1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Từ nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù “khả năng và hiện thực”, vận dụng để nhận thức và giải quyết Vấn đề giải quyết ô nhiễm đất và ô nhiễm nước ở Việt Nam

19 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Từ nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù “khả năng và hiện thực”, vận dụng để nhận thức và giải quyết Vấn đề giải quyết ô nhiễm đất và ô nhiễm nước ở Việt Nam
Tác giả Nhóm Sinh Viên Trường Đại Học Luật Hà Nội
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Triết Học Mác - Lênin và Công Nghệ Môi Trường
Thể loại Bài tập nhóm
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 318,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI --- ---BÀI TẬP NHÓM MÔN TRIẾT HỌC Đề tài: Từ nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù “khả năng và hiện thực”, vận dụng để nhận th

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

-

-BÀI TẬP NHÓM MÔN TRIẾT HỌC

Đề tài: Từ nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù “khả năng và hiện thực”, vận dụng để nhận thức

và giải quyết: “Vấn đề giải quyết ô nhiễm đất và ô nhiễm nước ở Việt Nam của ngành công nghệ môi trường”

Nhóm : 4

Năm 2021

BẢNG ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG NHÓM

Trang 2

Nhóm: 4

 Lớp: 4604

 Chủ đề tranh biện Từ nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù “khả năng và

hiện thực”, vận dụng để nhận thức và giải quyết: “Vấn đề giải quyết ô nhiễm đất và ô nhiễm

nước ở Việt Nam của ngành công nghệ môi trường”

1 Kế hoạch làm việc của nhóm

2 Phân chia công việc và họp nhóm,

S

T

T

Họ và tên Công việc

thực hiện

Tiến độ thực hiện (đúng hạn)

Mức độ hoàn thành

Họp nhóm

Xếp loại

gia đầy đủ

Tích cực sôi nổi

Đóng góp nhiều ý tưởng

1 Nguyễn Thị Hồng

Thơm

Xây dựng bài làm, tổng họp báo cáo

2 Lê Nguyễn Thảo

Trang

Xây dựng bài làm, làm Slide tranh biện

3 Nguyễn Phương

Thủy

Xây dựng bài làm, chỉnh sửa báo cáo, thuyết trình báo cáo

4 Nguyễn Anh Thi Xây dựng bài làm, thuyết

trình báo cáo

5 Vương Toàn Thuận Xây dựng bài làm    B

6 Trịnh Dĩnh San Xây dựng bài làm   

7 Ngô Hoàng Hà

Phương

8 Hoàng Thị Phương

Thanh

9 Nguyễn Thị Diễm

Quỳnh (A)

10 Nguyễn Thị Diễm

Quỳnh (B)

11 Đậu Thị Tâm Xây dưng bài làm, thuyết

trình

    A

Trang 3

MỤC LỤC

A PHẦN MỞ ĐẦU (LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI) 4

B NỘI DUNG 5

I Quan điểm của Triết học Mác - Lênin về cặp phạm trù “khả năng - hiện thực” 5

1 Cặp phạm trù khả năng - hiện thực 5

2 Ý nghĩa phương pháp luận 6

II Từ nội dung và ý nghĩa của cặp phạm trù, nhận thực và giải quyết vấn đề.7

1 Các khái niệm 8

2 Vận dụng để giải quyết vấn đề 8

3.Cách xác định phương hướng phát triển đúng đắn cho ngành công nghệ môi trường tại Việt Nam 14

C KẾT LUẬN 15

D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 17

Trang 4

A PHẦN MỞ ĐẦU (LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI)

Vấn đề môi trường vẫn luôn là vấn đề nóng hổi được chúng ta quan tâm vì nó đóng một vai trò rất đỗi quan trọng trong đời sống con người Bàn về môi trường, hai trong số những bộ phận hợp thành quan trọng nhất là môi trường đất

và nước Bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm của một cá nhân hay một tập thể nó là trách nhiệm của cả một cộng đồng Tuy nhiên, hiện nay, hai môi trường này đang bị xuống cấp một cách đáng báo động và buộc chúng ta phải nhìn nhận lại hiện thực đã và đang xảy với môi trường cũng như khả năng tương lai môi trường sẽ bị biến đổi, ảnh hưởng như thế nào nếu tình trạng này còn tiếp tục xảy ra

