Untitled 1 HỌC VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN KHOA CƠ BẢN – BỘ MÔN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN ĐỀ TÀI “Phân tích vấn đề thu phí xe ô tô vào các quận nội thành Hà Nội từ gi.
Trang 1H ỌC VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN KHOA CƠ BẢN – BỘ MÔN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TI ỂU LUẬN MÔN TRI ẾT HỌC MÁC LÊNIN
ĐỀ TÀI: “Phân tích vấn đề thu phí xe ô tô vào các quận nội thành Hà Nội
t ừ giác độ cặp phạm trù khả năng và hiện thực”
GVHD: TS Nguyễn Tiến Hùng SVTH: Đào Đồng Quang Vinh
LỚP: Kinh Tế Phát Triển 13
MSV: 7133105037
HÀ N ỘI - 2022
Trang 2STT Nội dung nhận xét Giảng viên nhận xét Điểm kết luận Điểm
giảng viên
1 Thể thúc văn bản
2 Bố cục, kết cấu
đề tài
4 Phương pháp
trình bày
5 Tài liệu tham khảo
Họ và tên giảng viên: TS Nguyễn Tiến Hùng
Chữ ký giảng viên:
Trang 3
MỤC LỤC
DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CẶP PHẠM TRÙ KHẢ NĂNG VÀ HIỆN THỰC
1.1 Khái niệm về khả năng và hiện thực
1.2 Mối quan hệ biện chứng giữa khả năng và hiện thực
1.3 Ý nghĩa của phương pháp luận
CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ THU PHÍ XE Ô TÔ VÀO CÁC QUẬN NỘI THÀNH HÀ NỘI
TỪ GIÁC ĐỘ CẶP PHẠM TRÙ KHẢ NĂNG VÀ HIỆN THỰC
2.1 Đặt vấn đề cho đề án thu phí xe ô tô vào các quận nội thành Hà Nội
2.2 Lợi ích và điểm bất cập của đề án thu phí xe ô tô vào các quận nội thành Hà Nội?
2.3 Những kiến nghị cho đề án
PHẦN KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
1, TP : Thành phố
2, UBND TP : Uỷ ban nhân dân thành phố
3, HĐND TP : Hội đồng nhân dân thành phố
4, GTVT: Giao thông vận tải
5, QLGTCC: Quản lý giao thông công cộng
Trang 5PH ẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hà Nội là Thủ đô – trái tim của cả nước, trung tâm đầu não về kinh tế, văn hoá, chính trị đã và đang vẫn luôn phấn đấu không ngừng để phát triển, trở thành một thành phố văn minh, hiện đại và đáng sống Tuy nhiên, Hà Nội lại phải đối mặt với một vấn đề nan giải rất lớn đó là sự ùn tắc giao thông, nhất là vào những giờ cao điểm buổi sáng hay chiều tối gây ra thiệt hại lớn về kinh tế, môi trường, làm mất nhiều thời gian và gây ra nhiều hệ luỵ khác khó có thể lường trước
Tháng 11 năm 2018, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đã đồng ý đề nghị của Bộ Tài chính với đề án thu phí xe ô tô vào các quận thành đô Hà Nội Từ đó, UBND TP Hà Nội sẽ tiếp thu các ý kiến của Bộ Tài chính để lập đề án trên trình HĐND TP Hà Nội trước khi báo cáo Chính phủ theo quy định tại luật phí và lệ phí
Đến tháng 11/2021, Sở giao thông vận tải đã trình UBND thành phố Hà Nội xem xét
đề án thu phí xe ô tô vào các quận nội thành Hà Nội, hoạt động thu phí dự kiến sẽ lập 87 trạm thu phí, thực hiện vào thời điểm năm 2025, mức phí từ 50.000 - 100.000 đồng/lượt Mới đây vào tháng 10/2022, sau 2 lần trình và được UBND thành phố Hà Nội yêu cầu chỉnh sửa, bổ sung, tư vấn, thì Sở GTVT cho biết số trạm thu phí xe ô tô vào nội đô sẽ tăng so với con số 87 trạm đưa ra trước đây lag 100 trạm
Về thực tế, hạ tầng giao thông của Hà Nội còn nhiều thiếu sót, chưa thể đáp ứng được nhu cầu giao thông hiện nay nên việc thu thêm phí vẫn còn nhiều bất cập, sẽ gây tranh cãi, bức xúc và nảy sinh mâu thuẫn với cả cơ quan chức năng với người dân
Nhận thấy tầm quan trọng của đề tài, em muốn vận dụng những kiến thức đã học về
