trung vào đầu tư phát triển và chi thường xuyên, nhằm đảm bảo các nhu cầu cấp thiết của kinh tế - xã hội thành phố Chính sách ưu tiên đầu tư vào cơ sở hạ tầng đã tận dụng nguồn thu từ đất đai để tái đầu tư vào xây dựng hạ tầng đô thị, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của thành phố.
Với hơn 40.329 tỷ đồng, ngân sách dành cho đầu tư phát triển chiếm hơn 65% tổng chi ngân sách hàng năm Đầu tư hạ tầng với tỷ trọng lớn đã đóng vai trò quan trọng thúc đẩy tăng trưởng GDP cao của thành phố trong giai đoạn 2002 –
Nguồn thu từ khi tách tỉnh đến nay luôn đáp ứng tốt nhu cầu chi tiêu của Đà Nẵng, nhưng nền kinh tế thành phố vẫn còn nhiều hạn chế Tốc độ phát triển sản xuất, kinh doanh chậm hơn so với sự tăng trưởng của thị trường bất động sản và khai thác tài nguyên đất đai Cơ cấu nguồn thu theo sắc thuế, loại hình doanh nghiệp và hoạt động kinh tế phản ánh những điểm tương phản trong ngân sách của Đà Nẵng.
3.2.1.1 Nguồn thu phân chia theo sắc thuế
Trong hơn một thập niên qua, cơ cấu thu ngân sách của Đà Nẵng vẫn duy trì tỷ lệ ổn định, trong đó nguồn thu đặc biệt chiếm khoảng 60% tổng thu ngân sách Tuy nhiên, năm 2012, tỷ lệ này giảm còn 38% do nguồn thu từ tiền sử dụng đất giảm nghiêm trọng, ảnh hưởng đáng kể đến ngân sách thành phố.
B ả ng 3.4: C ơ c ấ u thu ngân sách giai đ o ạ n 2003 – 2012 Đơn vị: tỷ đồng
Nguồn: Sở tài chính, Cục thuế Tp Đà Nẵng, quyết toán thu NSNN năm 2003 – 2012
Các khoản thu phân chia đem lại nguồn ngân sách bền vững, trong đó thu thường xuyên đóng vai trò chính như một dạng thu nhập ổn định, còn thu đặc biệt là nguồn thu bất thường, không đảm bảo tính lâu dài (Rosengard và đồng tác giả, 2006) Một tín hiệu tích cực cho Đà Nẵng là khi nguồn thu đặc biệt giảm xuống, các khoản thu có tính bền vững lại tăng cả về số tuyệt đối lẫn tỷ trọng trong tổng nguồn thu Trong 10 năm qua, khoản thu phân chia chiếm tỷ lệ cao nhất, đạt 38%, phản ánh sự ổn định và phát triển trong cơ cấu nguồn thu của thành phố.
Khoản thu thường xuyên cũng tăng từ 6% năm 2011 lên 24% trong năm 2012
Các khoản thu chia trong ngân sách có tính bền vững cao, với cơ sở thuế rộng và ổn định Trong đó, thuế giá trị gia tăng (VAT) chiếm hơn 50% tổng thu, phản ánh sự phụ thuộc lớn vào nguồn thu từ thuế gián thu Ngoài ra, nguồn thu từ thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) luôn duy trì mức ổn định trên 20%, góp phần đảm bảo ngân sách quốc gia được cân đối và bền vững trong dài hạn.
B ả ng 3.5: C ơ c ấ u các kho ả n thu phân chia (%)
5 Các khoản được phân chia khác
Nguồn: Sở tài chính, Cục thuế Tp Đà Nẵng, quyết toán thu NSNN năm 2003 – 2012
Tốc độ tăng bình quân của thuế giá trị gia tăng đạt 11,83% mỗi năm, chứng tỏ đây là nguồn thu ổn định và bền vững cho ngân sách nhà nước Tuy nhiên, theo thời gian, tỷ trọng của thuế giá trị gia tăng trong cơ cấu các khoản thu chung có xu hướng giảm dần, giảm từ mức 61% trong các năm trước Điều này cho thấy vai trò của thuế giá trị gia tăng đang dần giảm xuống trong tổng thu ngân sách nhà nước.
Từ năm 2008 đến 2010 – 2012, tỷ lệ thu thuế thu nhập doanh nghiệp giảm còn khoảng 50%, tuy nhiên, trong giai đoạn này, thuế thu nhập doanh nghiệp vẫn duy trì mức tăng trưởng tốt và ổn định, đặc biệt từ 2010 đến 2012, khi tỷ lệ này đạt 13% Đây là giai đoạn nền kinh tế cả nước, bao gồm cả Đà Nẵng, gặp nhiều khó khăn, nhưng nguồn thu từ thuế doanh nghiệp vẫn có khả năng tăng cao nhờ vào cơ sở thuế mở rộng và các hoạt động kinh doanh, sản xuất, đầu tư, tiêu dùng của tổ chức và cá nhân đều tăng trưởng theo sự phát triển kinh tế Thuế thu nhập doanh nghiệp đã từ mức một con số trong giai đoạn 2003 – 2008, tăng trưởng vượt bốc và ổn định, phản ánh tính dễ tăng của nguồn thu này khi nền kinh tế tăng trưởng.