Với kiến thức và khả năng của sinh viên bậc đại học, chúng em xin vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù “khả năng- hiện thực”

để nhận thức vấn đề “ Vấn đề giải quyết ô nhiễm đất và ô nhiễm nước của ngành công nghệ môi trường tại Việt Nam”

Trang 5

B NỘI DUNG

I Quan điểm của Triết học Mác - Lênin về cặp phạm trù “khả năng - hiện thực”

1 Cặp phạm trù khả năng - hiện thực.

a Khái niệm

- Khả năng:

“Phạm trù triết học phản ánh thời kỳ hình thành đối tượng, khi mới chỉ tồn tại dưới dạng tiền đề hay xu hướng Vì thế, khả năng là tổng thể các tiền đề của sự biến đổi, sự hình thành của hiện thực mới, là cái có thể có nhưng ngay lúc này còn chưa có” (Giáo trình Triết học Mác - Lênin, trang 228)

Là cái chưa xảy ra nhưng sẽ xảy ra nếu có điều kiện thích hợp

- Hiện thực:

“Phạm trù triết học phản ánh kết quả sự sinh thành, là sự thực hiện khả năng, là cơ sở để định hình những khả năng mới” (Giáo trình Triết học Mác -Lênin, trang 228)

Là cái đang có, đang tồn tại, bao gồm cả hiện thực khách quan và những hiện tượng chủ quan tồn tại trong ý thức con người

Quá trình đó được tiếp tục, làm cho sự vật vận động, phát triển một cách

vô tận trong thế giới vật chất Quan hệ giữa khả năng và hiện thực có tính phức tạp Cùng trong những điều kiện nhất định, ở cùng một sự vật có thể tồn tại nhiều khả năng chứ không phải chỉ một khả năng

Ngoài những khả năng vốn sẵn có, trong những điều kiện mới thì sự vật

sẽ xuất hiện thêm những khả năng mới, đồng thời bản thân mỗi khả năng cũng thay đổi theo sự thay đổi của điều kiện Để khả năng biến thành hiện thực, thường cần không phải chỉ một điều kiện mà là một tập hợp nhiều điều kiện

b Nội dung: mối liên hệ giữa khả năng và hiện thực.

Khả năng và hiện thực thống nhất biện chứng với nhau: loại trừ nhau nhưng không cô lập hoàn toàn với nhau Khả năng và hiện thực luôn đặt trong mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, chuyển hóa nhau và không tách rời nhau Khả năng là tiền đề của hiện thực, hiện thực là cụ thể hóa của khả năng Hai bên luôn

có sự tác động qua lại và đó là một quá trình vô tận

Khả năng sinh ra từ hiện thực, đại diện cho tương lai của hiện thực đó

Trang 6

Hiện thực bao hàm nhiều khả năng nhưng không phải khả năng nào cũng được hiện thực hóa, mà phải phụ thuộc vào điều kiện thích hợp Khả năng khi gặp điều kiện thích hợp sẽ chuyển hóa thành hiện thực, trong hiện thực mới đó lại bao chứa những khả năng

→ Khả năng làm bộc lộ tính tương đối của hiện thực (hiện thực không phải là luôn luôn như thế mà nhờ có khả năng, trong tương lai của hiện thực đó, nó có thể thay đổi.

Hiện thực hóa khả năng chỉ thành công khi con người tính đến các khả năng vốn có ở hiện thực, các xu hướng biến đổi khách quan của nó

Hoạt động thực tiễn như là quá trình chuyển hóa mục đích (khả năng) thành sản phẩm của hoạt động (hiện thực) là sự thống nhất khả năng và hiện thực

Khả năng và hiện thực có mối liên hệ với nhau, do đó sẽ là sai lầm nghiêm

trọng nếu tách rời khả năng và hiện thực Nếu không xác định được khả năng trước khi hiện thực xảy ra thì chủ thể sẽ không dự kiến được tương lai phát triển của nó, do đó cũng có thể dẫn đến việc không đưa ra được phương án điều chỉnh, phát triển sao cho phù hợp, hoặc giải pháp ngăn chặn, cải thiện nó theo nhu cầu của bản thân Ngược lại, nếu chỉ đưa ra khả năng mà không hiện thực hóa nó, thậm chí lẫn lộn giữa hiện thực- khả năng, chỉ dựa lầm vào cái mới tồn tại khả năng chứ chưa phải hiện thực sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng

c Quá trình hình thành từ khả năng đến hiện thực ở những phạm vi khác nhau thì khác nhau.