cặp phạm trù khả năng và hiện thực để phân tích khả năng thực tế, mức độ khả thi của đề thu phí xe ô tô vào các quận thành đô Hà Nội
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Từ tìm hiểu giác độ cặp phạm trù khả năng và hiện thực để phân tích, đào sâu vào những vấn đề của việc thu phí xe ô tô vào các quận nội thành Hà Nội để hiểu rõ mức độ khả thi của đề án, từ đó vạch ra những phương án tiếp theo phù hợp hơn cho đề án này
Trang 6Từ những mục đích nghiên cứu trên, tiểu luận đặt ra các nhiệm vụ chính như sau:
- Nghiên cứu các vấn đề lý thuyết liên quan đến cặp phạm trù khả năng và hiện thực
- Nghiên cứu, tìm hiểu về vấn đề thu phí xe ô tô vào các quận nội thành Hà Nội từ giác độ cặp phạm trù khả năng và hiện thực
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Tiểu luận tập trung nghiên cứu về các vấn đề hiện còn đang bất cập của việc thu phí
xe ô tô vào các quận nội thành Hà Nội
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Khái quát các vấn đề lý thuyết về cặp phạm trù khả năng và hiện thực: Khái niệm,
mối quan hệ và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù khả năng và hiện thực
Tập trung làm rõ vấn đề hiện còn đang bất cập của việc thu phí xe ô tô vào các quận nội thành Hà Nội hiện nay từ giác độ của cặp phạm trù khả năng và hiện thực theo triết học
của Mác – Lênin
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Dựa trên cơ sở của chủ nghĩa Mác – Lênin về cặp phạm trù khả năng và hiện thực
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện tiểu luận này, em sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp quan sát: Quan sát thực tiễn tình trạng giao thông nội đô Hà Nội vào các giờ cao điểm
- Phương pháp thu thập và tổng hợp tài liệu: Tổng hợp các kiến thức lý thuyết trong giáo trình các trường đại học, kiến thức trên lớp, tài liệu tham khảo online
- Phương pháp phân tích: Từ sự quan sát thực tế và những kiến thức lý thuyết tổng hợp được đã giúp em phân tích rõ nhất về vấn đề thu phí xe ô tô vào các quận nội thành
Hà Nội
5 Kết cấu tiểu luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung của tiểu luận gồm 2 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận của cặp phạm trù khả năng và hiện thực
Chương 2: Vấn đề thu phí xe ô tô vào các quận nội thành Hà Nội từ giác độ cặp phạm trù khả năng và hiện thực
Trang 7PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CẶP PHẠM TRÙ KHẢ NĂNG VÀ HIỆN THỰC 1.1 Khái niệm về khả năng và hiện thực:
“Khả năng là cái hiện chưa xảy ra, nhưng nhất định sẽ xảy ra khi có điều kiện thích hợp Hiện thực là cái đang có, đang tồn tại” [1, tr 104]
Ví dụ 1: Hiện thực là ta đang có một mảnh đấy 100m2 và khả năng là ta có thể xây được nhà vào năm sau khi có đủ tiền
Ví dụ 2: Cây táo mọc lên từ hạt táo là hiện thực Hạt táo có khả năng này mầm thành cây táo khi có đủ điều kiện khí hậu, ánh sáng, độ ẩm,…
Ví dụ 3: Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đã đồng ý đề nghị của Bộ Tài chính về các nội dung TP Hà Nội đề xuất việc thu phí xe ô tô vào nội thành Hà Nội – đó là hiện thực
Và khả năng là hoạt động thu phí dự kiến sẽ lập 87 trạm thu phí, thực hiện vào thời điểm năm 2025, mức phí từ 50.000 - 100.000 đồng/lượt
“Khả năng là "cái hiện chưa có" nhưng bản thân khả năng với tư cách "cái chưa có"
