Untitled 3 LỜI MỞ ĐẦU Văn hóa, với tư cách là nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực vô hạn thúc đẩy sự phát triển của sản xuất hàng hóa và nhờ sản xuất hàng hóa để phát triển, là mục tiêu cao cả[.]
Trang 23
LỜI MỞ ĐẦU
Văn hóa, với tư cách là nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực vô hạn thúc đẩy sự phát triển của sản xuất hàng hóa và nhờ sản xuất hàng hóa để phát triển, là mục tiêu cao cả của mọi hình thái xã hội Văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người xây dựng xã hội mới và con người mới trong tất cả các lĩnh vực hoạt động sản xuất – kinh doanh, hoạt động chính trị, hoạt động khoa học – công nghệ, hoạt động văn hóa – xã hội – nhân văn, vv … Trong thời đại ngày nay kinh tế thị trường, kinh tế tri thức, toàn cầu hóa và cách mạng quản lý ngày càng ngày phát triển như vũ bão, các quốc gia xích lại gần nhau hơn, vì thế văn hóa dân tộc, bản sắc dân tộc ngày càng trở thành trung tâm của mọi sự chú ý Văn hóa đã và đang trở thành một nhân tố có tác động tới mọi khía cạnh của hoạt động kinh doanh Có thể nói văn hóa kinh doanh là phần hồn của một doanh nghiệp, bởi vì chính nó ảnh hưởng, thậm chí chi phối, các hoạt động sản xuất, quyết định kinh doanh, các mối quan hệ nội bộ và bên ngoài doanh nghiệp Ở đây, có thể hiểu văn hóa kinh doanh của một doanh nghiệp như những quan niệm, những xác tín về mục đích và các giá trị văn hóa cần phải có trong mọi hoạt động
Nghiên cứu, giảng dạy và học tập văn hóa kinh doanh là một biện pháp thiết thực để nâng cao nhận thức về vai trò của văn hóa trong hoạt động kinh tế, kinh doanh, tạo dựng kỹ năng cần thiết để vận dụng các nhân tố văn hóa trong hoạt động kinh tế và kinh doanh
Cuốn giáo trình Văn hóa kinh doanh nhằm trang bị cho người học những kiến thức chung về văn hóa kinh doanh và những kỹ năng cần thiết để tổ chức, ứng dụng và phát triển
các kiến thức về văn hóa kinh doanh trong hoạt động kinh tế, kinh doanh Giáo trình Văn hóa kinh doanh được biên soạn thành 6 chương với nội dung chính như sau:
Chương 1: Trình bày kiến thức tổng quát về văn hóa kinh doanh như: khái niệm, đặc
điểm, vai trò, các hình thức biểu hiện… làm nền tảng kiến thức cho các chương sau
Chương 2: Trình bày tổng quát về triết lý kinh doanh như: khái niệm, nội dung và
hình thức thể hiện, vai trò, những điều kiện, cách thức xây dựng và phát huy triết lý kinh doanh của doanh nghiệp đồng thời phân tích vấn đề xây dựng và phát huy triết lý kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam
Chương 3: Trình bày tổng quan về đạo đức kinh doanh: Khái niệm, vai trò, các khía
cạnh thể hiện của đạo đức kinh doanh, đồng thời trình bày phương pháp phân tích và xây dựng trong kinh doanh
Chương 4: Trình bày những nội dung cơ bản về văn hóa doanh nhân: Khái niệm, các
nhân tố tác động, các bộ phận cấu thành, vai trò của doanh nhân trong phát triển văn hóa doanh nghiệp và hệ thống tiêu chuẩn đánh giá văn hóa doanh nhân
Chương 5: Trình bày chi tiết về văn hóa doanh nghiệp: Khái niệm, đặc điểm, hình
thức biểu hiện, các nhân tố tác động, vai trò của văn hóa doanh nghiệp Đồng thời phân tích vấn đề xây dựng và phát huy văn hóa doanh nghiệp Việt Nam
Chương 6: Vận dụng kiến thức từ chương 1 đến chương 5 để phân tích vai trò, tác
động của văn hóa kinh doanh trong mọi hoạt động của doanh nghiệp: Văn hóa ứng xử trong nội bộ doanh nghiệp, văn hóa trong định hướng đến khách hàng, văn hóa trong đàm phán và thương lượng
Các nội dung trên đều được phân tích kết hợp với ví dụ minh họa Cuối mỗi chương đều có câu hỏi ôn tập và bài tập tình huống giúp người học củng cố kiến thức đã học
Trang 34
Mặc dù, tập thể tác giả đã nỗ lực rất cao, dành nhiều thời gian và công sức để hoàn thành cuốn giáo trình nhưng không tránh khỏi những thiếu sót Tập thể tác giả rất mong sự chỉ giáo, đóng góp, xây dựng của bạn đọc để cuốn giáo trình hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 45
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA KINH DOANH 1.1 Khái quát chung về văn hóa
1.1.1 Khái luận về văn hóa
Văn hóa gắn liền với sự ra đời của nhân loại, nói một cách khác, văn hóa có từ thuở bình minh của xã hội loài người Cùng với quá trình phát triển nhân loại, khái niệm văn hóa càng được bổ sung thêm những nội dung mới Năm 1952 hai nhà nhân chủng học người Mỹ
là A.L.Kroeber và K.Kluckolm đã sưu tầm được 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa Cho đến nay, con số định nghĩa chắc vẫn đang tiếp tục tăng lên Tại hội nghị về văn hóa UNESCO tại Mehico năm 1982, người ta cũng đã đưa ra 200 định nghĩa về văn hóa Hiện nay thì số lượng khái niệm về văn hóa ngày càng tăng thêm đến vô vàn, khó mà thống kê hết được.Văn hóa là một thuật ngữ đa nghĩa Đó là do bản thân các vấn đề văn hóa rất phức tạp,
đa dạng, do vậy, các nhà nghiên cứu có những cách tiếp cận khác nhau nên dẫn đến nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm văn hóa
a Khái niệm
Theo nghĩa của gốc từ :
Văn hoá trong từ nguyên của cả phương Đông và phương Tây đều có một nghĩa
chung căn bản là sự giáo hoá, vun trồng nhân cách con người (bao gồm cá nhân, cộng
đồng và xã hội loài người), cũng có nghĩa là làm cho con người và cuộc sống trở lên tốt đẹp hơn Như vậy, dù ở Phương Đông hay Phương Tây thì văn hóa đêu được coi là hoạt động tinh thần hướng tới việc sản xuất ra các giá trị Chân, Thiện, Mỹ Ở Việt Nam, văn hóa cũng
được định nghĩa rất khác nhau Hồ Chí Minh cho rằng “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”[5] Theo định nghĩa này thì văn hóa là những cái gì đối lập với thiên nhiên và do con người sáng tạo nên từ tư tưởng tình cảm đến ý thức tình cảm và sức đề kháng của mỗi người, mỗi dân tộc Trong những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam và kể cả ở nước ngoài khi đề cập đến văn hóa, họ thường vận dụng định nghĩa văn hóa do UNESCO đưa ra vào năm 1994 Theo UNESCO, văn hóa được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp
Theo nghĩa rộng thì “Văn hóa là một phức hệ - tổng hợp các đặc trưng diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm… khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà còn cả lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng…”[8];
Nhìn chung, các định nghĩa về văn hóa hiện nay rất đa dạng Mỗi định nghĩa đề cập đến những dạng thức hoặc những lĩnh vực khác nhau trong văn hóa Nhờ có văn hóa mà con người trở nên khác biệt so với các loài động vật khác; và do được chi phối bởi môi trường xung quanh và tính cách tộc người nên văn hóa ở mỗi tộc người sẽ có những đặc trưng riêng Với cách hiểu này cùng với những định nghĩa đã nêu thì văn hóa chính là nấc thang đưa con người vượt lên trên những loài động vật khác; và văn hóa là sản phẩm do con người tạo ra trong quá trình lao động nhằm mục đích sinh tồn
Trang 56
Căn cứ theo hình thức biểu hiện: Văn hoá được phân loại thành văn hoá vật chất và
văn hoá tinh thần, hay nói đúng hơn, theo cách phân loại này văn hoá bao gồm văn hoá vật
thể (tangible) và văn hoá phi vật thể (intangible)
Con người có hai loại nhu cầu cơ bản là nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần, do vậy, con người cũng có hai loại hoạt động cơ bản là sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần Từ
đó, văn hoá như một hệ thống thường được chia làm hai dạng: văn hoá vật chất và văn hoá
tinh thần Văn hoá vật chất bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động sản xuất vật chất
của con người tạo ra: đồ ăn, đồ mặc, nhà cửa, đồ dùng sinh hoạt hàng ngày, công cụ sản
xuất, phương tiện đi lại…Văn hoá tinh thần bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động
sản xuất tinh thần của con người tạo ra: tư tưởng, tín ngưỡng - tôn giáo, nghệ thuật, lễ hội, phong tục, đạo đức, ngôn ngữ, văn chương…
Sự phân chia này mới nhìn tưởng như khá rõ ràng và hiển nhiên, song nhìn kĩ sẽ thấy xuất hiện hàng loạt trường hợp phức tạp Ví dụ: các dạng hoạt động, các quan hệ sản xuất… xếp vào dạng văn hoá vật chất hay tinh thần? Không ít các vật dụng sinh hoạt hàng ngày (= vật chất) lại có giá trị nghệ thuật rất cao (= tinh thần), ví dụ như cái muôi múc canh thời Đông Sơn có gắn tượng người ngồi thổi khèn, chiếc ngai vàng được chạm trổ công phu; ngược lại, các sản phẩm tinh thần thường tồn tại dưới dạng đã được vật chất hoá, ví dụ như pho tượng, quyển sách
Trong thực tế, văn hoá vật chất và tinh thần luôn gắn bó mật thiết với nhau và có thể chuyển hoá cho nhau: không phải ngẫu nhiên mà K Marx nói rằng “Tư tưởng sẽ trở thành những lực lượng vật chất khi nó được quần chúng hiểu rõ” Bởi vậy mà tuỳ theo những mục đích khác nhau, việc phân biệt văn hóa vật chất và văn hoá tinh thần sẽ phải dựa vào những tiêu chí khác nhau
Với mục đích thực tế là phân loại các đối tượng văn hoá thì việc phân biệt văn hoá vật chất và tinh thần chỉ có thể thực hiện một cách tương đối căn cứ vào “mức độ” vật chất/ tinh thần của đối tượng văn hoá Trong trường hợp này, có thể dùng khái niệm “mục đích sử dụng” làm tiêu chí bổ trợ: những sản phẩm làm ra trước hết để phục vụ cho các nhu cầu vật chất thì, dù có giá trị nghệ thuật cao đến mấy (như cái muôi thời Đông Sơn có gắn tượng người ngồi thổi khèn dùng để múc canh, chiếc ngai vàng được chạm trổ công phu dùng cho vua ngồi thiết triều) vẫn thuộc dạng văn hoá vật chất; còn những sản phẩm làm ra trước hết
để phục vụ cho các nhu cầu tinh thần thì, dù được vật chất hoá (như pho tượng, quyển sách mua về để trưng, để đọc), chúng vẫn thuộc dạng văn hoá tinh thần
Như vậy, khái niệm văn hoá rất rộng, trong đó những giá trị vật chất và tinh thần được sử dụng làm nền tảng định hướng cho lối sống, đạo đức , tâm hồn và hành động của mỗi dân tộc vơí các thành viên để vươn tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp cái mỹ trong mối quan
hệ giữa người và người, giữa người với tự nhiên và môi trường xã hội Từ ý nghĩa đó, chúng
ta rút ra được khái niệm về văn hoá như sau:
“Văn hoá là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần mà loài người tạo ra trong
quá trình lịch sử”
b Các yếu tố cấu thành văn hoá
Văn hoá là một đối tượng phức tạp và đa dạng Để hiểu bản chất của văn hoá, cần xem xết các yếu tố cấu thành văn hoá Dựa vào khái niệm về văn hoá, có thể phân văn hoá thành hai lĩnh vực cơ bản là văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần
Trang 67
Văn hoá vật chất : Văn hoá vật chất là toàn bộ những giá trị sáng tạo được thể hiện
trong các của cải vật chất do con người tạo ra Văn hoá vật chất được thể hiện qua đời sống của quốc gia đó Chính vị vậy văn hoá vật chất sẽ ảnh hưởng to lớn đến trình độ dân trí lối
sống của các thành viên trong nền kinh tế đó
Một điểm lưu ý là khi xem xét đến văn hoá vật chất, chúng ta xem xét cách con người làm ra những sản phẩm vật chất thể hiện rõ ở tiến bộ kỹ thuật và công nghệ, ai làm ra chúng
và tại sao Tiến bộ kỹ thuật và công nghệ ảnh hưởng đến mức sống và giúp giải thích những giá trị và niềm tin của xã hội đó Ví dụ như nếu là một quốc gia tiến bộ về kỹ thuật, con người ít tin vào số mệnh và họ tin tưởng rằng có thể kiểm soát được những điều xảy ra với
họ Những giá trị của họ cũng thiên về vật chất bởi vì họ có mức sống cao hơn Như vậy một nền văn hoá vật chất thường được coi là kết quả của công nghệ và liên hệ trực tiếp với việc
xã hội đó tổ chức hoạt động kinh tế của mình như thế nào
Văn hóa vật chất của người nhật bản
1 Ẩm thực
1.1 Nguyên liệu, cách thức chế biến, chế độ ăn
Nguồn nguyên liệu dùng để chế biến thành các món ăn của người Nhật Bản, hầu hết
từ thực vật (cây trồng, cây bán hoang dại, hoang dại) và động vật (động vật nuôi, động vật
hoang dã) Với người Nhật Bản, lương thực chính là mạch (Mugi), gạo (Kome) còn lương
thực phụ là ngũ cốc và các loại khoai Các món ăn chế biến từ mạch, gạo, chủ yếu là các món cơm, cháo, bánh còn từ lương thực phụ là khá nhiều các loại bánh, mì sợi Tuy nhiên, xét đến cùng, để chế biến món ăn từ những nguồn nguyên liệu này, người ta sử dụng 3 phương thức chủ yếu là: chế biến qua lửa, chế biến không qua lửa và kết hợp giữa hai phương thức này Chế biến qua lửa là phương pháp dùng nhiệt năng làm chín thức ăn được người Nhật Bản áp dụng nhiều cách thức như: nướng, luộc, hấp, đồ, nấu canh, xào, rán, rang Chế biến không qua lửa là phương pháp làm sạch, muối hoặc làm lên men nguyên liệu với cách thức như: làm sống, làm gỏi, làm giấm, ủ lên men, làm chua Kết hợp giữa chế biến qua lửa và không quả lửa gồm một số cách thức như: làm tái, làm ghém, làm tương
Trong ẩm thực truyền thống, bánh kẹo cũng được xem là một món ăn khá quan trọng trong cuộc sống, sinh hoạt thường ngày và dịp đặc biệt (lễ hội, Tết) của người Nhật Bản Tuy nhiên, phải từ nửa sau thế kỷ XVII, nghệ thuật làm bánh kẹo kiểu Nhật mới phát triển nhờ trong nước đã sản xuất được đường ngọt (phần nhiều vẫn phải nhập khẩu) Nguồn nguyên liệu chủ yếu là từ mạch, gạo và khoai với phương thức chế biến chính là chế biến qua lửa
Trong ngày thường, bữa ăn của người Nhật thường có cơm và một vài món phụ khác
có nguồn gốc thực vật (các loại rau, dưa muối, rong, tảo biển, đậu phụ, tương ), động vật (cá, các loài nhuyễn thể, tôm, cua ) Các món phụ có nguồn gốc động vật xưa kia chiếm tỷ
lệ không nhiều trong bữa ăn, nếu có cũng chủ yếu là hải sản sông, biển Nhưng từ thế kỷ XIX, thịt bò, thịt lợn, thịt gà mới trở nên phổ biến hơn trong các bữa ăn và cách thức chế biến Trong ngày gồm có hai bữa chính (bữa trưa, bữa tối) và một đến ba bữa phụ (bữa sáng, bữa nửa buổi chiều hoặc bữa khuya) Trong các bữa ăn chính, về cơ bản gồm có món chính
là cơm cùng một vài món phụ khác, mà tiêu biểu nhất là món canh tương (Misoshiru) Món
phụ có nguồn gốc động vật thì thường là hải sản được chế biến theo nhiều cách nhưng đáng
Trang 78
chú ý là làm gỏi (Sashimi) Ngoài các món chính, phụ trên, không thể thiếu món dưa muối (Tsukemono) được chế biến từ các loại rau, củ, quả như: củ cải trắng, cà tím, dưa chuột, quả
mơ, mận Các phụ gia và gia vị như xì dầu (Shoyu), mù tạt (Wasabi) cũng thường thấy
trong các bữa ăn Chế độ ăn trong các bữa chính như vậy có thể được xem là tiêu chuẩn và
áp dụng như một truyền thống từ xưa đến nay với người Nhật cho dù có thay đổi ít nhiều
theo thời gian Theo sử sách ghi lại, chế độ ăn uống này được gọi là IchiJusansai (một chính
ba phụ) do tầng lớp võ sĩ (Samurai) lãnh đạo đất nước thời kỳ Muromachi (1338 - 1573) đặt
ra Ở các bữa phụ, cơm không phải lúc nào cũng có mà thay vào đó là các món làm từ lương thực phụ như: khoai, kê, ngô, đậu tương
Trong chế độ ăn uống của người Nhật, ngoài hải sản thì rau, khoai chiếm vị trí đặc biệt trong bữa ăn hàng ngày Càng lùi xa về quá khứ thì có lẽ là rau chứ không phải hải sản
là món ăn chủ đạo sau cơm trong bữa ăn Một món ăn khá đặc biệt thường được sử dụng từ xưa trong các bữa ăn đó là rong, tảo biển, song chế biến thành món ăn như thế nào còn phụ thuộc vào quan niệm, tập quán, thành phần mùi vị, chất lượng của chúng ở các vùng miền
Nhìn chung thành phần thức ăn phụ thuộc nhiều vào mùa vụ, do đó yếu tố mùa vụ hay sự chuyển mùa, giao mùa cũng ảnh hưởng nhiều đến cơ cấu món ăn và bữa ăn Tập quán
ăn uống theo mùa không chỉ bởi thực phẩm ngon nhất khi chúng được thu hoạch đúng mùa
vụ mà đã trở thành phong tục, yếu tố tâm lý của người dân Qua bữa ăn, người ta vừa có thể thưởng thức những gì tinh túy nhất của món ăn vừa cảm nhận sâu sắc sự đổi thay rõ ràng của thời tiết trong năm