- Quá trình biến khả năng thành hiện thực diễn ra ở trong tự nhiên và trong xã hội không giống nhau

+ Thứ nhất: Loại khả năng mà điều kiện để biến chúng thành hiện thực chỉ có thể là bằng con đường tự nhiên

+ Thứ hai: Loại khả năng có thể biến thành hiện thực bằng con đường tự nhiên nhưng nhờ sự tác động của con người

+ Thứ ba: Loại khả năng mà trong điều kiện này nếu không có sự tham gia tác động của con người thì không thể trở thành hiện thực

- Trong lĩnh vực xã hội, bên cạnh các điều kiện khách quan muốn biến khả năng thành hiện thực còn cần có cả điều kiện chủ quan là hoạt động thực tiễn của con

Trang 7

người Ở đây, khả năng không khi nào tự nó biến thành hiện thực mà không có

sự tham gia của con người

2 Ý nghĩa phương pháp luận

- Khả năng và hiện thực tồn tại biện chứng với nhau, luôn chuyển hóa cho nhau

(hiện thực bào chứa các khả năng, khả năng hướng tới sự hiện thực hóa) nên trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, cần dựa vào hiện thực, không dựa vào khả năng, sống khi lập kế hoạch vẫn cần tính đến các khả năng có thể xảy ra để đảm bảo kế hoạch sát với thực tiễn

- Phát triển là quá trình vô tận, trong đó khả năng chuyển hóa thành hiện thực, còn hiện thực liên tục sinh ra những khả năng mới, cứ thế tiếp diễn không ngừng, nên sau khi xác định được các khả năng phát triển của sự vật hiện tượng thì mới chọn và thực hiện khả năng

- Cần cẩn thận, tỉ mỉ, tính đến mọi khả năng có thể xảy ra để lập phương án dự phòng, bởi trong một sự vật hiện tượng có thể chứa nhiều khả năng

- Ngoài những khả năng vốn có của hiện thực trong hiện tại, khi có những điều kiện mới xuất hiện sẽ làm nảy sinh những khả năng mới, dẫn đến sự vật hiện tượng phức tạp hơn Vì thế, trong hoạt động thực tiễn, khi lựa chọn khả năng, cần chú ý đến những khả năng gần, khả năng tất nhiên vì dễ chuyển hóa thành hiện thực hơn

- Khả năng chỉ chuyển hóa thành hiện thực khi có đầy đủ điều kiện cần thiết, nên cần tạo điều kiện để thực hiện hóa khả năng Trong quá trình này, vai trò của nhân tố chủ quan là quan trọng, nhưng không nên tuyệt đối hóa nó hoặc xem nhẹ vai trò này

II Từ nội dung và ý nghĩa của cặp phạm trù, nhận thực và giải quyết vấn đề.

- THIÊN NHIÊN ĐANG LÊN TIẾNG KÊU CỨU

Trong thời đại 4.0, khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển kéo theo đó là những

hệ lụy mà con người cần giải quyết Một trong số những vấn đề đang là điểm nóng, thu hút sự quan tâm của dư luận đó là những vấn đề liên quan đến môi trường Trong đó, những vấn đề liên quan đến ô nhiễm đất- nước luôn là một trong những vấn đề được quan tâm trên hết bởi tầm ảnh hưởng, những hậu quả

Trang 8

nghiêm trọng mà nó gây ra đối với đời sống sản xuất và sinh hoạt của con người

- Để giải quyết vấn đề “Sự phát triển của ngành công nghệ môi trường trong tương lai ở Việt Nam”, bằng cách vận dụng nội dung cặp phạm trù khả năng -hiện thực, ta cần xuất phát từ thực trạng (-hiện thực), chỉ ra những khả năng có thể xảy ra trong từ thực trạng đó (khả năng) Vận dụng ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù này, ta sẽ chỉ ra cần làm gì để có được phương hướng phát triển đúng đắn cho ngành công nghệ môi trường trong xử lý ô tình trạng ô nhiễm môi trường đất và nước ở Việt Nam