đó lại tồn tại Tức là các sự vật được nói tới trong khả năng chưa tồn tại, nhưng bản thân khả năng để xuất hiện sự vật đó thì tồn tại chúng ta cũng cần phải phân biệt khả năng với tiền đề, hoặc điều kiện của một sự vật nào đó Tiền đề hay điều kiện của một sự vật nào đó đều là những cái hiện đang tồn tại thật sự là những yếu tố hiện thực trên cơ sở đó xuất hiện cái mới Còn khả năng không phải là bản thân các tiền đề, điều kiện của cái mới mà là cái mới đang ở dạng tiềm thế, chỉ trong tương lai với những điều kiện thích hợp nó mới tồn tại thực Khả năng cũng không đồng nhất với cái ngẫu nhiên và phạm trù xác suất” [4, tr 116] Hiện thực có 2 dạng: Hiện thực khách quan là tất cả các sự vật, hiện tượng vật chất đang tồn tại khách quan trong thực tế Hiện tượng chủ quan là những gì đang tồn tại trong
ý thức, là sự thống nhất biện chứng của bản chất và các hiện thực chủ quan thể hiện bản chất đó
Khả năng được chia thành 2 loại xét theo thuộc tính và mối liên hệ: Khả năng thực (quy đinh bởi những thuộc tính và mối liên hệ tất nhiên của đối tượng) và khả năng hình thức (quy đinh bởi những thuộc tính và mối liên hệ ngẫu nhiên của đối tượng) Dựa vào điều kiện thích hợp để hiện thực hoá khả năng, ta chia khả năng thành: Khả năng cụ thể
Trang 8(đã có đủ điều kiện thực hiện) và khả năng trừu tượng (chưa có đủ khả năng thực hiện ở hiện tại)
Tóm lại: Hiện thực = Khả năng + Điều kiện thích hợp
1.2 Mối quan hệ biện chứng giữa khả năng và hiện thực
Khả năng và hiện thực là những mặt đối lập, thống nhất biện chứng, loại trừ nhau theo những dấu hiệu căn bản nhất nhưng không cô lập hoàn toàn với nhau, phản ánh biện chứng của sự liên hệ lẫn nhau giữa quá khứ, hiện tại và tương lai Quá trình biến đổi đó liên tục diễn ra, làm cho sự vận động và phát triển một cách vô tận trong thế giới vật chất Bởi vậy chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, không thể tách rời và thường xuyên chuyển hoá lẫn nhau để phát triển
Khả năng có tính tương đối, liên tục biến đổi theo sự thay đổi của điều kiện tự nhiên
là xuất hiện thêm những khả năng mới phù hợp hơn hoặc bổ trợ cho những khả năng vốn sẵn có Từ đó cũng là thay đổi hiện thực theo chiều hướng khác nhau
Ví dụ 4: Khả năng tuần sau thi giữa kỳ và có công văn tuần sau thi giữa kỳ là hiện thực Tuy nhiên, có thể do dịch bệnh có khả năng bùng phát nên lịch thi bị thay đổi là hiện thực mới
Ví dụ 5: Các cuộc khởi nghĩa có khả năng nổ ra nhiều hay ít tuỳ thuộc vào các điều kiện về tương quan lực lượng, điều kiện quân tư trang, khả năng tập hợp mọi người của thủ lĩnh,…
Phạm trù khả năng thể hiện khi đối tượng còn ở dạng tiền đề, xu hướng, phản ánh toàn thể các tiền để, sự hình thành của hiện thực mới Lúc này, hiện thực là phản ánh kết quả sự hình thành, thực hiện của khả năng và cũng là cơ sở để định hình những khả năng mới
Để một khả năng nào đó biến thành hiện thực thường cầ có không chỉ 1 điều kiện mà
là một tập hợp tất cả các điêu kiện thích hợp mới có thể hiện thực hoá khả năng
Ví dụ 6: Để khả năng mạ có thể phát triển thành lúa thì cần tất cả các điều kiện: Ánh sáng, phân bón, nước, kỹ thuật trồng,…
Quá trình biến khả năng thành hiện thực diễn ra rất đa dạng, phong phú Trong giới