Bữa ăn của người Nhật Bản, về cơ bản có hai hình thức là mọi người ăn cùng mâm hoặc không ăn cùng mâm Hình thức thứ nhất, các món bày chung không phân biệt quá cụ thể từng món cho mỗi cá nhân Bữa ăn như vậy thường thấy ở các gia đình nhất là trong hai bữa chính Hình thức thứ hai, thức ăn được bày biện cho mỗi người trong một mâm riêng và cách thức này thường thấy trong các dịp lễ hội, cưới xin, tang ma Điểm tương đồng của cả hai hình thức là các món ăn không bố trí theo cách món này tiếp món khác mà ăn các món cùng lúc Ẩm thực trong các dịp đặc biệt có những điểm khác với ngày thường biểu hiện qua các món ăn đặc trưng, cách bày biện món ăn, nghi thức trước, trong và sau khi ăn Tuy nhiên, có những món là một phần không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày cũng như các dịp
đặc biệt của người Nhật Bản, chẳng hạn như cá phơi khô (Himono) và cá gỏi Những món ăn
này đã có từ lâu rồi dần trở thành món ăn truyền thống quan trọng trong ẩm thực của người Nhật Bản cho đến ngày nay
Trong các đồ uống đã chế biến có vị trí rất quan trọng trong đời sống là rượu (Sake)
và trà (Ocha) Sake là từ được sử dụng theo thói quen nhằm chỉ các đồ uống có cồn, song thực chất Sake là một loại rượu Nhật cất từ gạo, có mầu trắng Loại rượu này ủ với men,
mạch nha và nước để tạo thành nhưng về sau còn được chưng cất thành rượu trong vắt
không màu Sake được sử dụng trong hầu hết các dịp đặc biệt cũng như ngày thường bởi
không chỉ là đồ uống thông thường mà còn bao hàm ý nghĩa xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo Do rượu được sử dụng phổ biến, với những mục đích khác nhau nên cách thức uống rượu cũng
Trang 89
không giống nhau Song, một cách thức uống rượu được xem là tập quán truyền thống đó
là Sake phải được hâm nóng trong lúc uống Hầu hết Sake được hâm nóng đựng trong các bình nhỏ bằng gốm, sứ gọi là Tokkuri cùng số lượng chén tùy thuộc vào số lượng người
uống
Ngoài Sake, một loại đồ uống có cồn khác là bia (Biru) tuy mới xuất hiện ở Nhật Bản
từ thời kỳ Minh Trị (1868 - 1912), nhưng cũng mau chóng trở thành thức uống khá phổ biến, được sử dụng trong ngày thường và dịp đặc biệt theo thời gian trở thành một bộ phận trong
ẩm thực truyền thống của người Nhật Bản
Cùng với rượu thì trà cũng là đồ uống truyền thống không thể thiếu đối với người Nhật Bản trong ngày thường và dịp đặc biệt Có khá nhiều loại trà nhưng cách chế biến truyền thống là hấp lá búp chè non, chà lại rồi phơi khô Tên các loại trà căn cứ vào chất
lượng, tính chất, hình thức, thành phần, mục đích sử dụng, chẳng hạn như Matcha là trà bột, không uống hàng ngày mà chủ yếu dùng trong nghi lễ Trà đạo (Chado) Một số loại trà có thêm phụ gia như: gạo rang thành Genmaicha để uống hàng ngày hay lúa mạch rang thành Mugicha để uống vào mùa hạ
Đồ hút truyền thống ở Nhật Bản là khá ít, còn thuốc lá là sản phẩm du nhập từ phương Tây Người sử dụng đồ hút cũng không nhiều, chỉ tập trung ở tầng lớp giầu sang xưa kia Thuốc lá thường chỉ có nam giới sử dụng như thứ kích thích hơn là vai trò trong giao tiếp, ứng xử xã hội
2 Trang phục
2.1 Quá trình tạo ra trang phục
Để tạo ra trang phục, người Nhật Bản từ xưa đã sử dụng nhiều loại nguyên liệu khác nhau từ thực vật và động vật Nguyên liệu từ thực vật khá đa dạng nhưng phổ biến là sợi của
cây gai (Asa), đậu tía (Fuji), sắn dây (Kuzu), cây thân leo (Tsuru), rơm rạ (Wara), bông (Wata) Ngoài những loại nguyên liệu dệt thu được từ thực vật và động vật hoang dã thì
nguồn nguyên liệu chủ yếu là sợi gai, bông và sợi tơ tằm Nhìn chung, nữ giới trước kia đảm nhận vai trò là người làm ra đồ mặc cho gia đình cho nên họ đồng thời sử dụng và “cai quản” công cụ quan trọng bậc nhất tạo ra trang phục đó là cái khung cửi Qua đó, họ khẳng định vai trò, trách nhiệm của mình với gia đình và cộng đồng Nghề dệt, cụ thể hơn là kỹ thuật dệt còn được xem là thước đo, là tiêu chuẩn đánh giá tài năng và đức hạnh của nữ giới trong quan niệm xã hội truyền thống
Người Nhật từ xưa đã hiểu biết rất rõ việc khai thác cây cỏ trong thiên nhiên để tạo ra thuốc nhuộm cho trang phục của mình Ngoài ra, người ta còn trồng những loại cây cho nguồn nguyên liệu làm thuốc nhuộm trang phục với nhiều màu khác nhau Cũng như kỹ thuật dệt, cách pha mầu, cách nhuộm cùng các công đoạn xử lý đối với mỗi loại sản phẩm còn phụ thuộc vào từng nơi, thậm chí với mỗi gia đình bởi còn có yếu tố bí truyền trong đó nữa Tuy vậy, đối với tầng lớp bình dân thì nguyên liệu để mang trang phục cho đến trước năm 1945, nhìn chung vẫn mang tính tự cấp, tự túc
2.2 Các loại hình trang phục
Về trang phục khi làm việc, có xu hướng chung là che kín hầu hết thân thể, nhất là nông dân phải lao động nhiều ở ngoài trời Trang phục của nam giới, nhìn chung là mặc áo
lót (Juban), ngoài mặc áo dài tay hoặc áo khoác Khi làm đồng mặc quần ống hơi ngắn, còn
đi làm nương mặc quần bó, thắt dây lưng vải là chỗ gài dao và dụng cụ lao động liên quan
Đồ đội đầu khá đa dạng như cuốn khăn đầu rìu, trùm kín đầu, quấn quanh đầu hoặc
Trang 910
đội nón (Kasa) trong những ngày nắng, mưa Các nơi đều sử dụng thường xuyên bao tay (Teko) và giày vải (Kyakuhan) khi làm việc Giày vải chỉ là một cách gọi bởi trên thực tế
chúng không phải như giày thông thường vì ống giày cao đến gần đầu gối, đế mỏng và khi
đi chỉ xỏ ngón chân cái Ngoài giày vải, người ta còn đi dép rơm (WaraJa), dép cỏ (Tabigutsu) nhưng dép rơm thường được sử dụng nhiều hơn vì nguồn nguyên liệu sẵn có
Không có sự khác biệt lớn về đồ đi ở chân đối với nông dân và ngư dân khi làm việc vì
chúng đều là vật thường dụng Cũng như vậy, áo tơi (Semino) là vật dụng thiết yếu của họ
khi làm việc dưới thời tiết nắng nóng
Trang phục của nữ giới khi làm việc là mặc quần áo lao động, thắt dây lưng Đồ đội đầu chủ yếu là khăn, mũ vải, nón Họ cũng sử dụng bao tay, giày vải xỏ ngón và áo tơi như nam giới
Trang phục khi làm việc của tầng lớp bình dân với những nét chung nhất như trên thì trang phục của các tầng lớp khác như quan chức, chiến binh, tăng lữ, học sinh là những bộ trang phục đặc trưng nghề nghiệp, chức năng xã hội của họ
Về trang phục ngày thường cũng có sự khác biệt giữa các giai tầng trong xã hội Với tầng lớp bình dân, y phục ngày thường của nam giới gồm áo cánh (tương tự áo sơ mi), hoặc
áo khoác ngoài quần, chân đi dép rơm, guốc gỗ (Geta) Nữ giới mặc áo cánh bó sát người,
bên ngoài thắt lưng, chân đi guốc gỗ, đôi khi dùng đồ đội đầu như nón, khăn
Về trang phục của trẻ em, hầu như quanh năm chỉ mặc y phục cũ, chỉ những dịp đặc
biệt được mặc trang phục mới gọi là Yukata với tay áo dài, gấu trùm cổ chân, thắt dây lưng,
chân đi guốc gỗ
Trang phục trong các dịp đặc biệt như cưới xin, tang ma, lễ hội, lễ chúc mừng có những nét chung và riêng phù hợp với từng đối tượng, thành phần xã hội
Trong lễ kết hôn, cô dâu mặc trang phục sáng mầu, đặc biệt là mầu trắng luôn được chú trọng hàng đầu bởi theo quan niệm điều đó nhằm biểu hiện sự thanh khiết của cơ thể và
tâm hồn Trang phục truyền thống của cô dâu rất cầu kỳ về kiểu dáng từ đồ đội đầu, Kimono,
kiểu tóc, đồ trang sức, đồ đi ở chân v.v Mặc dù vậy, trang phục cưới không chỉ một bộ và kiểu trang điểm duy nhất mà phải thay đổi tùy theo trình tự trong lễ cưới
Trang phục lễ hội rất phong phú và đa dạng về hình thức, kiểu dáng vì còn phụ thuộc vào tính chất, mục đích của mỗi lễ hội ở các vùng miền
Trang phục trong tang ma cơ bản là mầu trắng, biểu hiện ở những người thân thuộc
và cả người đã khuất mặc khi tiến hành nghi lễ Những người đến phúng viếng không nhất thiết phải mặc tang phục
3 Nhà cửa
3.1 Chuẩn bị dựng nhà
Để dựng nhà cửa cần rất nhiều loại nguyên vật liệu, nhưng chủ yếu là: gỗ, tre, đất, đá, lá Cùng với việc xây dựng nhà cửa cũng đồng thời là quá trình chuẩn bị nguyên vật liệu liên quan tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh, phong tục tập quán mỗi nơi Dựng nhà luôn gắn với chọn đất, xem hướng nhà và theo quan niệm, hướng lý tưởng nhất là hướng Đông - Nam, hướng tốt là hướng Nam Trên thực tế, việc chọn đất, xem hướng nhà cũng có đôi chút khác biệt trong quan niệm, tập quán giữa các vùng miền Những hướng cần tránh thường là hướng Bắc hoặc ngay trước nhà có vật chắn như núi cao hiểm trở Tuy nhiên, thực tế còn phụ thuộc vào yếu tố khách quan (điều kiện địa lý tự nhiên) nên không phải ai cũng chọn được hướng như mong muốn Song, xu hướng dựng nhà phổ biến vẫn là hướng nhìn ra nơi
Trang 1011
thoáng đãng, mặt tiền ngôi nhà không bị che khuất Việc chọn đất, xem hướng nhà rất được coi trọng cùng với những nghi lễ liên quan đến công việc này bởi ai cũng mong muốn có được cuộc sống bình an trong mỗi ngôi nhà Trước khi dựng nhà, một nghi thức quan trọng bậc nhất liên quan đến ngày khởi công đó là lễ động thổ Nghi lễ này thể hiện sự mong muốn của chủ nhà tiến hành dựng nhà suôn sẻ từ khởi đầu đến khi hoàn thành ngôi nhà Cách thức tiến hành nghi lễ có sự khác nhau giữa các vùng miền nhưng điểm chung là người ta thường chọn ngày tốt, tránh ngày xấu rồi cầu xin các thần linh, đặc biệt là thần Đất phù hộ cho mảnh đất yêu ổn khi dựng nhà, gia đình phát đạt sau khi hoàn thành ngôi nhà
Khung mái nhà một tầng với đòn nóc, đòn tay, xà đỡ mái thường được làm từ gỗ, chúng được liên kết với các cột chính, cột trốn bằng kỹ thuật mộng xuyên, mộng trơn, ngoãm nhân tạo Từ đó tạo nên các dạng mái nhà khác nhau của nhà một tầng là nhà hai mái, bốn mái, bốn mái hở đầu hồi, bốn mái bằng nhau Tường, vách ở ngôi nhà một tầng hầu hết được thưng ván, trát đất trộn rơm, hoặc nguyên vật liệu tổng hợp Ở miền núi và ven biển, nhiều khi tường nhà được làm từ gỗ tròn hoặc kè đỡ một phần đá phía dưới Mái nhà xưa kia được lợp bằng nhiều loại chất liệu khác nhau là gỗ ván, cỏ, rơm rạ, ngói đều có ở các vùng miền Mái nhà lợp bằng ván gỗ khá phổ biến ở vùng miền núi, nông thôn và một phần ở đô thị
Cửa ra vào nhà một tầng được làm khá đơn giản từ nguyên liệu gỗ (một hoặc hai cánh) được bố trí mặt trước ngôi nhà, ngoài ra còn có thêm cửa hậu ở những ngôi nhà lớn Cửa kéo là loại cửa được sử dụng phổ biến ở các loại hình nhà, song hình thức, chất lượng của nó còn phản ánh vị trí các giai tầng xã hội trước kia
Nhà hai tầng hầu hết có bộ khung nhà, tường nhà được làm từ gỗ, với cột chôn hoặc
kè đá Kết cấu mái nhà hai tầng phổ biến kiểu nhà có hai mái, nhà có bốn mái, mái có chái hồi và mái không có chái hồi Nhà có hai mái hầu hết cả hai tầng có diện tích như nhau, nếu thêm hai mái phụ dễ lầm tưởng có bốn mái nhưng thực chất phần che vươn ra ngoài tường tương tự như mái nhà Nhà hai tầng bốn mái thường có diện tích mặt bằng tầng một lớn hơn tầng hai cho nên mỗi tầng có hai mái riêng biệt tạo cảm giác như hai nhà chồng xếp lên nhau
3.3 Cấu trúc bên trong ngôi nhà
Nhìn chung, ngôi nhà truyền thống của người Nhật Bản được làm bằng gỗ nhưng với mỗi loại hình nhà cửa lại có những điểm tương đồng và sự khác biệt về cấu trúc khuôn viên cùng các chi tiết liên quan đến từng ngôi nhà Nhà một tầng thường được người ta căn cứ vào số phòng (trừ phần không lát ván sàn) để phân ra làm nhà 2 phòng đến nhà 6 phòng Nhà 2 phòng không nhiều, thường chỉ có ở vùng ven biển, chưa có sự phân biệt rõ chức năng của các phòng cũng như nơi thờ thần, Phật Nhà 3 phòng khá phổ biến ở vùng miền núi
và ven biển nhưng có điểm khác trong cách bố trí phòng và mặt bằng sinh hoạt Dạng nhà 4 phòng rất phổ biến ở các vùng miền, còn ở đồng bằng nhà dạng này xây dựng theo qui chuẩn thông thường là hình vuông, đã phân biệt không gian sinh hoạt riêng và chung
Trang 11Như vậy, không gian sinh hoạt của mỗi ngồi nhà truyền thống của người Nhật Bản thường là hai phần chính: phần lát sàn và phần không lát sàn Mặt bằng sinh hoạt được phân chia một cách tương đối thành hai khu vực phía trong và phía ngoài (phần không lát sàn) được ngăn cách bằng bậc lên xuống sàn nhà Nơi thờ thần, Phật thường được đặt ở phòng chính, song việc bàn thờ thần, Phật có thể đặt riêng hoặc thờ chung một nơi
Xưa kia, bếp thường đặt ở gian chính giữa nhà hoặc cạnh gian chính Có hai loại bếp
là bếp sưởi (Irori) và bếp lò (Kamado) Bếp sưởi hầu hết đặt ở phòng chính, còn nếu có hai
bếp thì một bếp đặt ở phòng khách Bếp sưởi có kích thước khác nhau nhưng thường là hình vuông, được đặt thấp hơn so với mặt sàn nhà, giữa bếp đặt những tảng đá để đun nấu Phía trên bếp sưởi thường có một sợi dây (từ xà nhà xuống giữa bếp) có móc treo (có thể tự do di động) nồi đun nấu
Bếp lò cũng có vị trí quan trọng và hầu hết được đặt ở phần không lát ván sàn trong ngôi nhà Bếp lò làm từ nhiều chất liệu khác nhau như: đất, đá, gỗ, gạch Về chức năng, bếp sưởi đảm trách việc nấu nướng những đồ ăn đơn giản như: cháo, canh, nướng bánh, khoai, nước sôi bếp lò là nơi nấu cơm cùng các món hấp, chưng, đồ, ninh và cả thức ăn cho gia súc nữa
Phần không lát ván sàn trong ngôi nhà (Niwa) có tên gọi khá thống nhất ở các vùng
miền Đây thường là nơi để lương thực và làm các công việc liên quan đến sản xuất nông, ngư nghiệp Trong ngôi nhà truyền thống, giữa các phòng được ngăn bởi tường (hay vách ngăn), chia làm hai loại Một loại dùng để ngăn các phòng trong nhà được bồi từ giấy và vải
tốt gọi là Fusuma, một loại để ngăn phòng che bộ khung nhà được dán hay bồi giấy gọi
là ShoJi Điểm chung của các bức tường này có thể kéo sang hai bên, tháo ra hoặc thay thế
bằng các tấm khác tùy thuộc vào yêu cầu của gia đình
Như vậy, về mặt bằng sinh hoạt, cho thấy ngôi nhà truyền thống ở Nhật Bản thường
lấy phòng chính giữa (Nakanoma) thuộc phần lát sàn làm trung tâm của ngôi nhà Đây cũng thường là nơi đặt bếp sưởi và do đó, Nakanoma trở thành trung tâm diễn ra sinh hoạt hàng
ngày của gia đình, còn các phòng khác có chức năng chuyên biệt bởi có tính chất cá nhân hơn
3.4 Các công trình phụ
Xung quanh ngôi nhà chính là một hệ thống các công trình phụ liên quan đến mọi mặt cuộc sống của một gia đình Những khuôn viên lớn còn có cả rừng cây, hàng rào cây cối, ruộng vườn bao quanh để tạo nên cơ sở sinh hoạt có tính độc lập cao, tạo mối quan hệ thiết yếu giữa sản xuất và sinh hoạt của ngôi nhà truyền thống Với cư dân làm nông nghiệp thì sân rộng phía trước nhà là yêu cầu tối thiểu cần có và gắn liền với ngôi nhà Ao và giếng cũng có vị trí tương tự như vậy
Các công trình như nhà tế lễ thần (Kamiya), nhà kho (Kura) nhà phụ (Wakiya), nhà để công cụ (Nagaya), chuồng chăn nuôi, nhà vệ sinh (BenJo), nhà chứa nước v.v là một hệ
thống trong khuôn viên của mỗi gia đình Nhà phụ (một hoặc hai tầng) ở nhiều vùng miền
Trang 1213
được xây cất cạnh nhà chính, là nơi để công cụ sản xuất, nơi làm việc Ngoài những công trình phụ trên, nhiều nơi còn có thêm công trình phụ phục vụ cho những công việc đặc trưng của vùng đó như nhà làm gạch ngói, nhà sấy thuốc lá, nhà cúng thần Đất, nghĩa địa, nhà nuôi tằm, nhà làm tương, xì dầu, nhà làm giấy, nhà chế biến chè, nhà dành cho sinh đẻ Nhìn chung, nhà cửa của người Nhật Bản phản ánh diện mạo và tinh thần của nghệ thuật kiến trúc truyền thống mà đặc trưng nổi bật là nhằm đạt tới sự hòa hợp tốt nhất với môi trường xung quanh
của Nhật Bản nhưng phổ biến hơn cả là đền Thần đạo (Shinto) là tôn giáo bản địa của người
Nhật Bản Ở các làng hầu như đều có miếu thờ thần với kiến trúc nhỏ được dựng bằng gỗ, tre, đá Lớn hơn miếu là những ngôi đền Nhiều ngôi đền chỉ được dựng đơn giản từ gỗ, mái lợp rơm rạ, tường thưng ván Những ngôi đền như thế thường có kiến trúc đơn giản, qui mô nhỏ thuộc sở hữu của một hay vài làng Ở đô thị, những ngôi đền lại có kiến trúc cầu kỳ hơn thể hiện qua sự đa dạng về kiểu dáng cùng sự kết hợp của nhiều loại nguyên vật liệu như gỗ,
đá, gạch, ngói, sơn mầu Sự cầu kỳ còn được thể hiện qua các họa tiết trang trí phức tạp và