1 Các khái niệm

- Ô nhiễm môi trường là hiện tượng môi trường tự nhiên bị ô nhiễm, đồng thời

các tính chất vật lý, hóa học, sinh học của môi trường bị thay đổi gây tác hại tới sức khỏe con người và các sinh vật khác Ô nhiễm môi trường chủ yếu do hoạt động của con người gây ra

- Ô nhiễm đất tức là tính chất của đất đã bị thay đổi theo hướng tiêu cực,

các chất độc hại vượt quá ngưỡng cho phép khiến đất bị nhiễm bẩn, gây hại cho

hệ sinh thái Nó thường được gây ra bởi hoạt động trong công nghiệp, hóa chất trong nông nghiệp hoặc xử lý chất thải không đúng quy định

- Ô nhiễm nước là hiện tượng các vùng nước như sông, hồ, biển, nước

ngầm bị các hoạt động của môi trường tự nhiên và con người làm nhiễm các chất độc hại như chất có trong thuốc bảo vệ thực vật, chất thải công nghiệp chưa được xử lý, tất cả có thể gây hại cho con người và cuộc sống các sinh vật trong

tự nhiên

- Công nghệ môi trường: là tổng hợp các biện pháp vật lý, hóa học, sinh

học nhằm ngăn ngừa và xử lý các chất độc hại phát sinh từ quá trình sản xuất và hoạt động của con người

2 Vận dụng để giải quyết vấn đề

a Hiện thực:

a1 Về tầm quan trọng của tài nguyên đất và nước

- Đất đai là bộ phận hợp thành quan trọng của môi trường Đất đai có giá trị to lớn đối với con người cũng như đối với tự nhiên Đất không chỉ là nguồn tài nguyên mà còn là nền tảng không gian để phân bổ dân cư và các hoạt động kinh

Trang 9

tế-xã hội, không chỉ là đối tượng của lao động mà còn là tư liệu sản xuất không thể thay thế được trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp

- Nước là nguồn tài nguyên quý giá, nước rất cần thiết cho hoạt động sống của con người cũng như các sinh vật Nước chiếm 74% trọng lượng trẻ sơ sinh, 55%-60% cơ thể Nam trưởng thành, 50% cơ thể Nữ trưởng thành Nước cần thiết cho sư tăng trưởng và duy trì cơ thể bởi nó liên quan nhiều quá trình sinh hoạt quan trọng Muốn tiêu hóa, hấp thụ sử dụng tốt lương thực, thực phẩm… đều cần có nước Những nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới cho thấy con người có thể sống nhịn ăn 5 tuần nhưng không thể nhịn uống quá 5 ngày và nhịn thở không quá 5 phút Cơ thể chỉ cần mất hơn 10% nước là đã nguy hiểm đến tính mạng và mất 20-22% nước sẽ dẫn đến tử vong Nước có vai trò to lớn đối với cuộc sống con người, với các ngành nông – lâm – ngư nghiệp, với công nghiệp, kinh tế, y tế, du lịch và cả an ninh quốc phòng

a2 Thực trạng ô nhiễm môi trường đất, nước trên thế giới:

*Môi trường đất:

- Tình hình ô nhiễm đang ở mức đáng báo động, Báo cáo mới của Liên Hợp Quốc kết luận, các chất gây ô nhiễm đất có thể gây ra những hậu quả không thể khắc phục đối với sức khỏe con người và hệ sinh thái Bà Inger Andersen, người đứng đầu Chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc (UHEP) cho biết: “Ô nhiễm đất có thể không nhìn thấy bằng mắt thường nhưng nó ảnh hưởng đến thực phẩm chúng ta ăn, nước chúng ta uống và không khí chúng ta thở Ô nhiễm không có biên giới - chất gây ô nhiễm di chuyển qua đất, không khí và nước”

*Môi trường nước:

- Vấn đề ô nhiễm môi trường nước không chỉ xảy ra ở đới ôn hòa, mà đã bao trùm khắp các châu lục trên thế giới Theo báo cáo của UNEP có tới 60% các con sông ở các châu lục Á - Âu - Phi đã bị ô nhiễm Theo Unicef thì 5 quốc gia

có nguồn nước ô nhiễm nặng nhất là: Indonesia, Thái Lan, Philippines, Trung Quốc và Việt Nam Nó đòi hỏi nhiều giải pháp được đưa ra nhằm giải quyết vấn

đề này

a2, Thực trạng ô nhiễm đất, ô nhiễm nước ở Việt Nam và hoạt động xử lý ô nhiễm của ngành công nghệ môi trường.

Hiện nay, ô nhiễm môi trường được chia làm 7 loại Trong đó, ô nhiễm đất và ô nhiễm nước là hai vấn đề có liên quan tới nhau, là vấn đề phổ biến và

Trang 10

ngày càng trở nên nghiêm trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến hệ sinh thái đang tồn tại, hiện hữu

*Thực trạng ô nhiễm đất tại Việt Nam:

“Hiện nay, ở Việt Nam có tổng diện tích đất tự nhiên là hơn 33 triệu ha Trong đó có 68,83% tức khoảng hơn 22 triệu ha diện tích đất đang được sử dụng, còn lại hơn 10 triệu ha đất chưa sử dụng, chiếm khoảng 33,04% tổng diện tích đất Diện tích đất sử dụng trong nông nghiệp khoảng 7 - 8 triệu ha.”

Ở Việt Nam, có nhiều nguyên nhân gây ra ô nhiễm đất; nguyên nhân đầu tiên có thể kể đến chất thải sinh hoạt Rác thải ở Việt Nam hầu như không được phân loại, bao gồm cả rác hữu cơ tới các loại rác khó phân hủy hơn như nhựa, thủy tinh, nilon Khi chôn rác xuống lòng đất hoặc bị vứt trên bề mặt, đất sẽ bị nhiễm chất độc Rác thải nhựa trong lòng đất sẽ ngăn cản quá trình khí oxy đi qua đất, gây tác động xấu đến sự sinh trưởng của cây trồng; làm ô nhiễm nguồn nước ngầm trong lòng đất, gây ra cái chết của các vi sinh vật có lợi cho cây ở dưới lòng đất

Các hoạt động nông nghiệp cũng có thể gây ra ô nhiễm đất Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật làm từ hóa chất trong trồng trọt - điều rất phổ biến trong nông nghiệp, nhất là với các nông trường hoặc cá nhân buôn bán rau củ nhỏ lẻ

-sẽ khiến thuốc có thể ngấm vào đất, làm tăng nồng độ chất độc hại trong đất

“Tại Lâm Đồng, qua quá trình quan trắc môi trường năm 2009, kết quả thu được

là đất ở đây là đất vừa có tính acid vừa có tính kiềm, do bị ảnh hưởng nhiều bởi việc sử dụng phân bón trong nông nghiệp.”

Hoạt động sản xuất công nghiệp, khai thác khoáng sản là một nguyên nhân khác dẫn đến ô nhiễm đất “Tại Hà Nội, vấn đề ô nhiễm môi trường đất chủ yếu là do hàm lượng kim loại nặng cao từ các hoạt động sản xuất công nghiệp, nổi bật ở một số khu công nghiệp đô thị và các làng nghề như Khu công nghiệp An Khánh, Khu đồng mương nổi Tam Hiệp – Thanh Trì, Khu đô thị Nam Thăng Long, Làng nghề dệt vải Hà Đông,… Tại Thái Nguyên, các đơn vị trong quá trình khai thác khoáng sản đã thải ra một khối lượng lớn đất đá thải, làm suy giảm lớn diện tích đất canh tác Các hoạt động khai thác khoáng sản tại đây đa phần đều sử dụng công nghệ lạc hậu và theo kiểu lộ thiên nên đất tại các khu vực khai khoáng Thái Nguyên đều bị ô nhiễm nghiêm trọng ảnh hưởng đến sức khỏe, đời sống của người dân trên địa bàn.”

Ngày đăng: 27/07/2022, 07:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w