tự nhiên, quá trình khả năng thành hiện thực chủ yếu là quá trình khách quan vì không phải mọi khả năng đều biến thành hiện thực một cách tự phát, có thể xảy ra 3 trường hợp nhau: Chỉ qua 1 con đường tự nhiên (các quá trình vũ trụ, địa chất), qua con đường tự nhiên nhưng nhờ con người (tạo ra giống mới có thể sống được ở điều kiện tự nhiên khác với
Trang 9điều kiện sống của giống gốc), bắt buộc phải có điều kiện của con người (tạo ra các sản phẩm vật chất như tàu vũ trụ, tơ tổng hợp,…)
1.3 Ý nghĩa của phương pháp luận
Thứ nhất, Khả năng và hiện thực luôn tồn tại trong mối liên hệ không tách rời nhau, luôn chuyển hoá cho nhau: Khả năng biểu hiện khuynh hướng phát triển của sự
vật, hiện tượng trong tương lai nên khi đề rả các bản kế hoạch, dự trù thì ta phải tính đến mọi khả năng có thể xảy ra để sát với thực tiễn nhất có thể, tránh được những rủi ro đáng tiếc hay sự thất bại Từ những khả năng mình đặt ra trong quá trình lên kế hoạch, dự trù
có thể chuyển hoá thành hiện thực và trong hoạt động thực tiễn và nhận thức ta cần dựa vào hiện thực đang có để thực hiện
Ví dụ 7: Khi lên ý tưởng tổ chức một hoạt động dã ngoại các khoa trong toàn
trường, ta cần phải vạch ra các khả năng có thể xảy ra trong chuyển đi đó (nhất các
những rủi ro có thể gặp phải) như về vấn đề thời tiết (hôm đó có khả năng mưa bao nhiêu
%, hôm đó có lạnh không?,…), về số lượng người tham gia (mỗi khoa sẽ có bao nhiêu người tham gia? Số thành viên chắc chắn đi là bao nhiêu?),… Từ đó, ta sẽ phát động và xem xét vào thực tế để xem hiện thực mọi người có hưởng ứng không, liên tục cập nhất tình hình, số lượng sinh viên tham gia, xem dự báo thời tiết để làm căn cứ thực tiễn chuẩn
bị cho chuyến đi dã ngoại đó
Hoạt động nhận thức có nhiệm vụ: Xác định khả năng phát triển của sự vật, hiện tượng và tìm ra khả năng ấy trong chính bản thân nó
Thứ hai, sự phát triển giữa khả năng và hiện thực là một quá trình vô tận: Khả
năng chuyển hoá thành hiện thực, hiện thực trong quá trình phát triển của mình lại sinh ra các khả năng mới và các khả năng mới ấy khi có đủ điểu kiện thích hợp lại chuyển hoá thành hiện thực Vì vậy, trước khi tiến hành lựa chọn và thực hiện thì cần xác định được các khả năng phát triển của sự vật, hiện tượng đó
Ví dụ 8: Hạt thóc có khả năng nảy mầm thành cây lúa, trong quá trình hình thành và phát triển cây lúa lại phát sinh ra các khả năng mới: Có thể chết vì sâu bệnh, có thể chết
vì ngập úng, có thể thu được đúng mùa vụ,…
Thứ ba, trong một sự vật, hiện tượng có thể chứa nhiều khả năng khác nhau vậy
nên trước khi thực hiện khả năng đã lựa chọn thì cần xem xét tới các khả năng khác có thể xảy ra để có phương án dự phòng cho từng trường hợp đó
Trang 10Ví dụ 9: Khi tiến hành thu phí xe ô tô vào nội đô có thể xảy ra các khả năng: Nhận được ý kiến đồng tính hoặc nhận được ý kiến trái chiều, tình trạng ùn tắc giao thông được cải thiện hoặc tình trạng ùn tắc giao thông không có chuyển biến tích cực,…
Thứ tư, trong cùng điều kiện, một sự vật, hiện tượng có thể tồn tại khả năng vốn
có và khả năng xuất hiện thêm khi có điều kiện bổ sung dẫn đến sự xuất hiện một sự
vật, hiện tượng mới phức tạp hơn Vì vậy, khi lựa chọn khả năng trong số những khả năng hiện có, trước hết cần lựa chọn những khả năng gần, khả năng tất nhiên trước vì chúng sẽ dễ thành hiện thực hơn
Ví dụ 10: Khi lập chốt kiểm soát người qua lại từ vùng dịch vào thành phố, có các trường hợp: Người đó đang bị sốt nên có khả năng nhiễm covid, người đó đến từ vùng có
