1. Trang chủ
  2. » Tất cả

CẶP PHẠM TRÙ KHẢ NĂNG HIỆN THỰC

3 11 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 192,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề: Anh (chị) hãy phân tích khả năng hiện thực? Bài làm Khi đã nhận thức được bản chất và các mâu thuẫn vốn có của sự vật, hiện tượng, chủ thể nhận thức đã có thể phán đoán được sự vật, hiện tượng đó, do sự phát triển của những mâu thuẫn bên trong nó quy định sẽ biến đổi theo hướng nào, nghĩa là đã có thể nhận thức được đồng thời cả hiện thực và khả năng biến đổi của sự vật, hiện tượng đó. Biện chứng của sự liên hệ lẫn nhau giữa quá khứ, hiện tại và tương lai được phản ánh trong các phạm trù “hiện thực” và “khả năng”. Khả năng là phạm trù phản ánh thời kỳ hình thành đối tượng, khi nó mới chỉ tồn tại dưới dạng tiền đề hay với tư cách là xu hướng. Vì thế khảnăng là tổng thể các tiền đề của sự biến đổi, sự hình thành của hiện thực mới, là cái có thể có, nhưng ngay lúc này còn chưa có; hiện thực là phạm trù phản ánh kết quả sự sinh thành, là sự thực hiện khả năng, và là cơ sở để định hình những khả năng mới. Một cách đơn giản hơn, khả năng là cái hiện chưa xảy ra, nhưng nhất định sẽ xảy ra khi có điều kiện thích hợp. Hiện thực là phạm trù phản ánh kết quả sự sinh thành, là sự thực hiện khả năng, và là cơ sở để định hình những khả năng mới. Hiện thực là cái đang có, đang tồn tại, gồm tất cả các sự vật, hiện tượng vật chất đang tồn tại khách quan trong thực tế và các hiện tượng chủ quan đang tồn tại trong ý thức, là sự thống nhất biện chứng của bản chất và các hiện tượng thể hiện chất đó. Nội dung của cặp phạm trù: Mối liên hệ giữa khả năng và hiện thực: + khả năng và hiện thực thống nhất biện chứng với nhau: Chúng loại trừ nhau theo những dấu hiệu căn bản nhất, nhưng không cô lập hoàn toàn với nhau. Sinh ra từ trong lòng hiện thực và đại diện cho tương lai ở thời hiện tại, khả năng làm bộc lộ hết tính tương đối của hiện thực. Khả năng và hiện thực tồn tại trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau, thường xuyên chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình phát triển của sự vật. Trong sự vật hiện đang tồn tại chứa đựng khả năng, sự vận động phát triển của sự vật chính là quá trình biến khả năng thành hiện thực. Trong hiện thực mới đó lại nảy sinh khả năng mới, khả năng mới này nếu có những điều kiện lại biến thành hiện thực mới. + Thông qua tính tương đối đó mà hiện thực hóa sự liên tục của các quá trình biến đổi. Mọi đối tượng đều bắt đầu phát triển từ sự chín muồi các tiền đề sinh thành của nó. Hiện thực bao hàm trong mình số lớn các khả năng, nhưng không phải tất cả đều được hiện thực hóa. Sự hiện thực hóa từng khả năng đòi hỏi phải có các điều kiện tương ứng. Trong xã hội, sự hiện thực hóa một khả năng nào đó không tách rời hoạt động thực tiễn, mà hoạt động đó chỉ có thể thành công khi con người tính đến các khả năng vốn có ở hiện thực, ở các xu hướng biến đổi khách quan của nó. Mục đích, phương tiện và các phương thức của hoạt động đó xét đến cùng cũng gắn với các hoàn cảnh khách quan tương ứng.

Trang 1

Đề: Anh (chị) hãy phân tích khả năng hiện thực?