ấn tượng dễ nhận thấy nhất như mái, đỉnh nóc, đầu hồi, mặt tường Nhìn chung, sự khác nhau trong kiến trúc đền, chùa dễ nhận thấy nhất lại ở các hình dáng của cổng đền Hầu như các đền đều có cổng (làm bằng đá) và to hay nhỏ thường tỷ lệ thuận với qui mô của từng ngôi đền
Thành lũy ở Nhật Bản phần lớn được xây dựng từ thế kỷ XVI khi tinh thần võ sĩ đạo
(Bushido) ngự trị trong xã hội Nguyên liệu để xây dựng là các đá tảng và gỗ lớn nên thành
lũy thường cao 4 đến 5 tầng, không kể chân móng cũng vài mét Chúng được thiết kế không chỉ với mục đích quân sự mà còn với vẻ đẹp tinh tế đến mức được gọi là những lâu đài Đặc trưng của những tòa thành này gồm nhiều tầng với mái cong cùng màu trắng nổi bật khác biệt với các công trình kiến trúc thường thấy khác ở Nhật Bản
Nhà hội họp được dựng lên từ những nguyên vật liệu chủ yếu là gỗ, tre với kết cấu một tầng lợp rơm rạ hoặc ngói Hình dáng, qui mô có thể khác nhau ít nhiều nhưng để xây dựng nhà hội họp cũng phải tuân thủ các qui trình, nghi lễ truyền thống từ khởi công đến khi hoàn thành Nhà hội họp là nơi tổ chức giải quyết những vấn đề liên quan đến cuộc sống của người dân ở các làng xã xưa kia Song, về sau mở rộng, phát triển ở các đơn vị hành chính lớn hơn ở phố và đô thị Nhà hội họp được xây dựng trên cơ sở đóng góp của toàn thể người dân trong đơn vị cư trú và qui mô của công trình phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội nơi
ấy Theo thời gian, nhà hội họp không mất đi mà ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong sinh hoạt cộng đồng của người dân ở khắp các vùng miền Có thể nói, nhà công cộng hay
nhà “công dân” (Kominkan) trong các thời kỳ sau này, trên thực tế chính là sự tiếp nối và
phát triển từ nhà hội họp
3.6 Những phong tục, tập quán liên quan
Trong lễ động thổ, người ta phải làm lễ cúng nhằm mong muốn sự phù hộ của các
thần, đặc biệt là thần Đất (Chinokami) Điều đó cho thấy vị trí của thần Đật vô cùng quan
trọng đối với nhà cửa của người Nhật Bản Bởi vậy, nghi lễ cúng thần Đất là nghi thức bắt
Trang 1314
buộc đối với việc khởi công dựng nhà
Trong quá trình xây dựng nhà cửa, nghi lê cất nóc (Kenmae) có vị trí vô cùng quan
trọng, ở đâu cũng vậy, người ta phải chọn ngày lành tháng tốt để tiến hành nghi lễ này Ở các vùng miền tuy có những điểm khác biệt nhất định trong quá trình thực hiện, song điểm tương đồng lớn nhất thể hiện rất rõ trong nghi thức ném, rải bánh giầy (hoặc cơm nắm) và kiêng ném bánh giầy đỏ vì nếu không sẽ bị hỏa hoạn
Cũng như nghi lễ cất nóc, nghi lễ vào nhà mới (Yautsuri) phải chọn ngày tốt mới có
thể tiến hành được Một trong những nghi thức quan trọng trong dịp vào nhà mới là nhóm lửa lần đầu tiên ở bếp sưởi trong nhà, cùng với những yêu cầu, kiêng kỵ khá chặt chẽ Theo quan niệm xưa, nếu không tuân theo, gia đình sẽ không vượt qua được những khó khăn, trở ngại trong cuộc sống
Liên quan đến bếp, người xưa tin rằng có thần Bếp (Kamadonokami) và thần Lửa (Kagutsuchi) cùng trú ngụ ở đây Đặc biệt, bếp sưởi luôn chiếm một vị trí quan trọng bậc
nhất ở gian giữa ngôi nhà cho nên việc giữ gìn, bảo vệ sự thanh khiết của bếp luôn được đề cao Nếu ai vi phạm sẽ làm thần Bếp, thần Lửa nổi giận và sẽ gặp điều không may như bệnh tật, hỏa hoạn Vị trí ngồi quanh bếp sưởi cũng có những qui định theo phong tục tập quán
từ lâu đời nhưng luôn được mọi người bảo vệ và tuân thủ Ngoài bếp sưởi thì bàn thờ và gian thờ là những chỗ linh thiêng nên có những kiêng kỵ khá nghiêm ngặt, bởi vậy, nếu người nào vi phạm sẽ bị quở trách, thậm chí chuốc lấy tai họa, theo quan niệm dân gian
là hầu như rất ít có thịt, do vậy bữa ăn chỉ gồm cơm + rau + cá hoặc cơm + cá + rau Nhằm
bù đắp cho sự thiếu hụt về “món rau” người dân vùng ven biển có tập quán sử dụng nguồn rong, tảo biển để chế biến thành nhiều món ăn đặc sắc để rồi trở thành thành tố quan trọng trong cơ cấu bữa ăn
Thành tố quan trọng nhất trong cơ cấu bữa ăn là cơm (cơm gạo, cơm độn mạch hay cơm mạch tùy theo điều kiện của vùng miền) Ẩm thực truyền thống của người Nhật Bản, nhìn chúng tạo ra sự chú ý, quan tâm về thị giác qua cách trình bày các món ăn hơn là chú trọng đến khứu giác bởi mùi vị khá đơn giản Khi nói tới các phụ gia thì đỗ tương là nguyên liệu chủ yếu và quan trọng nhất để chế biến thành tương và xì dầu là những loại phụ gia chính không thể thiếu trong hầu hết các món ăn của người Nhật Bản
Quá trình tạo ra trang phục truyền thống của người Nhật Bản không chỉ là nguồn nguyên liệu và cái khung dệt mà là truyền thống kỹ thuật, sự sáng tạo, đặc biệt là vị trí vô cùng quan trọng của nghề dệt trong đời sống xã hội Nhật Bản Sự phong phú, đa dạng của sản phẩm dệt đồng thời khẳng định vị trí “độc tôn” của nữ giới trong lĩnh vực này
Trang phục truyền thống của người Nhật Bản, dù xét dưới bất kỳ góc độ nào như: theo lớp tuổi, nghề nghiệp, giới tính, chức năng xã hội đều bao hàm ý nghĩa trang phục chính là sự thích ứng của con người với điều kiện môi trường, hoàn cảnh lịch sử - xã hội, văn hóa Nhìn chung, không có sự khác biệt lớn về các loại hình trang phục giữa các vùng
Trang 1415
miền, ngoại trừ số ít kiểu trang phục có tính chất đặc thù nghề nghiệp hay trong dịp đặc biệt
Trang phục truyền thống của người Nhật Bản khá đa dạng về kiểu dáng và họa tiết
hoa văn, song những hoa văn cầu kỳ thường chỉ có ở bộ Kimono của nữ giới còn hầu hết là
họa tiết đơn giản Các phụ kiện tạo nên bộ trang phục hoàn chỉnh rất phong phú, đa dạng,
nhất là bộ trang phục khi làm việc hay Kimono của nữ giới, song nhìn chung ít sử dụng đồ
trang sức Điều đó dường như là một đặc điểm trong trang phục truyền thống của người Nhật Bản
Ngoài một số loại hình kiến trúc công cộng đặc biệt như đền, chùa, thành lũy thì về
cơ bản nhà cửa truyền thống của người Nhật Bản đều sử dụng gỗ làm nguyên vật liệu chính
và đây là đặc điểm khá tương đồng ở hầu hết các vùng miền Với một số loại nguyên vật liệu nhằm thích ứng với điều kiện môi trường, tự nhiên có thể làm đa dạng thêm kiểu dáng và sự khác biệt giữa các vùng miền song không vì thế “lấn át” được nguyên vật liệu gỗ vốn được coi là “xương sống” của ngôi nhà
Nhà cửa truyền thống ở Nhật Bản và các phong tục, tập quán liên quan hầu hết đều nhằm nâng cao vị thế của nam giới cùng quan niệm “gia trưởng” trong gia đình Điều đó thể hiện rất rõ qua cấu trúc mặt bằng sinh hoạt, chẳng hạn như vị trí ngồi quanh bếp sưởi, phòng chủ nhà ở giữa Trong khi đó, nữ giới luôn ở vị trí “thấp hơn” biểu hiện qua nhiều phong tục, tập quán với vai trò “thứ yếu” của họ
Văn hoá tinh thần: Là toàn bộ những hoạt động của con người và xã hội bao gồm
kiến thức, các phong tục, tập quán, thói quen và cách ứng xử ngôn ngữ (bao gồm cả ngôn ngữ có lời và ngôn ngữ không lời ); Các giá trị và thái độ, các hoạt động văn học nghệ thuật; tôn giáo; giáo dục; các phương thức giao tiếp cách tổ chức xã hội Ở đây nổi nên ba đặc
điểm quan trọng giúp ta phân biệt sự khác nhau giữa các nền văn hoá: Thứ nhất, sự đối lập giữa chủ nghĩa cá nhân với chủ nghĩa tập thể Thứ hai, sự phân cấp trong xã hội Thứ ba,
tính đối lập giữa tính nữ quyền hay nam quyền Thứ tư, bản chất rủi ro
Sự phân chia văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần mang tính quy ước, bởi trong đời sống không có cái gì là thuần túy Vật chất hoặc Tinh thần Thật khó, và ngày càng khó phân biệt rạch ròi đâu là sản phẩm vật chất, đâu là sản phẩm tinh thần Mặt khác, không có sản phẩm tinh thần nào lại không được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định và cũng như không có một sản phẩm vật chất nào lại không mang trong nó những giá trị tinh thần Thật vậy, những nhà cửa, đường phố, cầu cống, và ngay cả những vật dụng tầm thường nhất, kể cả những sản phẩm công nghiệp sản xuất hàng loạt, cũng là hiện thân của những giá trị văn hóa, thể hiện bản sắc dân tộc, trí tuệ và tài năng của những người làm ra chúng Hiểu được mối liên hệ mật thiết không thể tách rời của những giá trị văn hóa tinh thần và vật chất là điều vô cùng quan trọng
c Những nét đặc trưng của văn hoá
Văn hóa mang tính tập quán: Văn hóa quy định những hành vi được chấp nhận hay
không chấp nhận trong một xã hội cụ thể Có những tập quán đẹp, tồn tại lâu đời như một sự khẳng định về nét độc đáo của một nền văn hoá này so với nền văn hoá khác, như tập quán
“mời trầu” của người Việt Nam, tập quán các thiếu nữ Nga mời khách bành mì và muối Song cũng có những tập quán không dễ gì cảm thông ngay như tập quán “cà răng căng tai” ở một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam
Văn hoá mang tính cộng đồng: văn hoá không thể tồn tại do chính bản thân nó mà
phải dựa vào sự tạo dựng, tác động qua lại và củng cố của mọi thành viên trong xã hội Văn
Trang 1516
hoá như là một qui ước chung cho các thành viên trong cộng đồng Đó là những lề lối, những tập tục mà một cộng đồng người cùng tuân theo một cách rất tự nhiên, không cần ép buộc Một người nào đó làm khác đi sẽ bị cộng đồng lên án hoặc xa lánh tuy rằng xét về mặt pháp lý những việc làm của anh ta không có gì là phi pháp
Văn hoá mang tính dân tộc: văn hoá tạo nên nếp suy nghĩ và cảm nhận chung của
từng dân tộc mà người dân tộc khác không dễ gì hiểu được Vì thế mà một câu chuyện cười
có thể làm cho người dân các nước Phương Tây cười chảy nước mắt mà người dân Châu Á chẳng thấy có gì hài hước ở đó cả Vì vậy cùng một thông điệp mà ở những nước khác nhau
có thể mang ý nghĩa hoàn toàn khác nhau
Lễ cầu mùa của người Sán Chay
Lễ cầu mùa được tiến hành tại khu vực miếu thờ của thôn Phài Giác, xã Đại Dực
Trong lễ thầy cả hành lễ và xem các thầy phụ vừa múa vừa hát cho các thần nghe các điệu múa chim câu, múa trâu đạp lúa, múa tra hạt, múa ôn lại khi thần Lý Hoàng trên đường
đi lấy hào quang Rồi thầy cả nhảy múa và hát mở đường đi lấy hào quang, hát gieo hạt vừng, hát khai đăng Nội dung thầy kể về tích công trạng các thần, từ việc chế tác công cụ lao động, phát mở đường đi đến khu vực làm lễ hội, lấy bảo vật, lấy hạt giống, rồi đến việc thầy dạy
Các thầy phụ vừa múa vừa hát cho các thần nghe
Trang 16Văn hóa mang tính chủ quan: con người ở các nền văn hóa khác nhau có suy nghĩ,
đánh giá khác nhau về cùng một sự việc Một cử chỉ thọc tay vào túi quần và ngồi ghếch chân lên bàn để giảng bài của một thầy giáo có thể được coi là rất bình thường ở nước Mỹ, trái lại là không thể chấp nhận được ở nhiều nước Châu Á
Văn hóa mang tính khách quan: văn hóa thể hiện quan điểm chủ quan của từng dân
tộc, nhưng lại có cả một quá trình hình thành mang tính lịch sử, xã hội, được chia sẻ và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của mỗi người Văn hóa tồn tại khách quan kể cả với các thành viên trong cộng đồng
Văn hóa mang tính kế thừa: văn hóa là sự tích tụ hàng trăm năm, hàng ngàn năm của
tất cả các hoàn cảnh, mỗi thế hệ đều cộng thêm những nét đặc trưng riêng biệt của mình vào nền văn hóa dân tộc trước khi truyền lại cho thế hệ sau Ở mỗi thế hệ thời gian qua đi, những cái cũ có thể bị loại trừ và tạo nên văn hóa quảng đại Sự sàng lọc và tích tụ qua thời gian đã làm cho vốn văn hóa dân tộc trở nên giàu có, phong phú và tinh khiết hơn
Văn hóa có thê học hỏi được: văn hóa không chỉ được truyền lại từ đời này sang đời
khác, mà nó còn phải do học hỏi mới có Đa số những kiến thức (một biểu hiện của văn hóa)
mà một người có được là do học mà có hơn là bẩm sinh đã có Do vậy, con người ngoài vốn văn hóa có được từ nơi sinh ra và lớn lên, có thể còn học được từ những nơi khác, những nền văn hóa khác
Văn hóa luôn phát triển: một nền văn hóa không bao giờ tỉnh lại và bất biến Ngược
lại văn hóa luôn luôn thay đổi và rất năng động Nó luôn tự điều chỉnh cho phù hợp với trình
độ và tình hình mới Trong quá trình hội nhập và giao thoa với nền văn hóa khác, nó có thể tiếp thu những giá trị tiến bộ, hoặc tích cực của các nền văn hóa khác Ngược lại nó cũng có tác động ảnh hưởng tới các nền văn hóa khác
1.1.2 Chức năng của văn hoá
Có rất nhiều ý kiến khác nhau trong việc xác định các chức năng văn hoá Xét từ góc
độ bản chất của văn hoá, coi văn hoá là tổng thể của các hoạt động phong phú và đa dạng sản xuất để sáng tạo ra những sản phẩm văn hoá vật chất và tinh thần với mục tiêu cơ bản là hướng đến sự hoàn thiện và phát triển loài người thì văn hoá có các chức năng sau đây:
Chức năng giáo dục là bao trùm và quan trọng Đây là chức năng mà văn hoá thông
qua các hoạt động, các sản phẩm của mình tác động có hệ thống tới sự phát triển tinh thần, thể chất của con người, làm cho con người dần dần có những phẩm chất và năng lực theo những chuẩn mực đề ra Văn hoá thực hiện chức năng xã hội không chỉ bằng những giá trị
đã ổn định là truyền thống văn hoá mà còn bằng cả những giá trị đang hình thành Các giá trị này tạo thành một hệ thống chuẩn mực mà con người hướng tới Nhờ vậy mà văn hoá đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách ở con người – trong việc trồng người Một đứa trẻ sau khi chào đời sẽ được giáo dục theo truyền thống văn hoá nơi nó sinh ra Với chức năng giáo dục, văn hoá tạo nên sự phát triển liên tục của lịch sử mỗi dân tộc cũng như
Trang 1718
lịch sử nhân loại Văn hoá duy trì và phát triển bản sắc dân tộc và là cầu nối hữu nghị gắn bó các dân tộc, gắn kết các thế hệ trong mục tiêu hướng đến các giá trị Chân- Thiện- Mỹ Văn hoá là bộ “gen” của xã hội duy trì phẩm chất cộng đồng người lại cho thế hệ sau Đồng thời, thông qua sự “vun trồng”- chức năng giáo dục mà văn hoá thực hiện được các chức năng phát sinh khác như giao tiếp, điều chỉnh xã hội, định hướng các chuẩn mực, các cách ứng xử của con người
Chức năng thứ hai là chức năng nhận thức, đây là chức năng cơ bản, tồn tại trong
mọi hoạt động văn hoá Bởi vì con người không có nhận thức thì không thể có bất kỳ một hành động văn hoá nào Do đó, nâng cao nhận thức của con người chính là phát huy những tiềm năng của con người và qua đó góp phần nâng cao các giá trị của văn hoá
Chức năng thứ ba là chức năng thẩm mỹ, văn hoá là sự sáng tạo của con người theo
quy luật của cái đẹp, nói cách khác con người nhào nặn hiện thực hướng tới cái đẹp, trong
đó văn học nghệ thuật là biểu hiện tập trung nhất của sự sáng tạo ấy Đồng thời, với tư cách
là khách thể của văn hoá, con người tiếp nhận chức năng này của văn hoá và tự thanh lọc mình theo hướng vươn tới cái đẹp khắc phục cái xấu trong mỗi con người
Chức năng giải trí Chức năng này không tách khỏi chức năng giáo dục và mục tiêu
hoàn thiện con người bởi vì trong cuộc sống, con người luôn luôn có nhu cầu giải trí bên cạnh lao động và các hoạt động sáng tạo Các hoạt động văn hoá như câu lạc bộ, ca nhạc, lễ hội… sẽ đáp ứng các nhu cầu ấy, Thông qua sự giả trí bằng văn hoá sẽ giúp con người lao động sáng tạo có hiệu quả hơn và giúp con người phát triển toàn diện
Như vậy, thông qua các chức năng của văn hoá có thể nhận diện rõ hơn bản chất của văn hoá đó là tính nhân văn, tức là làm cho con người và cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn
1.1.3 Vai trò của văn hoá đối với sự phát triển của xã hội
Lịch sử phát triển kinh tế và văn hóa cho thấy mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều gắn liền với một nền văn hóa, khi diễn ra sự chuyển đổi về hình thái kinh tế - xã hội thì cũng kéo theo sự chuyển đổi về văn hóa, trong đó có sự kế thừa, lựa chọn những giá trị tích cực của hình thái trước Biết lựa chọn những giá trị bền vững của văn hóa dân tộc và những giá trị văn hóa tiên tiến của thế giới vận dụng vào phát triển kinh tế - xã hội, cũng có nghĩa là biết
đi theo con đường rút ngắn để theo kịp thời đại Vậy, đối với sự phát triển của kinh tế - xã hội, văn hóa có vai trò gì?