số ca nhiễm thấp, người đó đến từ vùng dịch Thì mực độ ưu tiên sẽ là người đó đang bị sốt nên có khả năng nhiễm covid, người đó đến từ vùng dịch, người đó đến từ vùng có số
ca nhiễm thấp
Thứ năm, khả năng chỉ có thể chuyển hoá thành hiện thực khi nó có đủ những điều kiện cần thiết, vậy nên để quá trình diễn ra sự chuyển hoá từ khả năng thành hiện
thực ta cần tránh sai lầm, hoặc tuyệt đối hoá vai trò của nhân tố chủ quan, hoặc xem thường vai trò ấy
Ví dụ 11: Điều kiện để được học bổng xuất sắc là kết quả học tập (thang điểm 4) từ 3,6 đến 4,0 và kết quả rèn luyện >=90 Nếu thiếu 1 trong 2 điều kiện cũng không thể xét được học bổng xuất sắc
Trang 11CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ THU PHÍ XE Ô TÔ VÀO CÁC QUẬN NỘI THÀNH
HÀ NỘI TỪ GIÁC ĐỘ CẶP PHẠM TRÙ KHẢ NĂNG VÀ HIỆN THỰC 2.1 Đặt vấn đề cho đề án thu phí xe ô tô vào các quận nội thành Hà Nội
Tình hình giao thông ở Hà Nội vẫn luôn là một thực trạng nhức nhối, đau đầu của cả người dân cũng như cơ quan chức trách khi nhiều năm qua, câu chuyện ùn tắc giao thông vẫn tồn tại, diễn ra Việc đặt ra các giải pháp để giải quyết được chỗ ùn tắc này thì lại phát sinh ra những chỗ ùn tắc khác, như một vòng luẩn quẩn không thể nào đi tới hồi kết Mặc
dù rất nhiều năm qua, Hà Nội đã chi ngân sách rất lớn để giải quyết tình trạng này nhưng kết quả thì nó lại càng ngày càng gia tăng, gây áp cho cơ sở hạ tầng giao thông và khó khăn cho lực lượng chức năng trong việc kiểm soát, quản lý Theo thống kê của sở GTVT Hà Nội, hiện nay đã xoá sổ được 36 điểm ùn tắc giao thông nhưng vẫn còn hơn 30 điểm ùn tắc nữa như tuyến đường: Cầu Giấy, Hồ Tùng Mậu, Mnh Khai, Trường Chinh, Nguyễn Trãi, Tố Hữu, Lê Văn Lương,…
Việc thường xuyên tắc đường xảy ra một phần là do quỹ đất ở Hà Nội dành cho giao thông rất ít, chỉ đạt 1,2% rất nhỏ so với quy định 5-6%, hạ tầng cơ sở còn thiếu thốn, yếu kém Những điểm dừng thường có số dây đèn đỏ là khoảng 90 giây, trong khi đèn xanh chỏ có khoản 40 giây khiến cho hiện tượng dồn ý theo một đoạn đường dài, người dân vì muốn được đi nhanh nên đã đi lên cả vỉa hè, lách qua những điểm trông xe, quán nước để
có thể đi được nhanh nhất Bên cạnh đó, các công trình, dự án đang xây dựng hoặc bị chậm tiến độ đã lấn chiếm lòng đường làm hẹp diện tích lưu thông, đi lại Tại các cầu lớn, nút giao, các ngõ, đường ngang có mật độ phương tiện tham gia giao thông lớn nên thường hay xảy ra sự cố va chạm giao thông, tai nạn giao thông nên việc lưu thông cũng bị gián đoạn Vấn đề đặc biệt được nhắc đến là các phương tiện giao thông tăng chóng mặt trong khi cơ sở hạ tầng chưa kịp đáp ứng, thêm nữa là kỹ năng và ý thức tham gia giao thông và các doanh nghiệp vận tải chưa cao khiến tình trạng ùn tắc ngày càng tăng cao Theo thống
kê của phòng CSGT Hà Nội thì vào cuối năm 2008 Hà Nội có 2,2 triệu phương tiện, 700.000 ô tô các loại và đến tháng 11 năm 2022 đã tăng lên 7,7 triệu phương tiện, hơn 1 triệu ô tô (chưa kể còn khoảng 1,2 triệu phương tiện từ địa phương khác tham gia giao thông tại Thủ đô) Với lượng phương tiện giao thông cá nhân quá nhiều như vậy mà nhất
là xe ô tô đã chiếm phần lớn diện tích đường đi lại của người dân, các phương tiện giao thông công cộng dù có sức chứa lớn, phân bố với số lượng dày đặc, phủ kín các tuyến đường giao thông lớn, rất thuận tiện mà chi phí lại rẻ nhưng không được phần đông sử