Bài làm

Khi đã nhận thức được bản chất và các mâu thuẫn vốn có của sự vật, hiện tượng, chủ thể nhận thức đã có thể phán đoán được sự vật, hiện tượng đó, do sự phát triển của những mâu thuẫn bên trong nó quy định sẽ biến đổi theo hướng nào, nghĩa là đã có thể nhận thức được đồng thời cả hiện thực và khả năng biến đổi của sự vật, hiện tượng đó Biện chứng của sự liên hệ lẫn nhau giữa quá khứ, hiện tại và tương lai được phản ánh trong các phạm trù “hiện thực” và “khả năng”

Khả năng là phạm trù phản ánh thời kỳ hình thành đối tượng, khi nó mới chỉ tồn

tại dưới dạng tiền đề hay với tư cách là xu hướng Vì thế khảnăng là tổng thể các tiền

đề của sự biến đổi, sự hình thành của hiện thực mới, là cái có thể có, nhưng ngay lúc này còn chưa có; hiện thực là phạm trù phản ánh kết quả sự sinh thành, là sự thực hiện khả năng, và là cơ sở để định hình những khả năng mới Một cách đơn giản hơn, khả năng là cái hiện chưa xảy ra, nhưng nhất định sẽ xảy ra khi có điều kiện thích hợp

Hiện thực là phạm trù phản ánh kết quả sự sinh thành, là sự thực hiện khả năng,

và là cơ sở để định hình những khả năng mới Hiện thực là cái đang có, đang tồn tại, gồm tất cả các sự vật, hiện tượng vật chất đang tồn tại khách quan trong thực tế và các hiện tượng chủ quan đang tồn tại trong ý thức, là sự thống nhất biện chứng của bản chất và các hiện tượng thể hiện chất đó

Nội dung của cặp phạm trù:

Mối liên hệ giữa khả năng và hiện thực:

+ khả năng và hiện thực thống nhất biện chứng với nhau: Chúng loại trừ nhau theo những dấu hiệu căn bản nhất, nhưng không cô lập hoàn toàn với nhau Sinh ra từ trong lòng hiện thực và đại diện cho tương lai ở thời hiện tại, khả năng làm bộc lộ hết tính tương đối của hiện thực.Khả năng và hiện thực tồn tại trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau, thường xuyên chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình phát triển của sự vật Trong sự vật hiện đang tồn tại chứa đựng khả năng, sự vận động phát triển của sự vật chính là quá trình biến khả năng thành hiện thực Trong hiện thực mới

đó lại nảy sinh khả năng mới, khả năng mới này nếu có những điều kiện lại biến thành hiện thực mới

+ Thông qua tính tương đối đó mà hiện thực hóa sự liên tục của các quá trình biến đổi Mọi đối tượng đều bắt đầu phát triển từ sự chín muồi các tiền đề sinh thành của

nó Hiện thực bao hàm trong mình số lớn các khả năng, nhưng không phải tất cả đều được hiện thực hóa Sự hiện thực hóa từng khả năng đòi hỏi phải có các điều kiện tương ứng Trong xã hội, sự hiện thực hóa một khả năng nào đó không tách rời hoạt động thực tiễn, mà hoạt động đó chỉ có thể thành công khi con người tính đến các khả năng vốn có ở hiện thực, ở các xu hướng biến đổi khách quan của nó Mục đích, phương tiện

và các phương thức của hoạt động đó xét đến cùng cũng gắn với các hoàn cảnh khách quan tương ứng

Ví dụ: Để cách mạng chủ nghĩa có thể nổ ra cần có các điều kiện sau: thứ nhất là

giai cấp thống trị không thể giữ nguyên sự thống trị của mình dưới dạng cũ nữa; thứ hai là giai cấp bị trị bị bần cùng hóa quá mức bình thường; thứ ba là tính tích cực của

Trang 2

quần chúng tăng lên đáng kể; thứ tư là giai cấp cách mạng có đủ năng lực tiến hành

những hành động cách mạng mạnh mẽ đủ sức đập tạn bộ máy chính quyền cũ Thiếu

một trong các điều kiện này, cách mạng xã hội chủ nghĩa không thể nổ ra

Các dạng khả năng:

Có nhiều cơ sở phân loại khả năng Có thể chia các khả năng thành hai nhóm phụ

thuộc vào việc cái gì quy định chúng: các thuộc tính và mối liên hệ tất nhiên hay ngẫu

nhiên Những khả năng bị quy định bởi những thuộc tính và mối liên hệ tất nhiên của