Văn hoá là mục tiêu của sự phát triển xã hội
Nói văn hoá là mục tiêu của phát triển kinh tế - xã hội có nghĩa là phát triển kinh tế phải hướng vào phát triển và hoàn thiện con người, hướng vào phát triển và hoàn thiện xã hội Nói văn hóa là động lực của sự phát triển, bởi lẽ mọi sự phát triển đều do con người quyết định chi phối, văn hóa khơi dậy và nhân lên mọi tiềm năng sáng tạo của con người, huy động sức mạnh nội sinh to lớn trong con người đóng góp vào sự phát triển xã hội Phải coi văn hoá là mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội thì mới có thể khác phục được tình trạng mâu thuẫn giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần Thực tế cho thấy không phải bao giờ giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần của xã hội cũng tỉ lệ thuận với nhau Rất có thể xảy ra trường hợp kinh tế phát triển, đời sống vật chất được nâng lên song xã hội lại có sự gia tăng các tệ nạn xã hội; văn hoá, đạo đức xuống cấp Giải quyết mâu thuẫn này đòi hỏi chúng ta phải khắc phục khoảng cách giữa văn hoá và văn minh kỹ thuật Trước đây, để phát triển kinh tế, người ta thường nhấn mạnh và khai thác yếu tố lao động của con người cho sự
Trang 1819
phát triển Ngày nay, trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, yếu tố quyết định cho sự phát triển là trí tuệ, là thông tin, là sáng tạo và đổi mới không ngừng nhằm tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần ngày càng cao, đáp ứng nhu cầu đa dạng và phong phú của mỗi người cũng như của toàn xã hội Tuy nhiên, sự phát triển của trí tuệ, của khoa học – kĩ thuật dẫn đến tăng trưởng kinh tế cũng có khả năng gây ảnh hưởng xấu đến lối sống, đạo đức xã hội nói riêng và văn hoá nói chung Nếu chỉ chú trọng nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật mà không chú trọng các yếu tố đạo đức, lối sống… thì không thể
có được một xã hội phồn vinh và hạnh phúc Phát triển kinh tế phải hướng vào mục tiêu văn hoá, hướng vào sự hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội Đó là sự phát triển hiện đại Một chính sách phát triển đúng đắn là chính sách làm cho các yếu tố cấu thành văn hóa thấm sâu vào tất cả các lĩnh vực sáng tạo của con người: văn hóa trong sản xuất, văn hóa trong quản
lý, văn hóa trong lối sống, văn hóa trong giao tiếp, văn hóa trong sinh hoạt gia đình, ngoài xã hội, văn hóa trong giao lưu và hợp tác quốc tế… Nói cách khác, hàm lượng trí tuệ, hàm lượng văn hóa trong các lĩnh vực của đời sống con người càng cao bao nhiêu thì khả năng phát triển kinh tế - xã hội càng trở nên hiện thực bấy nhiêu
Văn hoá là động lực của sự phát triển xã hội
Văn hóa trở thành động lực của phát triển kinh tế là kết quả tất nhiên khi kinh tế phát triển tới một trình độ nhất định Cùng với sự phát triển kinh tế và mức thu nhập bình quân đầu người tăng cao, sức lao động và giá trị sản xuất đã chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp, rồi từ công nghiệp sang dịch vụ Động lực chủ yếu thúc đẩy phát triển kinh tế giờ đây không chỉ còn là sức lao động và tư bản nữa, mà bao gồm cả tri thức, khoa học, kỹ thuật, công nghệ Những tri thức đó mang sức mạnh của nguồn lực trí tuệ, do đó không tách rời mà gắn liền với con người, với năng lực và trình độ của chủ thể người - chủ thể sáng tạo văn hóa Con người là nhân tố quyết định sự hưng, suy của một dân tộc, con người tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội, quyết định sự phát triển của kinh tế - xã hội Nói đến con người cũng là nói đến văn hoá bởi con người là sản phẩm của văn hoá Toàn bộ những giá trị văn hoá làm nên những phẩm chất tinh thần của con người Phẩm chất tinh thần của con người sẽ được vật chất hoá trong quá trình lao động sản xuất của cải vật chất và tinh thần cho xã hội Nguyên nhân trực tiếp khiến văn hóa trở thành động lực của phát triển kinh
tế là sự thay đổi của kết cấu kinh tế Nhưng nguyên nhân chủ yếu lại là sự biến đổi của nhu cầu Nhu cầu của con người phát triển từ thấp đến cao mà văn hóa chính là nhu cầu cao cấp nhất của con người Sản xuất vật chất ngày nay vừa phải tạo ra sản phẩm đáp ứng các nhu cầu kinh tế của xã hội, trong đó có nhu cầu của chính nền sản xuất; đồng thời phải tạo ra sản phẩm đáp ứng các nhu cầu tinh thần của từng cá nhân người và toàn xã hội Lôgíc tồn tại và vận động của sản xuất và kinh tế hiện đại đang tạo ra tiền đề và điều kiện làm gia tăng vai trò của yếu tố văn hóa nói chung và nhu cầu tinh thần nói riêng Chúng ta thừa nhận vai trò của khoa học kỹ thuật đối với phát triển kinh tế - xã hội Nếu khoa học kỹ thuật tiên tiến, hiện đại sẽ thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, ngược lại nếu khoa học kỹ thuật thấp kém, lạc hậu sẽ kìm hãm sự phát triển của kinh tế - xã hội nhưng khoa học kỹ thuật là kết tinh của trí tuệ, kinh nghiệm và sức sáng tạo của con người Điều đó có nghĩa là khoa học kỹ thuật là sản phẩm của con người, của văn hoá Khoa học kỹ thuật là một nội dung của văn hoá Cùng với trình độ khoa học kỹ thuật thì những yếu tố lương tâm, tinh thần trách nhiệm, ý thức giác ngộ xã hội của người lao động là những yếu tố quyết định chất lượng và hiệu quả lao động Như vậy, văn hoá là động lực để thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển Nói văn hoá là động lực
Trang 1920
phát triển kinh tế - xã hội không phải chỉ nói đến các yếu tố như trình độ học vấn, trình độ khoa học - kỹ thuật mà còn phải nói đến các yếu tố khác như lương tâm, đạo đức, lối sống… Nhận thức được điều đó, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều xác định muốn đất nước giàu mạnh phải nâng cao dân trí và đều có chiến lược đầu tư cho giáo dục đào tạo
Văn hoá là linh hồn và hệ điều tiết của phát triển
Nói văn hóa là hệ điều tiết của sự phát triển, bởi lẽ, văn hóa phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của các nhân tố khách quan và chủ quan, của các điều kiện bên trong
và bên ngoài, bảo đảm cho sự phát triển được hài hòa, cân đối, lâu bền Trong nền kinh tế thị trường, một mặt văn hóa dựa vào chuẩn mực của nó là chân, thiện, mỹ để hướng dẫn và thúc đẩy người lao động không ngừng phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, nâng cao tay nghề, nâng cao năng suất lao động, đáp ứng nhu cầu không ngừng tăng lên của xã hội; mặt khác, văn hóa sử dụng sức mạnh của các giá trị truyền thống, của đạo lý, dân tộc để hạn chế những mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường Toàn cầu hóa kinh tế quốc tế là một xu thế, đòi hỏi chúng ta phải chủ động và tích cực hội nhâp Đây là cơ hội để chúng ta phát triển nhanh có hiệu quả, nhưng cũng là thách thức rất lớn với nước ta trên nhiều mặt, trong đó có cả văn hóa Lúc này, nền văn hóa dân tộc sẽ đóng vai trò định hướng và điều tiết để hội nhập và phát triển bền vững, hội nhập để phát triển nhưng vẫn giữ vững được độc lập, tự chủ Do đó, chúng ta cần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình hội nhập, phát triển
Nhìn nhận vai trò của văn hóa trong phát triển kinh tế - xã hội là đặt văn hoá trong mối quan hệ biện chứng với phát triển kinh tế - xã hội và thừa nhận sự tác động qua lại giữa văn hoá và kinh tế Trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế hàng hoá, văn hoá phải giữ vai trò là động lực, là mục tiêu của phát triển kinh tế - xã hội nhằm khắc phục những mâu thuẫn vốn có của nền kinh tế thị trường Sự tác động của văn hoá đối với phát triển kinh tế nói riêng và phát triển xã hội nói chung được thực hiện thông qua việc thiết lập và ứng dụng những khuôn mẫu, giá trị đạo đức, giá trị tinh thần được xã hội thừa nhận, từ đó định hướng cho kinh tế - xã hội phát triển theo cái đúng, cái tốt, cái đẹp
Ở Việt Nam, văn hóa cũng tham gia vào việc lựa chọn con đường phát triển lâu dài của đất nước Nhận thức sâu sắc giá trị của văn hóa trong quá trình phát triển, Đảng ta xác định tiến hành đồng bộ và gắn kết chặt chẽ ba lĩnh vực: Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ then chốt cùng với việc xây dựng văn hóa, nền tảng tinh thần của xã hội nhằm tạo nên sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững của đất nước Trong đó, nội dung xây dựng văn hóa được xác định: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, một định hướng quan trọng để đất nước phát triển bền vững
1.2 Khái quát chung về văn hoá kinh doanh
1.2.1 Định nghĩa văn hoá kinh doanh
Càng ngày con người càng nhận thấy rằng văn hoá tham gia vào mọi quá trình hoạt động của con người và sự tham gia đó ngày càng được thể hiện rõ nét và tạo thành các lĩnh vực văn hoá đặc thù như văn hoá chính trị, văn hoá pháp luật, văn hoá giáo dục, văn hoá gia đình …và văn hoá kinh doanh Văn hoá kinh doanh là một phương diện của văn hoá xã hội, được thể hiện trong lĩnh vực kinh doanh Văn hoá kinh doanh được cấu thành từ nhiều yếu
tố và đóng vai trò rất quan trọng trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh Dù xét từ góc độ
Trang 2021
nào thì mục đích chính của kinh doanh là đem lại lợi nhuận cho chủ thể kinh doanh nên bản chất của kinh doanh là để kiếm lời Trong nền kinh tế thị trường, kinh doanh là một nghề chính đáng xuất phát từ nhu cầu phát triền của xã hội, do sự phân công xã hội tạo ra Còn việc kinh doanh như thế nào kinh doanh đem lại lợi ích và giá trị cho ai thì đó chính là vấn
đề của văn hoá kinh doanh
Văn hoá kinh doanh biểu hiện qua mọi khía cạnh, mọi quan hệ của hoạt động kinh doanh Trong tổ chức, quản lý kinh doanh, văn hoá thể hiện ở sự lựa chọn phương hướng kinh doanh, sự hiểu biết về sản phẩm, dịch vụ, về những mối quan hệ giữa người và người trong cộng đồng doanh nghiệp; ở việc biết tuân theo các quy tắc và quy luật của thị trường; ở việc phát triển và bảo hộ những hàng hoá có bản sắc văn hoá dân tộc; ở việc hướng dẫn và định hướng tiêu dùng; ở việc chỉ đạo, tổ chức, hướng dẫn một phong cách văn hoá trong doanh nghiệp…
Văn hoá kinh doanh còn thể hiện ở sự giao lưu, giao tiếp trong kinh doanh Đó là mối quan hệ giữa người bán và người mua, là văn hoá trong giao tiếp với khách hàng để tạo ra sự thích thú đối với họ; đó là thái độ với đối tác làm ăn, với đối thủ cạnh tranh (cạnh tranh để cùng tồn tại và phát triển); là văn hoá trong đàm phán, ký kết các hợp đồng thương mại, là văn hoá trong soạn thảo các thông điệp quảng cáo… Đó còn là sự giao lưu văn hoá giữa các vùng, miền của mỗi quốc gia và giữa các quốc gia
Bản chất của văn hoá kinh doanh là làm cho cái lợi gắn bó chặt chẽ với cái đúng, cái
tốt và cái đẹp Từ đó, khái niệm về văn hoá kinh doanh được trình bày như sau: “ Văn hoá kinh doanh là toàn bộ các nhân tố văn hoá được chủ thể kinh doanh chon lọc, tạo ra, sử
Trang 21là một sắc thái của văn hoá kinh doanh
Văn hoá kinh doanh còn thể hiện ở hành vi, ở chính phẩm chất đạo đức, tài năng và phong cách của nhà kinh doanh Đó là những phẩm chất đạo đức, như tính trung thực, sự tôn trọng con người, luôn vươn tới sự hoàn hảo…; là sự hiểu biết về thị trường, về nghề kinh doanh, khả năng xử lý tốt các mối quan hệ, nhanh nhạy, quyết đoán và khôn ngoan; là phong cách làm việc, phong cách ứng xử và sinh hoạt, phong cách diễn đạt… của nhà kinh doanh
Văn hoá kinh doanh còn thể hiện ở các hoạt động văn hoá tinh thần của doanh nghiệp (như các phong trào văn nghệ, thể dục thể thao…) nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động của con người trong sản xuất, kinh doanh
Ở Việt Nam, văn hoá kinh doanh không phải chỉ có từ khi nước ta chuyển sang kinh
tế thị trường Trước đó, văn hoá kinh doanh của người Việt Nam tồn tại như một dự trữ tiềm năng, thể hiện ở sự thông minh, sáng tạo, nhạy bén, thích ứng nhanh với ngoại cảnh… Song, thể chế xã hội cũ trước đây với những hạn chế của nó đã không tạo ra được môi trường kinh
tế - xã hội thuận lợi để văn hoá kinh doanh Việt Nam nảy nở Từ khi nước ta thực hiện công cuộc đổi mới đến nay, văn hoá kinh doanh với những sắc thái đa dạng của nó được khơi dậy, phát huy Nhiều doanh nghiệp hướng đến việc tạo ra các sản phẩm đạt chất lượng cao, hình thức đẹp và giá thành hạ, đáp ứng được nhu cầu của thị trường, được xã hội và người tiêu dùng chấp nhận; thực hiện hoạt động kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật, làm tròn nghĩa vụ với nhà nước, tạo được uy tín đối với khách hàng; tích cực đổi mới trong nắm bắt thông tin, cải tiến kỹ thuật và công nghệ, tiết kiệm nguyên vật liệu, tạo ra được nhiều việc làm, quan tâm nhiều hơn đến đời sống vật chất và tinh thần của người làm công, chú ý bồi dưỡng và phát huy tiềm năng sáng tạo của họ Những danh hiệu “Sao đỏ”, "Sao vàng đất Việt" … là sự ghi nhận và tôn vinh của xã hội đối với các doanh nghiệp, doanh nhân văn hoá điển hình
Trang 2223
1.2.2 Các nhân tố cấu thành văn hoá kinh doanh
a Triết lý kinh doanh
Triết lý kinh doanh là những tư tưởng triết học phản ánh thực tiễn kinh doanh thông qua con đường trải nghiệm, suy nghĩ, khái quát hoá của các chủ thể kinh doanh và chỉ dãn cho hoạt động kinh doanh
Kết cấu nội dung của triết lý kinh doanh thường gồm những bộ phận sau: Sứ mệnh và các mục tiêu kinh doanh cơ bản; Các phương thức hành động để hoàn thành được những sứ mệnh và mục tiêu – nhằm cụ thể hoá hơn cách diễn đạt được những sứ mệnh và mục tiêu; Các nguyên tắc tạo ra một phong cách ứng xử, giao tiếp và hoạt động kinh doanh đặc thù của doanh nghiệp