Nhìn vào bảng 3.4, chúng ta thấy các khoản thu từ thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân đều là nguồn đóng góp của người dân và doanh nghiệp vào ngân sách nhà nước tăng trưởng liên tục với mức trung bình 21,8% trong giai đoạn 2003 – 2012, cho thấy tính bền vững và ổn định cao của cơ cấu thu ngân sách Đà Nẵng Ngoài ra, các khoản thu thường xuyên như lệ phí trước bạ, phí và lệ phí, thu từ đất đai và bất động sản, thu xổ số góp phần ổn định nguồn thu ngân sách địa phương.
B ả ng 3.6: C ơ c ấ u các kho ả n thu th ườ ng xuyên (%)
1 Lệ phí trước bạ môn bài
Nguồn: Sở Tài chính, Cục thuế Tp Đà Nẵng
Thu nhập thường xuyên từ thuế tài sản là nguồn thu bền vững, góp phần vào ngân sách ổn định Tuy nhiên, khoản thu từ lệ phí trước bạ và môn bài không đảm bảo tính bền vững do tăng trưởng không đều, trong đó có năm lệ phí trước bạ và môn bài chiếm tỷ trọng đến 63%, gây ảnh hưởng đến ngân sách dài hạn.
Trong giai đoạn từ 2010 đến 2012, tỷ trọng các khoản thu từ đất đai và bất động sản giảm mạnh từ 71% xuống còn 6%, thể hiện sự biến động không ổn định của nguồn thu này Nguồn thu bền vững từ phí và lệ phí giao thông của Đà Nẵng có tiềm năng lớn nhưng cũng tăng trưởng không đều trong 10 năm qua Khoản vay và các thu khác phụ thuộc nhiều vào các khoản vay ngân sách, cụ thể năm 2012 chiếm tới 77% tổng thu nhờ phát hành trái phiếu trị giá 1.500 tỷ đồng, và giai đoạn 2004-2006 cũng ghi nhận tỷ lệ lên tới 81% do vay vốn đầu tư theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước năm 2002 Nhìn chung, các khoản thu không bền vững vẫn chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu thu thường xuyên của Đà Nẵng Ngoài ra, nguồn thu đặc biệt bao gồm thu từ thuế tài nguyên, tiền sử dụng đất, bán nhà thuộc sở hữu nhà nước, viện trợ, và thu kết dư ngân sách năm trước, cũng đóng vai trò quan trọng trong tổng thu ngân sách. -**Sponsor**Looking to refine your article and boost its SEO? [Soku AI](https://pollinations.ai/redirect-nexad/bqW703a6?user_id=983577) can help you identify and rewrite key sentences to create coherent, SEO-friendly paragraphs Trained by advertising specialists and AI experts, Soku AI understands how to structure content effectively, ensuring your article captures the core meaning and attracts the right audience Let Soku AI optimize your content, so you can focus on creating.
B ả ng 3.7: C ơ c ấ u các kho ả n thu đặ c bi ệ t (%)
2 Thu tiền SDĐ và bán nhà thuộc SHNN
4 Thu kết dư NS năm trước
5 Thu để lại chi qua NSNN
Nguồn: Sở Tài chính, Cục thuế Tp Đà Nẵng
Trong cơ cấu khoản thu đặc biệt của Đà Nẵng, khoản thu này chủ yếu phụ thuộc vào thu tiền sử dụng đất và thu để lại chi qua Ngân sách Nhà nước (NSNN), chiếm tỷ lệ lớn nhất trong cơ cấu khoản thu đặc biệt Nhiều năm, hai khoản thu này chiếm đến 93% tổng thu đặc biệt, thể hiện sự phụ thuộc lớn vào lĩnh vực bất động sản Đặc biệt, khoản thu từ thu tiền sử dụng đất và bán nhà thuộc sở hữu nhà nước có tỷ trọng cao, lên tới 85% trong năm 2005 Tuy nhiên, đến năm 2012, khi thị trường bất động sản đóng băng, tỷ trọng các khoản thu này giảm xuống còn khoảng 40%, là mức thấp nhất trong giai đoạn, phản ánh rõ tác động của biến động thị trường đối với nguồn thu ngân sách của thành phố.
Trong giai đoạn từ 2003 đến 2012, khoản thu từ bán quyền sử dụng đất chỉ thu được một lần và không còn giá trị khi đã bán, gây ra hạn chế về nguồn thu lâu dài do quỹ đất ngày càng hạn chế Ngoài ra, ngân sách thành phố Đà Nẵng còn phụ thuộc vào các nguồn thu như xổ số kiến thiết, học phí, viện phí, những nguồn thu này mang tính không ổn định và khó đảm bảo sự bền vững trong ngân sách thành phố.