đối tượng được gọi là khả năng thực; còn những khả năng bị quy định bởi các thuộctính

và mối liên hệ ngẫu nhiên là khả năng hình thức Trong những điều kiện thích hợp khả

năng thực tất yếu được thực hiện, còn khả năng hình thức có thể được thực hiện cũng

có thể không

Căn cứ vào mối liên hệ với những điều kiện này như thế nào, khả năng được chia

ra thành khả năng cụ thể và khả năng trừu tượng Loại thứ nhất là những khả năng mà

để thực hiện chúng hiện đã có đủ điều kiện, loại thứ hai là những khả năng mà ở thời

hiện tại còn chưa có những điều kiện thực hiện, nhưng điều kiện có thể xuất hiện khi

đối tượng đạt tới một trình độ phát triển nhất định

Có hai khả năng là: khả năng bản chất và khả năng chức năng Khả năng bản chất

là những khả năng mà việc thực hiện chúng làm biến đổi bản chất của đối tượng; còn

khả năng chức năng là những khả năng gây ra sự biến đổi thuộc tính, trạng thái của đối

tượng, mà vẫn không làm thay đổi bản chất

Căn cứ vào tính xác định chất hay lượng của đối tượng bị biến đổi do thực hiện

khả năng gây ra mà chia ra thành khả năng chất hay khả năng lượng Việc khảo sát các

khả năng thông qua quan hệ mâu thuẫn là cơ sở để chia các khả năng thành khả năng

loại trừ và khả năng tương hợp Loại thứ nhất là khả năng mà việc thực

hiện nó khiến khả năng khác bị triệt tiêu, trở thành mất khả năng; loại thứ hai là

khả năng mà việc chuyển hóa nó thành hiện thực không thủ tiêu khả năng khác

Ý nghĩa phương pháp luận:

Thứ nhất, khả năng và hiện thực tồn tại trong mối liên hệ không tách rời nhau và

luôn chuyển hóa cho nhau; do hiện thực được chuẩn bị bằng khả năng còn khả năng

hướng tới sự chuyển hóa thành hiện thực, nên trong hoạt động nhận thức và hoạt động

thực tiễn cần dựa vào hiện thực chứ không thể dựa vào khả năng

Thứ hai, phát triển là quá trình trong đó khả năng chuyển hóa thành hiện thực;

còn hiện thực này trong quá trình phát triển của mình lại sinh ra các khả năng mới,

trong điều kiện thích hợp các khả năng mới ấy lại chuyển hóa thành hiện thực, tạo

thành quá trình vô tận; do vậy, sau khi đã xác định được các khả năng phát triển của sự

vật, hiện tượng thì mới tiến hành lựa chọn và thực hiện khả năng

Thứ ba, trong quá trình thực hiện khả năng đã lựa chọn, cần chú ý trong một sự

vật, hiện tượng có thể chứa nhiều khả năng khác nhau, do vậy cần tính đến mọi khả

năng để dự kiến các phương án thích hợp cho từng trường hợp có thể xảy ra

Thứ tư, cùng trong những điều kiện nhất định, ở cùng một sự vật, hiện tượng có

thể tồn tại một số khả năng và ngoài một số khả năng vốn có, thì khi có điều kiện mới

bổ sung, ở sự vật, hiện tượng sẽ xuất hiện thêm một số khả năng mới dẫn đến sự xuất

Trang 3

hiện một sự vật, hiện tượng mới, phức tạp hơn Vì vậy, trong hoạt động nhận thức và

hoạt động thực tiễn phải lựa chọn khả năng trong số hiện có, trước hết phải chú ý đến

khả năng gần, khả năng tất nhiên vì chúng dễ chuyển hóa thành hiện thực hơn

Thứ năm, khả năng chỉ chuyển hóa thành hiện thực khi có đầy đủ các điều kiện

cần thiết nên cần tạo ra các điều kiện đó để nó chuyển hóa thành hiện thực Cần tránh

sai lầm, hoặc tuyệt đối hóa vai trò của nhân tố chủ quan, hoặc xem thường vai trò ấy

trong quá trình biến đổi khả năng thành hiện thực

Ngày đăng: 22/11/2022, 21:10

w