Mỗi doanh nghiệp muốn có văn hóa kinh doanh bền vững phải bắt đầu từ yếu tố cơ bản nhất là quan niệm kinh doanh đúng đắn Làm sao để có được quan niệm kinh doanh đúng đắn và phù hợp làm nền tảng cho sự phát triển của mỗi doanh nghiệp là điều không hề đơn giản, đòi hỏi tầm nhìn, cái tâm và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn của chủ thể kinh doanh Triết lý kinh doanh là hạt nhân của văn hóa doanh nghiệp, nằm trong tầng sâu nhất, cốt lõi nhất của văn hóa doanh nghiệp Nó thể hiện tầm nhìn, sứ mệnh và giá trị cốt lõi của doanh nghiệp đó Một doanh nghiệp có nền tảng văn hóa mạnh thì trước hết phải có triết lý kinh doanh mạnh, có tầm ảnh hưởng sâu sắc Triết lý kinh doanh không phải chỉ là những ý tưởng, lý tưởng nằm trong suy nghĩ, trên giấy tờ mà phải thẩm thấu vào các lớp khác của văn hóa doanh nghiệp, được hiện thực hóa qua hoạt động của doanh nghiệp đó, chứa đựng trong sản phẩm và kết quả của chính doanh nghiệp đó tạo ra
Mỗi doanh nghiệp muốn kinh doanh bền vững phải bắt đầu từ yếu tố cơ bản nhất là quan niệm kinh doanh đúng đắn: tiến hành kinh doanh vì cái gì, như thế nào? Làm sao để có được quan niệm kinh doanh đúng đắn và phù hợp làm nền tảng cho sự phát triển của mỗi doanh nghiệp là điều không hề đơn giản, đòi hỏi tầm nhìn, cái tâm và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn của chủ thể kinh doanh
b Đạo đức kinh doanh
Văn hoá kinh doanh còn thể hiện ở hành vi, ở chính phẩm chất đạo đức, tài năng và phong cách của nhà kinh doanh Đó là những phẩm chất đạo đức, như tính trung thực, sự tôn trọng con người, luôn vươn tới sự hoàn hảo…; là sự hiểu biết về thị trường, về nghề kinh doanh, khả năng xử lý tốt các mối quan hệ, nhanh nhạy, quyết đoán và khôn ngoan; là phong cách làm việc, phong cách ứng xử và sinh hoạt, phong cách diễn đạt… của nhà kinh doanh
Đạo đức kinh doanh là tập hợp các nguyên tắc, chuẩn mực có tác dụng điều chỉnh, đánh giá, hướng dẫn và kiểm soát hành vi của các chủ thể kinh doanh Đây là hệ thống các quy
tắc xử sự, các chuẩn mực đạo đức các quy chế, nội quy … có vai trò điều tiết các hoạt động của quá trình kinh doanh nhằm hướng đến triết lý đã định Thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp như đóng góp đầy đủ cho ngân sách nhà nước, tham gia các hoạt động xã hội
từ thiện, bảo vệ môi trường sinh thái, tôn trọng những quy phạm đạo đức trong quan hệ xã hội, quan hệ kinh doanh, tôn trọng các giá trị truyền thống… cũng là một sắc thái của văn hoá kinh doanh Đạo đức kinh doanh là một bộ phận cấu thành và không tách rời của đạo đức xã hội nói chung Có nhiều định nghĩa về đạo đức kinh doanh, tuy nhiên qua tổng hợp các ý kiến tại các cuộc hội thảo, trên báo chí và trong xã hội, có thể định nghĩa khái quát như sau: Đạo đức kinh doanh là một tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực đạo đức hoặc luật lệ có tác dụng chỉ dẫn, điều chỉnh và kiểm soát hành vi nhằm bảo đảm chuẩn mực
Trang 2324
và sự trung thực trong hoạt động của chủ thể kinh doanh Với tư cách là một dạng đạo đức nghề nghiệp mang tính đặc thù cao vì gắn liền với các lợi ích kinh tế, đạo đức kinh doanh chính là phạm trù đạo đức được vận dụng vào hoạt động kinh doanh nhưng nó không tách rời nền tảng của nó là đạo đức xã hội chung và phải chịu sự chi phối bởi một hệ giá trị và chuẩn mực đạo đức xã hội
c Văn hóa doanh nhân
Qua quá trình hình thành và phát triển doanh nghiệp, văn hóa của người lãnh đạo sẽ phản chiếu lên văn hóa kinh doanh Những gì nhà lãnh đạo quan tâm, khuyến khích thực hiện, cách thức mà người lãnh đạo đánh giá, khen thưởng hoặc khiển trách nhân viên sẽ thể hiện cách suy nghĩ và hành vi của họ và điều đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới hành vi của toàn
bộ nhân viên dưới quyền Doanh nhân là những người có vai trò quyết định văn hóa kinh doanh thông qua việc kết hợp hài hòa các lợi ích để doanh nghiệp trở thành ngôi nhà và là
vận mệnh chung của tất cả mọi người
Văn hóa doanh nhân là toàn bộ các nhân tố văn hóa mà các doanh nhân chọn lọc, tạo ra, sử dụng biểu hiện trong hoạt động kinh doanh của mình
Tài năng, đạo đức và phong cách của nhà kinh doanh có vai trò quyết định trong việc hình thành văn hoá kinh doanh của chủ thể kinh doanh Phong cách doanh nhân chính là sự tổng hợp các yếu tố diện mạo, ngôn ngữ, cách cư xử và cách hành động của doanh nhân, phong cách của doanh nhân thường được đồng nhất với phong cách kinh doanh của họ vì nhà kinh doanh thường dành phần lớn thời gian và cuộc sống của họ cho công việc Đồng thời, phong cách của nhà kinh doanh thường được biểu hiện rõ nét nhất ở lối ứng xử và hoạt động nghiệp vụ, do đó phong cách của họ là yếu tố quan trọng hình thành nên phương pháp kinh doanh Đạo đức của doanh nhân trong quá trình hoạt động là một thành tố quan trọng tạo nên văn hoá của kinh doanh Có thể khái quát một số tiêu chuẩn không thể thiếu đối với đạo đức của các doanh nhân như: Tính trung thực; Tôn trọng con người; Vươn tới sự hoàn hảo; Đương đầu với thử thách; Coi trọng hiệu quả gắn liền với trách nhiệm xã hội Năm đức tính trên là năm đức tính không thể không thể thiếu đối với nhà kinh doanh Tuy nhiên, để thành đạt trong nền kinh tế thị trường thì ngoài những tiêu chuẩn không thể thiếu về đạo đức, các doanh nhân phải có tài năng kinh doanh Có thể khái quát những tài năng của nhà kinh doanh thành những năng lực sau đây: Sự hiểu biết về thị trường; Những hiểu biết về nghề kinh doanh; Hiểu biết về con người và có khả năng xử lý tốt các mối quan hệ; Nhanh nhạy, quyết đoán và khôn ngoan Như vậy, đạo đức, tài năng và phong cách của doanh nhân
là những thành tố quan trọng hình thành nên văn hoá doanh nhân nói riêng và văn hoá kinh doanh nói chung
d Văn hóa doanh nghiệp
Văn hóa doanh nghiệp tạo nên nét đặc trưng của văn hóa kinh doanh: mỗi doanh nghiệp có một đặc trưng kinh doanh riêng và chính văn hóa doanh nghiệp tạo nên nét khác biệt đó Các giá trị cốt lõi, các thói quen hay cách họp hành, đào tạo, thậm chí đến cả đồng phục, giao tiếp… đã tạo nên văn hóa kinh doanh riêng biệt cho từng doanh nghiệp Rõ ràng việc có được điều này là vô cùng quan trọng, giữa hàng ngàn, hàng vạn doanh nghiệp trên thị trường thì có một đặc trưng riêng sẽ giúp doanh nghiệp nổi bật, dễ nhận biết và có một định vị tốt trong tâm trí khách hàng và đối tác Khả năng kinh doanh, cũng như uy tín của doanh nghiệp theo đó cũng được đẩy mạnh Văn hoá doanh nghiệp là toàn bộ các giá trị văn hoá được gây dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, trở
Trang 2425
thành các giá trị, các quan niệm và tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp ấy và chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên trong doanh nghiệp để theo đuổi và thực hiện các mục đích của doanh nghiệp Văn hóa doanh nghiệp có
vị trí, vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của mỗi doanh nghiệp Bất kỳ một doanh nghiệp nào nếu thiếu đi yếu tố văn hóa thì doanh nghiệp đó khó có thể đứng vững và tồn tại được, đặc biệt trong giai đoạn hội nhập hiện nay
e Văn hóa ứng xử trong kinh doanh
Văn hoá kinh doanh còn thể hiện ở sự giao lưu, giao tiếp trong kinh doanh Đó là mối quan hệ giữa người bán và người mua, là văn hoá trong giao tiếp với khách hàng để tạo ra sự thích thú đối với họ; đó là thái độ với đối tác làm ăn, với đối thủ cạnh tranh; là văn hoá trong đàm phán, ký kết các hợp đồng thương mại, là văn hoá trong soạn thảo các thông điệp quảng cáo… Đó còn là sự giao lưu văn hoá giữa các vùng, miền của mỗi quốc gia và giữa các quốc gia Trong bối cảnh của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, sự cạnh tranh trên thị trường thực chất là cạnh tranh của sắc thái văn hoá kinh doanh Văn hoá kinh doanh ngày càng trở thành một tất yếu, một xu thế khách quan trong xã hội hiện đại
Như vậy, triết lí kinh doanh, đạo đức kinh doanh, văn hoá doanh nhân, văn hóa doanh nghiệp và văn hóa ứng xử trong kinh doanh là năm nhân tố cấu thành không thể thiếu
và không thể tách rời của hệ thống văn hoá kinh doanh hoàn chỉnh Ứng với mỗi loại hình kinh doanh cụ thể, năm nhân tố này sẽ tạo nên hệ thống văn hoá kinh doanh đặc trưng của mỗi loại hình chủ thể đó
1.2 3 Đặc trưng của văn hoá kinh doanh
Văn hoá kinh doanh, là văn hoá của một lĩnh vực đặc thù trong xã hội, văn hoá kinh doanh là một bộ phận trong nền văn hoá dân tộc, văn hoá xã hội Vì thế nó cũng mang những đặc điểm chung của văn hoá như:
Tính tập quán: Hệ thống các giá trị của văn hoá kinh doanh sẽ quy định những hành
vi được chấp nhận hay không được chấp nhận trong một hoạt động hay môI trường kinh doanh cụ thể Có những tập quán kinh doanh đẹp tồn tại như một sự khẳng định những nét độc đáo đó là tập quán chăm lo đến đời sống riêng tư của người lao động trong các doanh nghiệp Nhật Bản, tập quán cung cấp các dịch vụ sau bán hàng cho khách của các doanh nghiệp hiện đại …Tuy nhiên, cũng có những tập quán không dễ gì cảm thông ngay như tập quán đàm phán và kí kết hợp đồng trên bàn tiệc của nhiều doanh nghiệp Việt Nam
Tính cộng đồng: kinh doanh bao gồm một hệ thống các hoạt động có tính chất đặc
trưng với mục tiêu là lợi nhuạn của chủ và các nhu cầu được đáp ứng của khách, kinh doanh không thể tồn tại do chính bản thân nó mà phải dựa vào sự tạo dựng, tác động qua lại và củng cố của mọi thành viên tham gia trong quá trình hoạt động Do đó, văn hoá kinh doanh - thuộc tính vốn có của kinh doanh - sẽ là sự quy ước chung của các thành viên trong cộng đồng kinh doanh Văn hoá kinh daonh bao gồm nhũng giá trị, nhũng lề thói, nhũng tập tục
mà các thành viên trong cộng đồng cùng tuân theo một cách rất tự nhiên, không cần phải ép buộc Nếu một người nào đó làm khác đi sẽ bị cộng động lên án hoặc xa lánh tuy rằng xét về mặy pháp lí nhũng việc làm đó không trái pháp luật
Tính dân tộc: Tính dân tộc là một đặc trưng tất yếu của văn hoá kinh doanh, vì bản
than văn hoá kinh doanh là một tiểu văn hoá nằm trong văn hoá dân tộc và mỗi chủ thể kinh
Trang 25hô kiểu “gia đình hoá” này sẽ làm cho không khí của tổ chức trở nên thân mật hơn nhưng lại làm giảm sự tách bạch giữa công việc và quan hệ riêng tư, gây trở ngại cho việc quản lí kinh doanh
Tính chủ quan: Văn hóa kinh doanh được xây dựng và bị chi phối lớn bởi quan điểm
của người lãnh đạo doanh nghiệp Do đó, yếu tố cá nhân, nhận thức, quan điểm, cá tính vá tính chủ quan có tác động không nhỏ tới nét đặc trưng về văn hóa kinh doanh của doanh nghiệp đó
Tính khách quan: Mặc dù văn hoá kinh doanh là sự thể hiện quan điểm chủ quan của từng chủ thể kinh doanh, nhưng do được hình thành trong cả một quá trình với sự tác động của rất nhiều nhân tố bên ngoài như xã hôi, lịch sử, hội nhâp nên văn hoá kinh doanh tồn tại khách quan ngay cả với chính chủ thể kinh doanh Có những giá trị văn hoá kinh doanh buộc chủ thể kinh doanh phải chấp nhận nó chứ không thể biến đổi chúng theo ý muốn chủ quan của mình Chẳng hạn, quan niệm về tâm lí coi trọng khoa bảng từ thời kì phong kiến còn ảnh hưởng nặng nề tới cơ chế sử dụng lao động ở Việt Nam hiện nay Rất nhiều doanh nghiệp chỉ dựa vào bằng cấp, bảng điểm để tuyển dụng lao động Thực trạng này khiến cho tâm lí học cao hơn để lấy bằng, để có thu nhập cao hơn là rất phổ biến trong
xã hội
Tính kế thừa: Cũng giống như văn hoá, văn hóa kinh doanh là sự tích tụ của tất cả
các hoàn cảnh Trong quá trình kinh doanh, mỗi thế hệ sẽ cộng thêm các đặc trưng riêng biệt của hệ thống văn hoá kinh doanh trước khi truyền lại cho thế hệ sau Thời gian qua đi, những cái cũ có thể bị loại trừ nhưng sự sàng lọc và tích tụ qua thời gian sẽ làm cho các giá trị của văn hoá kinh doanh trở nên giàu có, phong phú và tinh khiết hơn Sự hình thành nên phẩm chất của các nhà lãnh đạo công ty Trung Cương - Đài Loan thành lập ngày 2-11-1971
là một ví dụ điển hình cho đặc trưng này của văn hoá kinh doanh Những ngày đầu thành lập Triệu Diệu Đông – Giám đốc đầu tiên của công ty đã rất bản lĩnh, mạnh mẽ và đầy tinh thần dám làm dám chịu khi lấy trách nhiệm cá nhân của mình trước tổng thống Đài Loan để đảm bảo sự hoạt động lớn mạnh của công ty với điều kiện giảm bớt sự can thiệp của nhà nước Sau một thời gian, kết quả đúng như cam kết, Trung Cương đã trở thành một doanh nghiệp lớn nhất và thành đạt nhất của Đài loan trong lĩnh vực sản xuất thép Kế thừa sau đó là giám đốc Lưu Tằng Tích cũng luôn hoàn thành được sứ mệnh của Trung Cương Dần dần, bản lĩnh mạnh mẽ tinh thần dám làm dám chịu trở thành những đặc trưng được kế thừa và không thể thiếu của những người lanh đạo công ty
Tính học hỏi: Có những giá trị của văn hóa kinh doanh không thuộc về văn hoá dân
tộc hay văn hoá xã hội và cũng không phải do các nhà lãnh đạo sáng lập ra Những giá trị đó
có thể được hình thành từ kinh nghiệm khi xử lí các vấn đề, từ kết quả của quá trinh nghiên cứu thị trường, nghiên cứu đối thủ cạnh tranh, hoặc được tiếp nhận trong quá trình giao lưu với nền văn hoá khác….Tất cả các giá trị nêu đó được tạo nên bởi tính học hỏi của văn hoá kinh doanh Như vậy, ngoài những giá trị được kế thừa từ văn hoá dân tộc và xã hội, tính
Trang 2627
học hỏi sẽ giúp văn hoá kinh doanh có được những giá trị tốt đẹp được từ những chủ thể và những nền văn hoá khác Ví dụ như trào lưu máy tính hoá và trào lưu sử dụng thư điện tử trong xã hội hiện nay đã tạo nên phong cách làm việc mới của nhiều doanh nghiệp Các nhân viên có thể trao đổi mọi công việc với đồng nghiệp và đối tác qua thư điện tử và các bản fax, biện pháp này vừa nhanh gọn lại vừa tiết kiệm chi phí Và kết quả của quá trình đó là nền “văn hoá điện tử” đang dần hình thành, sử dụng máy tính, hiểu biết về internet trở nên một trong những kĩ năng bắt buộc của nhà kinh doanh
Tính tiến hoá: Kinh doanh rất sôi động và luôn luôn thay đổi, do đó văn hoá kinh
doanh với tư cách là bản sắc của chủ thể kinh doanh cũng luôn tự điều chỉnh cho phù hợp với trình độ kinh doanh và tình hình mới Đặc biệt, trong thời đại hội nhập, việc giao thoa với các sắc thái kinh doanh của các chủ thể khác nhằm trao đổi và tiếp thu các giá trị tiến bộ
là điều tất yếu Ví dụ như tinh thần tập thể của người Việt Nam trong nền kinh tế bao cấp trước đây chịu ảnh hưởng lớn của tính địa phương cục bộ, do vậy sự đề bạt hoặc hợp tác kinh tế nhiều khi không chỉ dựa trên năng lực, phẩm chất mà bị tính địa phương chi phối ít nhiều Tuy nhiên, khi được chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, khi lợi ích bền vững của các chủ thể kinh doanh phụ thuộc vào những quyết định và hành động của họ thì tính địa phương cục bộ sẽ dần bị thủ tiêu, và thay vào đó kết quả đạt được , năng lực và phẩm chất sẽ
là những tiêu chí để đánh giá và lựa chọn
Tính tập quán, tính cộng đồng, tính dân tộc, tính chủ quan, tính khách quan, tính kế thừa, tính học hỏi và tính tiến hoá là 8 đặc trưng của văn hoá kinh doanh với tư cách là một
bộ phận của văn hoá dân tộc và văn hoá xã hội Tuy nhiên, kinh doanh cũng là một hoạt động có những nét khác biệt so với các hoạt động khác như chính trị, pháp luật, gia đình nên ngoài tăm đặc trưng trên, văn hoá kinh doanh có nhũng nét đặc trưng riêng phân biệt với văn hoá các lĩnh vực khác Điều này được thể hiện rõ nét ở hai đặc trưng sau của văn hoá kinh doanh:
Thứ nhất, văn hoá kinh doanh xuất hiện cùng với sự hiện của thị trường Nếu như văn
hoá nói chung (văn hoá xã hội) ra đời ngay từ thủa bình minh của xã hội loài người thì văn hoá kinh doanh xuất hiện muộn hơn nhiều Văn hoá kinh doanh chỉ ra đời khi nền sản xuất hàng hoá phát triển đến mức: Kinh doanh trở thành một hoạt động phổ biến và chính thức trở thành một nghề, lúc đó xã hội sẽ ra đời một tầng lớp mới, đó là các doanh nhân Chính vì vậy, ở bất kì một xã hội nào khi có hoạt động kinh doanh thì đều có văn hoá kinh doanh, dù các thành viên của xã hội đó có ý thức được hay không Và văn hoá được hình thành như một hệ thống những giá trị, những cách cư xử đặc trưng cho các thành viên trong lĩnh vực kinh doanh
Thứ hai, văn hoá kinh doanh phải phù hợp với trình độ kinh doanh của chủ thể kinh doanh Văn hoá kinh doanh là sự thể hiện tài năng, phong cách và thói quen của các nhà kinh doanh, vì vậy nó phải phù hợp với trình độ kinh doanh của nhà kinh doanh đó Ví dụ như: quan điểm, phong cách, thái độ làm việc của các doanh nhân Việt Nam thời kinh tế nông nghiệp, tự cung, tự cấp chắc chắn sẽ không thể nào quá nhanh nhạy và sắc bén, còn khi
đã chuyển sang nền kinh tế thị trường thì tác phong chậm chạp và lề mề của họ không thêt tồn tại được lâu
Chúng ta không thể phê phán nền văn hoá của một quốc gia khác là tốt hay xấu, cũng như không thể nhận xét văn hoá kinh doanh của một chủ thể kinh doanh là hay hoặc dở, vì vấn đề ở chỗ văn hoá kinh doanh luôn luôn phù hợp với trình độ phát triển kinh doanh Do
Trang 2728
đó, cần học cách chấp nhận và học hỏi văn hoá kinh doanh của các chủ thể khác nhau trên thị trường để có thể hợp tác, hội nhập và phát triển, đặc biệt là trong môi trường toàn cầu hoá hiện nay
Như vậy về cơ bản, trình độ phát triển của văn hoá kinh doanh là do sự phát triển của kinh tế hàng hoá quy định Trong một nền kinh tế hàng hoá đã phát triển - nơi mà ở đó các quan hệ kinh doanh đã đi vào chiều sâu, các chủ thể kinh doanh đã biết thực hiện mục đích tìm kiếm lợi nhuận một cách có văn hoá thì các giá trị tốt đẹp sẽ được thể hiện ngay từ ý thức quan điểm kinh doanh cho đến những tri thức về sự lựa chọn mặt hàng, lựa chọn phương thức hoạt động: từ hình thức, nội dung của quảng cáo cho đến phong cách giao tiếp ứng xử trong mọi mối quan hệ
1.2 4 Vai trò của văn hóa kinh doanh
Dưới ảnh hưởng của mỗi nền văn hoá mà nhân cách, đạo đức, niềm tin, thái độ, hệ thống các giá trị …ở mỗi con người, mỗi doanh nhân, mỗi tổ chức được hình thành và phát triển do đó, phong cách cùng phương pháp quản trị ở mỗi chủ thể kinh doanh nói riêng sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi những nền văn hoá mà họ thuộc về Cùng với đó, tình cảm của gia đình, sự hiểu biết xã hội, trình độ học vấn… cũng sẽ chi phối việc soạn thảo chiến lược và sách lược kinh doanh ở mỗi chủ thể kinh doanh Vì thế, văn hoá kinh doanh có vai trò rất quan trọng đối với các chủ thể
a Văn hoá kinh doanh là phương thức phát triển sản xuất kinh doanh bền vững
Hoạt động kinh doanh được thúc đẩy bằng nhiều động cơ khác nhau, trong đó động
cơ kiếm được nhiều lợi nhuận là động cơ quan trọng nhất Tuy nhiên, sẽ chưa thật đầy đủ nến chúng ta khẳng định “mọi cuộc kinh doanh đều bị thúc đẩy hoặc dẫn dắt chỉ bằng mục tiêu lợi nhuận và nhà kinh doanh nào cũng chỉ hoạt động vì sự ích kỉ và giàu có của bản thân” bởi vì những lí do sau đây:
Thứ nhất, động cơ khiến cho các nhà kinh doanh kiếm lợi không chỉ là các nhu cầu
sinh lí và bản năng mà nó còn do các nhu cầu cao cấp hơn (hay có tính văn hoá hơn) trong
đó nhu cầu mong muốn được xã hội tôn trọng, mong muốn được tự thể hiện và sáng tạo Thực tế đã chứng minh, nhiều nhà kinh doanh đã dùng tài sản của mình để đóng góp từ thiện Lập các quỹ phát triển khoa học và công nghệ, các quỹ giáo dục mà không vì mục
đích quảng cáo hay phô trương Thứ hai, lợi nhuận dù quan trọng - song không phải vật
chuẩn và vật hướng dẫn duy nhất đối với hoạt động kinh doanh, vì lợi nhuận ra còn có pháp luật và văn hoá điều chỉnh
Từ hai lý do trên, ta thấy kinh doanh và văn hoá có mối quan hệ biện chứng với nhau Trong đó, kinh doanh có văn hoá là lối kinh doanh có mục đích và theo phương thức cùng đạt tới cái lợi, cái thiện, cái đẹp, và trái với nó là lối kinh doanh phi văn hoá sẵn sàng chà đạp lên mọi giá trị và không từ bất cứ một thủ đoạn nào để kiếm lời
Xét từ góc độ kết quả và hiệu quả kinh doanh thì:
Kinh doanh phi văn hoá có thể đạt hiệu quả cao và khiến cho chủ thể kinh doanh giàu
có nhanh hơn vì họ tìm mọi cách để trốn tránh pháp luật và vô hiệu hoá sự điều tiết của các chuẩn mực văn hoá, họ gian dối, thất tín, gây ô nhiễm dùng mọi phương cách để kiếm lợi Những kiểu kinh doanh này sẽ không lâu bền vì đó là lối kinh doanh chụp giật, ăn sổi nên nếu bị phát hiện sẽ bị khách hàng tẩy chay, pháp luật trừng trị và cả xã hội lên án
Trang 2829
Kinh doanh có văn hoá không thể giúp chủ thể kinh doanh đạt được hiệu quả ngay
bởi vì nó chú trọng tới việc đầu tư lâu dài, việc giữ gìn chữ tín Tuy nhiên, khi đã qua được giai đoạn khó khăn thử thách ban đầu thì các nguồn đầu tư lâu dài như nhân lực, công nghệ, tài chính, môi trường phát huy tác dụng và chủ thể kinh doanh sẽ có những bước phát triển lâu dài và bền vững
Ngày nay, khi thông tin trên thị trường được cập nhật nhanh chóng chính xác và đầy
đủ, khách hàng sẽ được cung cấp đầy đủ các dữ liệu và xác thực về các nhà kinh doanh, về doanh nghiệp và hàng hoá của họ thì lối kinh doanh phi văn hoá sẽ mất dần không gian để tồn tại, và kinh doanh có văn hoá sẽ là phương thức kinh doanh duy nhất của tương lai
Tóm lại, chỉ với phương thức kinh doanh có văn hoá mới có thể kết hợp được hiệu quả cao và phát triển bền vững của chủ thể kinh doanh
b Văn hoá kinh doanh là nguồn lực phát triển kinh doanh
Văn hoá kinh doanh là nguồn lực phát triển kinh doanh đựoc thể hiện thông qua hai nội dung sau:
Thứ nhất, trong tổ chức và quản lí kinh doanh
Vai trò của văn hoá thể hiện ở sự lựa chọn phương hướng kinh doanh, sự hiểu biết về sản phẩm, dịch vụ, về những mối quan hệ giữa người và người trong tổ chức; về việc biết tuân theo các quy tắc và quy luật của thị trường; ở việc phát triển và bảo hộ những hàng hoá
có bản sắc văn hoá dân tộc; ngoài ra văn hoá kinh doanh còn được thể hiện thông qua việc hướng dẫn và định hướng tiêu dùng; thông qua chỉ đạo, tổ chức, hướng dẫn một phong cách
có văn hoá trong kinh doanh và khi tất cả các yếu tố văn hoá đó kết tinh vào hoạt động kinh doanh tạo thành phương thức kinh doanh có văn hoá - thì đây là một nguồn lực rất quan trọng để phát triển kinh doanh điều đó sẽ giúp chủ thể tạo phong cách kinh doanh trung thực
và ngay thẳng, đáp ứng các nhu cầu của cuộc sống, không bao giờ vì lợi ích riêng của một cá nhân hay một nhóm kinh doanh nào mà hi sinh lợi ích của cả cộng đồng quốc gia và xã hội; văn hoá kinh doanh sẽ tạo ra mối quan hệ mật thiết giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng theo nguyên tắc các bên cùng có lợi; nó kích thích sự cạnh tranh lành mạnh nhằm tiến tới phát triển mạnh mẽ hơn chứ không phải là để diệt trừ nhau: nguồn lực này sẽ không làm tổn hại đến các truyền thống và tập quán tốt đẹp của người dân Ngoài ra, việc sử dụng các nhân
tố văn hoá có thể gia tăng giá trị hàng hoá và dịch vụ, ví dụ như sử dụng gam màu nău và các hoạ tiết hoa văn dân tộc trong thiết kế thời trang của Việt Nam
Đặc biệt, nếu không có môi truờng văn hoá trong sản xuất - kinh doanh tức là không
sử dụng các giá trị vật chất và tinh thần vào hoạt động kinh doanh thì không thể sử dụng được các tri thức, kiến thức về kinh doanh và đương nhiên không thể tạo ra sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, không thể tạo ra hiệu quả và không thể phát triển sản xuất - kinh doanh được
Thứ hai, văn hoá trong giao lưu, giao tiếp kinh doanh
Văn hoá kinh doanh hướng dẫn toàn bộ hoạt động giao lưu, giao tiếp trong kinh doanh Đặc biệt là trong mối quan hệ giữa mua và bán, khi giao tiếp với khách hàng, chúng
ta có những lời chào và lời nói tế nhị nhã nhặn và lịch sự, có những dịch vụ hậu mãI thích hợp thì sẽ tạo được mối quan hệ lâu dài với khách hàng và lúc này văn hoá kinh doanh sẽ thực sự trở thành một nguồn lực vô cùng quan trọng đối với chủ thể kinh doanh trong quá trinh hoạt động Ngoài ra, trong thái độ với đối tác làm ăn, với đối thủ cạnh tranh mà có văn
Trang 29Thứ ba, văn hoá trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội của chủ thể kinh doanh
Trước hết, trách nhiệm xã hội của chủ thể kinh doanh là sự gánh vác tự nguyện những nghĩa vụ, trách nhiệm vượt lên trên những trách nhiệm về kinh tế, pháp lý và thoả mãn được những mong muốn của xã hội
Kinh doanh không chỉ trú trọng đến lợi nhuận đơn thuần mà còn phải quan tâm thích đáng đến trách nhiệm xã hội của các chủ thể kinh doanh Các phúc lợi xã hội mà các chủ thể được hưởng đã quy định họ phải có nghĩa vụ đóng góp thoả đáng cho xã hội Việc đóng góp cho ngân sách nhà nước, tham gia hoạt động xã hội từ thiện, tôn trọng những quy phạm đạo đức trong quan hệ xã hội, quan hệ kinh doanh, tôn trọng các giá trị truyền thống là thái độ văn hoá tối thiểu của các chủ thể Mặt khác tránh nhiệm xã hội của các chủ thể kinh doanh còn là việc chi phối từ khâu xây dựng kế hoạch, hình thành chiến lược kinh doanh, chiến lược phát triển đến việc tổ chức kinh doanh và phân phối lợi nhuận, tham gia các hoạt động
xã hội từ thiện, bảo vệ môi trường sinh thái Đó chính là tính nhân văn của hoạt động kinh doanh
c Văn hoá kinh doanh là điều kiện đẩy mạnh kinh doanh quốc tế
Khi trao đổi thương mại buôn bán quốc tế đương nhiên sẽ tạo ra cơ hội tiếp xúc giữa các nền văn hoá khác nhau của các nước và việc hiểu văn hoá của quốc gia đến kinh doanh
là một điều kiện quan trọng của thành công trong kinh doanh quốc tế Quốc gia bán hàng và dịch vụ, trên chừng mực nào đó đưa văn hoá của mình đến nước đó, và đồng thời cũng phải
có sự hiểu biết nhất định về văn hoá của nước sở tại như phong tục, tập quán để trên cơ sở
đó có những phương tiện tiếp xúc khi giao dịch, khi đàm phán thương mại phù hợp vói nền văn hoá của quốc gia đó
Và một nhiệm vụ nữa cao cả hơn của văn hoá trong giao lưu giao tiếp kinh doanh đó
là thông qua việc tìm kiếm và cung cấp hàng hoá cho thị trường quốc tế, giới thiệu những nét đẹp, những tinh hoa của văn hoá dân tộc mình cho bạn bè thế giới Thông qua giao lưu văn hoá sẽ làm biến đổi một cách tế nhị và dần dần thói quen, thị hiếu và sở thích của người bản địa, và những thay đổi này sẽ mở ra thị trường mới cho các nhà sản xuất Ngày nay, trong điều kiện hợp tác quốc tế, nhiều trường hợp giao lưu văn hoá lại đi trước và thúc đẩy
sự giao lưu kinh tế
Văn hoá kinh doanh có thể xem là chìa khoá mở ra sự thành công và phát triển của cả nền kinh tế đất nước nói chung, của mỗi doanh nghiệp nói riêng Doanh nhân khi khởi nghiệp cũng như khi đã trở thành nhũng "đại gia” đều cần tâm niệm và duy trì việc làm này Bởi, văn hoá là nền tảng tinh thần, là động lực thúc đẩy xã hội phát triển
Ngày nay, nền kinh tế càng phát triển nó càng khẳng định vai trò của văn hoá trong mọi hoạt động kinh doanh cũng như mối quan hệ giữa văn hoá và kinh doanh nhằm tạo ra một nền kinh tế ngày một hoàn thiện hơn Phải chăng câu nói của Mạnh Tử: “Vi nhân bất phú, vi phú bất nhân” vẫn còn đúng và mâu thuẫn lâu đời trong lịch sử giữa kinh tế và đạo đức, văn hoá và kinh doanh vẫn không thể giải quyết? Còn những ý kiến, cách nhìn nhận
Trang 3031
đánh giá hiện nay về vấn đề này thì sao? Có thể nói văn hoá kinh doanh là mét bộ phận cấu thành nền văn hoá chung, phản ánh trình độ của con người trong lĩnh vực kinh doanh Tuy văn hoá kinh doanh chủ yếu phản ánh sự nhận thức, giá trị, các truyền thống và quan hệ phân phối lưu thông của cải của đời sống xã hội, song nó cũng liên quan mật thiết với văn hoá sản xuất, sáng tạo, lưu giữ và tiêu dùng Mỗi thời đại có sự phát triển khác nhau của lực lượng sản xuất, những nhu cầu tiêu dùng và do đó trình độ kinh doanh cũng khác nhau Bản chất của văn hoá kinh doanh là làm cho cái lợi gắn chặt chẽ với cái đúng, cái tốt đẹp Vì lý
do ấy, người ta thường nói nhà kinh doanh có văn hoá bao chứa cả trí tuệ của nhà triết học, lòng dũng cảm của người lính và tài năng của nghệ sĩ Vấn đề văn hoá và phát triển trở thành vấn đề đáng quan tâm của toàn cầu
Trang 3132
ÔN TẬP CHƯƠNG 1
I CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Văn hóa kinh doanh là gì? Phân tích các nhân tố cấu thành văn hóa kinh doanh?
2 Các nhân tố nào ảnh hưởng đến sự hình thành văn hóa kinh doanh của chủ thể kinh doanh? Theo bạn nhân tố nào quan trọng nhất? Vì sao?
3 Để hội nhập và phát triển cùng thế giới, theo bạn chúng ta cần phải bỏ những thói quen xấu nào? Theo bạn những tác phong và thói quen nào cho là văn minh mà chúng ta cần phải học tập?
II ĐÚNG/ SAI GIẢI THÍCH NGẮN GỌN
1 Văn hoá có tính giai cấp, tính lịch sử và tính khu vực
2 Kinh tế lạc hậu thì văn hóa cũng lạc hậu theo
III BÀI TẬP TÌNH HUỐNG
1 Một nhân viên đã làm việc lâu trong một công ty & muốn thay đổi công việc Anh
ta vừa xin được một việc làm tại một tập đoàn lớn của Mỹ với mức lương hấp dẫn Theo thỏa thuận, anh ta được hẹn sẽ đi làm chính thức và ký hợp đồng sau một tháng Vui mừng anh ta thông báo với đồng nghiệp, thậm chí còn tổ chức vài cuộc chia tay nho nhỏ Hôm sau, anh ta lên gặp giám đốc để xin nghỉ Không ngờ giám đốc nhất định giữ anh ta ở lại, còn hứa
sẽ tăng lương cho anh ta Giám đốc lại là người thường xuyên khuyến khích nâng đỡ anh ta trong thời gian công tác
a Tình huống trên đề cập đến những vấn đề gì của văn hoá?
b Bài học rút ra từ tình huống?
2 Một nhà quản trị Mỹ bay tới Tokyo để hoàn tất việc đàm phán và ký hợp đồng với một doanh nghiệp Nhật Bản Theo dự kiến thì trong vòng 1 tuần ông ta phải có được bản hợp đồng trong tay và bay về Mỹ Vào thứ Hai, ngày đầu tiên nhà quản trị Mỹ có mặt ở Tokyo, phía đối tác Nhật Bản mời ông ta đi chơi gôn Nhà quản trị Mỹ thắng một cách dễ dàng Ngày tiếp theo, tưởng chừng hai bên sẽ bắt đầu công việc thương thảo hợp đồng thì nhà quản trị Mỹ lại nhận được lời mời đi chơi gôn của đối tác Nhật Tuy không thấy thoải mái nhưng nhà quản trị Mỹ vẫn đồng ý và ông ta lại thắng trận gôn hôm đó Vào thứ Tư, khi phía chủ nhà tiếp tục đưa ra lời mời đi chơi chơi gôn thì nhà quản trị Mỹ không dấu được vẻ kinh ngạc và thốt lên một cách chán nản: "Vậy khi nào thì chúng ta có thể bắt đầu công việc đây?" Đối tác Nhật tỏ ra ngạc nhiên và đáp: "Tôi nghĩ chúng ta đã bắt đầu công việc từ thứ Hai rồi, thưa ngài" Đàm phán được khởi đầu vào thứ Tư, và đến thứ Sáu thì nhà quản trị Mỹ cũng có được bản hợp đồng đã ký trước khi bay về Mỹ
Sự khác biệt về văn hoá giữa hai nhà quản trị thể hiện ở những điểm nào?
Trang 3233
Chương 2 TRIẾT LÝ KINH DOANH 2.1 Khái niệm triết lý kinh doanh
2.1.1 Định nghĩa về triết lý kinh doanh
a Khái niệm triết lý
Khái niệm triết lý có quan hệ chặt chẽ với khái niệm triết học Theo từ nguyên, chữ Hán, triết nghĩa là trí (sự nhận thức, hiểu biết sâu rộng về thế giới: trời, đất, người…) và đạo
lý Ở phương Tây, triết học (philoshophy) xuất phát từ tiếng Hy Lạp thời kỳ cổ đại, chuyển sang tiếng Latinh là philoshophia = philo (yêu) + sophia (sự thông thái) Triết học có nghĩa
là môn học về sự thông thái Triết học là môn khoa học về những quy luật phổ biến của thế giới, là hệ thống các quan điểm lý luận chung nhất về thế giới và vị trí của con người trong thế giới đó
Triết lý có phạm vi phản ánh hẹp hơn triết học Có thể định nghĩa về triết lý như sau:
Triết lý là những tư tưởng có tính triết học (tức là sự phản ánh đã đạt tới trình độ sâu sắc và
có tính khái quát cao) được con người rút ra từ cuộc sống của mình và chỉ dẫn, định hướng cho hoạt động của con người Triết lý và triết học là hai khái niệm có mối liên hệ hữu cơ với
nhau nhưng lại không hoàn toàn trùng nhau
Cái chung giữa triết học và triết lý
Thứ nhất, về tính chất và trình độ nhận thức, triết lý là tư tưởng triết học Nói chính
xác hơn, triết lý là những tư tưởng có tính triết học – tức là sự phản ánh đã đạt tới trình độ sâu sắc và có tầm khái quát cao; nhận thức này không chỉ là kinh nghiệm của cá nhân mà còn được nhiều người thừa nhận là đúng đắn, có giá trị
Thứ hai, mục đích của triết học và triết lý đều là cơ sở định hướng cho hoạt động thực
tiễn; chúng không chỉ giúp cho con người hiểu biết mà còn – quan trọng hơn – hướng dẫn cho con người sống và hoạt động tốt hơn Vì vậy, triết học và triết lý đều có giá trị chung là hướng tới sự khôn ngoan; nó giúp cho con người có đạo lý và nguyên tắc hành động đạt tới hiệu quả, sống phù hợp với thế giới tự nhiên và xã hội
Phân biệt giữa triết lý và triết học
Bên cạnh những điểm giống nhau, triết lý và triết học còn có sự khác nhau ở các khía cạnh sau đây:
Xét về phạm vi của khách thể, triết lý hẹp hơn triết học, nó là tư tưởng triết học ứng dụng trong một phạm vi nhất định của hiện thực, trước nhất là các vấn đề nhân sinh liên quan mật thiết tới đời sống của con người Triết học là môn khoa học về những nguyên lý, quy luật phổ biến của cả tự nhiên, xã hội, tư duy Còn triết lý là những tư tưởng chưa khái quát thành những nguyên lý phổ biến mà được rút ra từ một lĩnh vực hoạt động cụ thể của cuộc sống và định hướng cho hoạt động đó, nó được hình thành với điều kiện: sự tích lũy kinh nghiệm sống trực tiếp của cá nhân từ thực tiễn cuộc sống Các triết lý thường là cách xử thế và phương pháp hành động, chủ yếu là những tư tưởng triết học hành động
Vì thế, không chỉ riêng giới nghiên cứu triết học mới đưa ra các triết lý mà cả những người hoạt động thực tiễn sản xuất – kinh doanh, hoạt động chính trị - xã hội cũng có thể rút
ra các triết lý, triết lý không phải chỉ là sản phẩm của các nhà triết học chuyên nghiệp:
Triết lý phát triển của một quốc gia (Ví dụ triết lý phát triển của Việt Nam: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”); Triết lý của một tổ chức (Ví dụ
Trang 33b Khái niệm triết lý kinh doanh
Kinh doanh, như ta đã biết, là tất cả những hành vi và hoạt động có mục đích là đem lại lợi nhuận cho chủ thể Có một số cách hiểu về triết lý kinh doanh dựa trên các cách tiếp
cận khác nhau Tuy nhiên, theo quan niệm phổ biến nhất thì triết lý kinh doanh là những tư tưởng khái quát sâu sắc được chắt lọc, đúc rút từ thực tiễn kinh doanh có tác dụng định hướng, chỉ dẫn cho hoạt động của các chủ thể kinh doanh Dựa trên những niềm tin căn bản,
định hướng giá trị các chủ thể kinh doanh sẽ đúc rút từ thực tiễn kinh doanh những tư tưởng mang tính chất khái quát, sâu sắc Những tư tưởng này sẽ được coi là kim chỉ nam để định hướng cho hoạt động của doanh nghiệp Trong môi trường kinh doanh hiện đại, khi tham gia vào các hoạt động kinh doanh, ngoài mục tiêu lợi nhuận thì các chủ thể kinh doanh còn hướng tới các giá trị chân, thiện, mỹ Đây là các giá trị mang tính nhân bản, gắn liền với con người, là những giá trị mà mọi người đều hướng tới Khi chủ thể kinh doanh lựa chọn và kết hợp các giá trị nhân văn vào trong triết lý kinh doanh thì nó sẽ có tác động sâu sắc đến tình cảm của khách hàng, của đối tác, của các thành viên trong doanh nghiệp và của cả xã hội
Có thể nói triết lý kinh doanh là một trong những biểu hiện của văn hoá trong hoạt động kinh doanh Vì vậy, lãnh đạo doanh nghiệp cần phải lựa chọn một hệ thống các giá trị và triết lý hành động đúng đắn đủ để có thể làm động lực lâu dài và mục đích phấn đấu chung cho tổ chức Hệ thống các giá trị và triết lý này cũng phải phù hợp với mong muốn và chuẩn mực hành vi của các đối tượng hữu quan
Ví dụ ở Nhật Bản, hầu như tất cả các doanh nghiệp đều có triết lý kinh doanh Họ coi triết lý kinh doanh như kim chỉ nam của doanh nghiệp trong suốt quá trình kinh doanh Thông qua triết lý kinh doanh, các doanh nghiệp Nhật Bản xác định một hệ giá trị cốt lõi làm nền tảng cho sự phát triển Những giá trị cốt lõi này góp phần gắn kết mọi người trong doanh nghiệp và làm cho khách hàng và xã hội biết đến doanh nghiệp Hơn nữa, các doanh nghiệp Nhật Bản sớm ý thức được tính xã hội hóa ngày càng tăng của các hoạt động sản xuất kinh doanh cho nên họ coi triết lý kinh doanh còn là một lời quảng bá cho thương hiệu, thể hiện bản sắc của doanh nghiệp Ví dụ, triết lý kinh doanh của Panasonic Corporation là: Tinh thần xí nghiệp phục vụ đất nước, kinh doanh là đáp ứng phần lớn nhu cầu của người tiêu dùng trên toàn thế giới với giá cả phải chăng Còn Honda thì có phương châm: Không
mô phỏng, kiên trì sáng tạo, độc đáo và dùng con mắt của thế giới mà nhìn vào vấn đề Hãng Sony luôn nổi tiếng với phương châm: Sáng tạo là lý do tồn tại của chúng ta
Kinh doanh là một lĩnh vực hoạt động và nghề nghiệp đầy khó khăn, phức tạp, thường xuyên biến đổi … Triết lý về kinh doanh rất phong phú và nhiều loại khác nhau Có thể phân loại triết lý kinh doanh dựa theo hai tiêu chí cơ bản: Lĩnh vực hoạt động – nghiệp
vụ và quy mô của chủ thể kinh doanh
Dựa theo tiêu chí lĩnh vực hoạt động và nghiệp vụ chuyên ngành, kinh doanh được
chia thành nhiều chức năng, công đoạn, chuyên môn hẹp … khác nhau Do vậy có các triết
lý (kinh doanh) về sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ; triết lý về marketing, quản lý chất lượng hàng hóa, bán hàng; triết lý về lợi nhuận v.v…
Trang 3435
Dựa vào quy mô của các chủ thể kinh doanh – quy mô tổ chức người – có thể chia
các triết lý kinh doanh làm ba loại cơ bản: (1) Triết lý áp dụng cho các cá nhân kinh doanh; (2) Triết lý cho các tổ chức kinh doanh, chủ yếu là triết lý về quản lý của doanh nghiệp; (3) Triết lý vừa có thể áp dụng cho các cá nhân lại vừa có thể áp dụng cho các tổ chức kinh doanh
Tóm lại, triết lý kinh doanh của doanh nghiệp (triết lý doanh nghiệp) là lý tưởng, là phương châm hành động, là hệ giá trị và mục tiêu chung của doanh nghiệp chỉ dẫn cho hoạt động kinh doanh, nhằm làm cho doanh nghiệp đạt hiệu quả cao trong kinh doanh
2.2 2 Nội dung và hình thức của triết lý kinh doanh
a Những nội dung cơ bản của một văn bản triết lý doanh nghiệp
Các văn bản triết lý doanh nghiệp được kết cấu thành nhiều phần khác nhau, tựu trung lại, gồm ba phần nội dung chính như sau:
Sứ mệnh và các mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp: Một văn bản triết lý doanh
nghiệp thường bắt đầu bằng việc nêu ra sứ mệnh của doanh nghiệp hay còn gọi là tôn chỉ, mục đích của nó Đây là phần nội dung có tính khái quát cao, giàu tính triết học Sứ mệnh kinh doanh là một bản tuyên bố “lý do tồn tại” của doanh nghiệp, còn gọi là quan điểm, tôn chỉ, tín điều, nguyên tắc, mục đích kinh doanh của doanh nghiệp Sứ mệnh là bản tuyên ngôn của doanh nghiệp có giá trị lâu dài về thời gian, để phân biệt giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác, nhằm thể hiện niềm tin, mục đích triết lý và nguyên tắc kinh doanh của doanh nghiệp, khẳng định lý do ra đời và tồn tại của một doanh nghiệp Sứ mệnh là phát biểu của doanh nghiệp mô tả doanh nghiệp là ai, doanh nghiệp làm những gì, làm vì ai và làm như thế nào
Phần này thể hiện những mong muốn cần đạt được trong kỳ hạn dài của những người sáng lập doanh nghiệp, nhà quản trị cấp cao cũng như các thành viên trong tổ chức Mục tiêu lâu dài trong văn bản triết lý kinh doanh thường có vẻ gần gũi với nhiệm vụ của tổ chức hơn
Trang 3536
là những mục tiêu định lượng hoặc định tính thông thường trong các bản kế hoạch chiến lược hay kế hoạch tác nghiệp Vì vậy, khi hình thành mục tiêu lâu dài trong triết lý kinh doanh, các nhà quản trị cần chú ý đặc điểm này Tùy theo quy mô hoạt động và những khả năng tiềm tàng, mục tiêu trong triết lý kinh doanh cần thích ứng với vị thế của doanh nghiệp trên thị trường, điều này sẽ hạn chế tính phi thực tế trong triết lý kinh doanh Thực chất của nội dung này trả lời cho các câu hỏi: Doanh nghiệp của chúng ta là gì? Doanh nghiệp muốn thành tổ chức như thế nào? Công việc kinh doanh của chúng ta là gì? Tại sao doanh nghiệp tồn tại? (Vì sao có công ty này?) Doanh nghiệp của chúng ta tồn tại vì cái gì? Doanh nghiệp
có nghĩa vụ gì? Doanh nghiệp sẽ đi về đâu? Doanh nghiệp hoạt động theo mục đích nào? Các mục tiêu định hướng của doanh nghiệp là gì? Câu trả lời cho các vấn đề này xuất phát từ quan điểm của người sáng lập, lãnh đạo công ty về vai trò và mục đích kinh doanh và lý tưởng mà công ty cần vươn tới Theo tổ chức King & Cleland, việc xác định sứ mệnh đúng đắn đóng vai trò quan trọng trong sự thành công của một doanh nghiệp vì: (1) Nó đảm bảo
sự nhất trí về mục đích trong nội bộ doanh nghiệp (2) Nó cung cấp một cơ sở hoặc tiêu chuẩn để phân phối các nguồn lực của doanh nghiệp (3) Nó tạo ra tiếng nói chung, là trung tâm điểm để mọi người đồng tình với mục đích và phương hướng của doanh nghiệp (4) Nó tạo điều kiện để chuyển mục đích của doanh nghiệp thành mục tiêu thích hợp, chuyển mục tiêu thành các chiến lược và biện pháp hoạt động cụ thể (5) Nó tạo cơ sở cho việc lựa chọn đúng đắn các mục tiêu và các chiến lược của doanh nghiệp (6) Nó tạo lập và củng cố hình ảnh của doanh nghiệp trước công chúng, tạo sự hấp dẫn đối với các đối tượng hữu quan (khách hàng, nhà cung cấp, ngân hàng, nhà nước…)
Mục tiêu của Công ty Dayton Hudson của Mỹ có những nội dung như:
+ Sản phẩm và dịch vụ của công ty luôn đáp ứng nhu cầu và mong muốn của khách hàng mục tiêu
+ Góp phần vào sự phát triển nghề nghiệp của các thành viên trong tổ chức
+ Đem lại lợi nhuận thỏa đáng cho các cổ đông
+ Phục vụ cộng đồng nơi công ty hoạt động
Hoặc mục tiêu của tập đoàn Sony:
+ Phục vụ toàn thế giới
+ Cố gắng làm cho mọi người có thể cống hiến hết khả năng của mình
+ Là người đi tiên phong, khai phá con đường mới
Còn công ty Trung Cương của Đài Loan tuyên bố mục tiêu của mình:
+ Là nền tảng cho các ngành công nghiệp khác
+ Mở rộng thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước
+ Phục vụ lợi ích tổng thể quốc gia
Như vậy, những mục tiêu trong triết lý kinh doanh của các doanh nghiệp thể hiện rõ những mong muốn có tính triết lý mà tổ chức cần đạt được trong tương lai theo tầm cỡ hay
vị thế của doanh nghiệp trên thị trường
Phương thức hành động: Để có thể đạt được các mục tiêu mong muốn, doanh
nghiệp cần có những phương tiện khả thi, phù hợp với môi trường kinh doanh Vì vậy, triết
lý kinh doanh không chỉ đề cập đơn thuần các mục tiêu, mà còn đưa ra phương thức hay nguyên tắc hành động mang định hướng lâu dài, giúp tổ chức có cơ sở lựa chọn biện pháp
Trang 3637
hay những công cụ phù hợp để đạt được các mục tiêu Trong văn bản triết lý kinh doanh, mục tiêu và phương thức hành động có mối quan tương hỗ với nhau Ví dụ: Theo quan điểm marketing – xã hội trong triết lý quản trị marketing hiện đại, mục tiêu của hoạt động marketing là “Đạt được lợi nhuận thông qua việc thỏa mãn tối đa nhu cầu, mong muốn và các lợi ích lâu dài dành cho khách hàng và xã hội”, và phương thức hành động là “Doanh nghiệp cần xác định nhu cầu, mong muốn và những lợi ích của thị trường mục tiêu, thực hiện việc phân phối các giá trị một cách có hiệu quả nhằm thỏa mãn tối đa các nhu cầu của khách hàng hơn hẳn các đối thủ cạnh tranh bằng cách duy trì và nâng cao các phúc lợi lâu dài của khách hàng và xã hội”
Hoặc triết lý quản trị nhân sự đề ra mục tiêu là “Khai thác tối đa các khả năng sáng tạo tiềm tàng của người lao động nhằm giúp các tổ chức luôn có những cái mới để tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường” và phương thức hay nguyên tắc hành động tương ứng là “Thu hút lao động giỏi, đánh giá đúng năng lực, phân công đúng vị trí, hướng dẫn và hỗ trợ kịp thời, đãi ngộ thỏa đáng vật chất lẫn tinh thần… để người lao động yên tâm làm việc và gắn bó lâu dài với tổ chức”
Những công ty hàng đầu thế giới, có quá trình hoạt động lâu đời luôn nhấn mạnh yếu
tố con người, họ xem con người là tài sản, là nguồn lực quan trọng nhất trong quá trình phát triển; đồng thời, họ cũng nhấn mạnh tính hợp pháp và tính đạo lý của các loại phương tiện
và các biện pháp được sử dụng khi tiến hành sản xuất kinh doanh Vì vậy, một công ty dùng các thủ đoạn để bóc lột sức lao động của nhân viên, lừa dối khách hàng, hối lộ viên chức chính phủ để có được lợi thế trong cạnh tranh… có thể đạt lợi nhuận cao, thị phần lớn trên thị trường tại một thời điểm nào đó sẽ không được đánh giá tốt và khó thành công lâu dài Ngoài ra, phương thức hành động trong triết lý kinh doanh còn thể hiện đặc trưng nổi bật của tổ chức này so với tổ chức khác, đây là cơ sở để định vị và tạo danh tiếng lâu dài cho công ty trên thị trường Chẳng hạn, Chủ tịch tập đoàn Intel nói về triết lý quản trị của ông:
“Công việc của tổ chức không phải là công việc của cá nhân mà là công việc tập thể Hiệu suất của một nhà quản trị là hiệu suất của những đơn vị cấp dưới do nhà quản trị này giám sát Muốn đạt được hiệu quả cao trong kinh doanh, nhà quản trị phải tăng cường đào tạo và thúc đẩy nhân viên của mình hướng vào mục tiêu chung của tổ chức… Người quản lý có vai trò giống như một huấn luyện viên, họ không đạt được vinh quang từ hoạt động của bản thân
mà ở kết quả hoạt động của toàn đội do anh ta phụ trách Vì vậy, cần biến nơi làm việc thành một đấu trường để có thể biến cấp dưới thành những vận động viên, góp phần thực hiện công việc bằng tất cả các năng lực tiềm tàng của mình, đó là chìa khóa để biến đội của chúng ta thành những người luôn chiến thắng…”
Những tư tưởng này đã phát triển thành văn bản triết lý kinh doanh của Intel “Đối với Intel, sắp xếp chức trách của từng vị trí theo mục tiêu sự nghiệp chỉ là mục tiêu khái quát, chúng tôi còn tìm cách tạo ra một môi trường khiến cho nhân viên vừa yêu mến công việc, vừa đạt được các mục tiêu cá nhân Chúng tôi cố gắng cung cấp các cơ hội để phát triển nhân viên nhanh chóng thông qua quá trình đào tạo Chúng tôi tin vào nguyên tắc cho rằng lao động chăm chỉ và năng suất là hai điều mà người ta phải lấy làm tự hào, người ta phải tìm kiếm và khen ngợi một tổ chức có kỷ luật chặt chẽ Trách nhiệm của nhân viên được xác định rõ ràng, việc tuyển dụng nhân lực phải nhằm mục đích lâu dài, nếu có những bất trắc về công việc thì tiến hành sắp xếp lại hơn là sa thải Chúng tôi muốn tất cả nhân viên của công
ty đều cảm thấy có liên quan và có mối quan hệ chặt chẽ với Intel Chúng tôi muốn nhân
Trang 3738
viên thật sự quan tâm đến công ty của mình Vì vậy, chúng tôi nhấn mạnh đến chất lượng giao tiếp và tìm mọi cách để tổ chức công ty thành những nhóm càng nhỏ càng tốt nhằm phát triển thống nhất và đầy tính thân thiện Chúng tôi mong muốn tất cả nhân viên của công
ty ứng xử có đạo đức…”
Tùy theo đặc điểm tổ chức, nội dung triết lý kinh doanh có thể được trình bày khác nhau Trong đó, phần phương thức hành động thường thể hiện hai nội dung cơ bản là những triết lý về đạo đức kinh doanh và triết lý về biện pháp quản trị Đây là cơ sở quan trọng giúp các nhà quản trị chiến lược xác định nhiệm vụ của tổ chức, các chiến lược, các chính sách kinh doanh…
Công ty HP “Nhân lực là vấn đề trọng yếu, doanh nghiệp chỉ thành đạt nếu biết dựa trên sự thành công của các cá nhân Vì vậy phải coi trọng nhân viên và tạo điều kiện cho họ lao động hết mình và được hưởng thụ xứng đáng từ thành quả lao động của mình…”
Đối với công ty Trung Cương của Đài Loan, triết lý kinh doanh gồm có 4 phần: + Phần 1: Mục tiêu kinh doanh
+ Phần 2: Thái độ làm việc
+ Phần 3: Nguyên tắc đối nhân xử thế
a) Lấy nhân ái mà đối đãi với người
b) Lấy kinh nghiệm mà xử sự với người
+ Phần 4: 12 nguyên tắc quản lý cơ bản
a) Tập tục phải tốt đẹp
b) Cơ cấu tổ chức phải phù hợp môi trường
c) Dùng người phải tinh giản
d) Biết người rồi phải khéo dùng người
e) Tăng cường đào tạo
f) Kỷ luật nghiêm minh
g) Mạnh dạn giao quyền
h) Nâng cao hiệu suất hoạt động
i) Chi tiêu tiết kiệm
j) Quy tắc, điều lệ phải thay đổi kịp thời
k) Luôn tìm cái mới
l) Phục vụ khách hàng phải nhiệt tình
Hoặc công ty Disney có “Mười nguyên tắc vàng” như sau:
a) Phải xem trọng chất lượng nếu muốn sống còn
b) Phải luôn lịch thiệp, ân cần để gây thiện cảm tối đa
c) Luôn nở nụ cười nếu không muốn phá sản
d) Chỉ có tập thể mới đem lại thành công
e) Không bao giờ biết từ chối và lắc đầu với khách hàng
f) Không bao giờ nói “Không”, mà phải nói “Tôi rất hân hạnh được làm việc này” g) Bề ngoài phải tươm tất, vệ sinh tối đa
h) Luôn có mặt khi khách hàng cần và hiểu rõ nhiệm vụ của mình
i) Tuyển những nhân viên làm việc có hiệu quả nhất, những người thông thạo nghề nghiệp nhất
j) Mục tiêu cao cả: Chứng tỏ mình là hình ảnh đẹp nhất và luôn cho khách hàng biết rằng họ đang được phục vụ bởi những người làm việc hết mình
Trang 3839
Đây là phần nội dung mà một văn bản triết lý doanh nghiệp cần trả lời câu hỏi: Doanh nghiệp sẽ thực hiện sứ mệnh và đạt tới các mục tiêu của nó như thế nào, bằng những nguồn lực và phương tiện gì? Phương thức hành động của mỗi doanh nghiệp có tính đặc thù cao, phụ thuộc vào thị trường, môi trường kinh doanh và các tư tưởng triết học về hoạt động kinh doanh, công tác quản trị doanh nghiệp … của các nhà lãnh đạo Tuy có sự khác nhau, song cái chung trong phần nội dung này là hệ thống các giá trị và biện pháp quản lý của doanh nghiệp
H ệ thống các giá trị của doanh nghiệp: Giá trị của một doanh nghiệp là những niềm
tin căn bản thường không được nói ra của những người làm việc trong doanh nghiệp Những giá trị này bao gồm: Những nguyên tắc của doanh nghiệp (ví dụ như chính sách xã hội, các cam kết đối với khách hàng); Lòng trung thành và cam kết (ví dụ như những người làm công cảm thấy thỏa mãn được những mục tiêu cá nhân trong lợi ích chung của doanh nghiệp hay không Và doanh nghiệp có chứng tỏ được sự tôn trọng cam kết và lòng trung thành đối với những nhân viên của mình không); Hướng dẫn những hành vi ứng xử mong đợi – một ý nghĩa to lớn của sứ mệnh giúp tạo ra một môi trường làm việc trong đó có những mục đích chung Các biện pháp và phong cách quản lý: Trả lời cho câu hỏi: “doanh nghiệp phải hoàn thành sứ mệnh kinh doanh bằng con đường nào? Với những nguồn lực gì?”
Các nguyên tắc tạo ra một phong cách ứng xử, giao tiếp và hoạt động kinh doanh đặc thù của doanh nghiệp: Doanh nghiệp tồn tại nhờ một môi trường kinh doanh nhất định;
trong đó, nó có những mối quan hệ với xã hội bên ngoài, với chính quyền, khách hàng, đối thủ cạnh tranh, cộng đồng dân cư,… Vấn đề có tính sống còn của nó là cần duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội để phục vụ cho công việc kinh doanh; một mục tiêu quan trọng của doanh nghiệp là giải quyết các mối quan hệ này nhằm tạo ra môi trường thuận lợi và hơn thế
nữa, tạo ra một nguồn lực phát triển của nó Các văn bản triết lý doanh nghiệp đều ít hoặc
nhiều đưa ra các nguyên tắc chung hướng dẫn việc giải quyết những mối quan hệ giữa doanh nghiệp với xã hội nói chung, cách xử sự chuẩn mực của nhân viên trong mối quan hệ cụ thể nói riêng Một văn bản triết lý của công ty đầy đủ phải bao hàm sự hướng dẫn – theo các giá trị và chuẩn mực đạo đức đã xác lập – cách cư xử cho mọi thành viên của nó
b Hình thức thể hiện của triết lý doanh nghiệp
Triết lý doanh nghiệp được thể hiện bằng nhiều hình thức và mức độ khác nhau: Có nhiều văn bản triết lý doanh nghiệp được in ra trong các cuốn sách nhỏ phát cho nhân viên (chẳng hạn như bộ triết lý của công ty Trung Cương); có thể là một văn bản nêu rõ thành từng mục như 7 quan niệm kinh doanh của IBM; một số doanh nghiệp chỉ có triết lý kinh
doanh dưới dạng một vài câu khẩu hiệu chứ không thành văn bản (chẳng hạn như “hiến dâng mình cho sự tuyệt vời” của S.C) Thậm chí có công ty còn rút gọn triết lý của mình trong một chữ, ví dụ chữ “Nhẫn”, chữ “Đức”, chữ “Trung” ở các công ty Đài Loan, chữ
“Think” của IBM, có khi là một bài hát hoặc bộ luật đạo lý của công ty (Matsushita), có khi
là một công thức (Q + S + C của Macdonald), có khi thể hiện qua những chiến lược chính của doanh nghiệp (Samsung), có khi được trình bày qua các quy tắc của công ty (“Mười quy tắc vàng” của công ty Disney)
Một văn bản triết lý doanh nghiệp đầy đủ thường bao gồm cả ba nội dung chính đã nói trên, ngoài ra, còn có thêm phần nội dung giải đáp những thắc mắc của nhân viên liên quan tới việc thực hiện các hành vi phù hợp với giá trị và chuẩn mực (đạo đức) của doanh
Trang 3940
nghiệp Văn bản triết lý doanh nghiệp như trên được in thành một cuốn sách riêng; trong khi
đó, một số doanh nghiệp chỉ nêu một số nội dung triết lý của nó như phần sứ mệnh, mục tiêu
các giá trị và in liền các nội dung này trong cuốn Sổ tay nhân viên
Tính chất triết học của văn bản triết lý doanh nghiệp không chỉ khác nhau giữa các công ty mà còn khác nhau giữa các phần nội dung của một bản triết lý Độ dài của văn bản triết lý cũng rất khác nhau giữa các chủ thể công ty và điều này còn phụ thuộc vào nên văn hóa dân tộc của họ Văn phong của các bản triết lý doanh nghiệp thường giản dị mà hùng hồn, ngắn gọn mà sâu lắng, dễ hiểu và dễ nhớ Để tạo ấn tượng, có công ty nêu triết lý kinh doanh nhấn mạnh vào tính độc đáo, khác thường của mình Triết lý công ty như vậy giống như các thông điệp quảng cáo
2.1 3 Vai trò của triết lý doanh nghiệp trong quản lý, phát triển doanh nghiệp
a Triết lý doanh nghiệp là cốt lõi của văn hóa doanh nghiệp, tạo ra phương thức phát triển bền vững của nó
Văn hóa doanh nghiệp là cơ sở đảm bảo cho một doanh nghiệp kinh doanh có văn hóa và bằng phương thức này, nó có thể phát triển một cách bên vững Văn hóa doanh nghiệp gồm nhiều yếu tố cấu thành, mỗi thành tố của văn hóa doanh nghiệp có một vị trí, vai trò khác nhau trong maqột hệ thống chung, trong đó, hạt nhân của nó là các triết lý và hệ giá trị Do vạch ra sứ mệnh – mục tiêu, phương thức thực hiện mục tiêu, một hệ thống các giá trị
có tính pháp lý và đạo lý, chủ yếu là giá trị đạo đức của doanh nghiệp, nên triết lý doanh
nghiệp tạo nên một phong thái văn hóa đặc thù của doanh nghiệp Nói gọn hơn, triết lý doanh nghiệp là cốt lõi của phong cách – phong thái của doanh nghiệp đó
Triết lý doanh nghiệp là cái ổn định, rất khó thay đổi, nó phản ánh cái tinh thần – ý thức của doanh nghiệp ở trình độ bản chất, có tính khái quát, cô đọng, hệ thống hơn so với các yếu tố ý thức đời thường và tâm lý xã hội Một khi đã phát huy được tác dụng thì triết lý doanh nghiệp trở thành ý thức luận và hệ tư tưởng chung của doanh nghiệp, bất kể có sự thay đổi về lãnh đạo Do đó, triết lý doanh nghiệp là cơ sở bảo tồn phong thái và bản sắc văn hóa của doanh nghiệp Triết lý doanh nghiệp ít hiện hữu với xã hội bên ngoài; nó là tài sản tinh thần của doanh nghiệp, là cái tinh thần “thấm sâu vào toàn thể doanh nghiệp, từ đó hình thành một sức mạnh thống nhất”, tạo ra một lực hướng tâm chung Do vậy, triết lý doanh nghiệp là công cụ tốt nhất của doanh nghiệp để thống nhất hành động của người lao động trong một sự hiểu biết chung về mục đích và giá trị
Tóm lại, triết lý doanh nghiệp góp phần tạo lập nên văn hóa doanh nghiệp, là yếu tố
có vai trò quyết định trong mọi việc thúc đẩy và bảo tồn nền văn hóa này; qua đó, nó góp phần tạo nên một nguồn nội lực mạnh mẽ từ doanh nghiệp Triết lý doanh nghiệp có vị trí quan trọng nhất trong số các yếu tố hợp thành văn hóa doanh nghiệp
b Triết lý doanh nghiệp là công cụ định hướng và cơ sở để quản lý chiến lược của doanh nghiệp
Triết lý kinh doanh là một lực hướng dẫn, tạo sức mạnh to lớn cho thành công của doanh nghiệp: Triết lý kinh doanh (thể hiện rõ qua sứ mạng, tôn chỉ của công ty) có vai trò:
Thiết lập một tiếng nói chung hoặc môi trường của doanh nghiệp, đảm bảo nhất trí về mục đích trong doanh nghiệp Định rõ mục đích của doanh nghiệp và chuyển dịch các mục đích này thành các mục tiêu cụ thể Nội dung triết lý kinh doanh rõ ràng là điều kiện hết sức cần thiết để thiết lập các mục tiêu và soạn thảo các chiến lược một cách có hiệu quả Một kế
Trang 4041
hoạch mang tính chiến lược bắt đầu với một sứ mệnh kinh doanh đã được xác định một cách
rõ ràng Triết lý kinh doanh (thể hiện rõ qua bản sứ mệnh) được chuẩn bị kĩ được xem như
bước đầu tiên trong quản trị chiến lược
Triết lý kinh doanh cung cấp cơ sở hoặc tiêu chuẩn để phân phối nguồn lực của tổ chức Sứ mệnh hay mục đích của doanh nghiệp là một yếu tố môi trường bên trong có ảnh hưởng đến các bộ phận chuyên môn như sản xuất, kinh doanh, marketing, tài chính và quản trị nhân sự Mỗi bộ phận chuyên môn hay tài vụ này phải dựa vào mục đích hay sứ mệnh của công ty để đề ra mục tiêu của bộ phận mình
Môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp vốn rất phức tạp và biến đổi không ngừng Để tồn tại được, doanh nghiệp cần có tính mềm dẻo, linh hoạt và hơn thế nữa, muốn phát triển được lâu dài, nó cần có năng lực tự chủ động kinh doanh với tính khôn ngoan,
sáng suốt Tính định tính, sự trừu tượng của triết lý kinh doanh cho phép doanh nghiệp có sự linh hoạt nhiều hơn trong việc thích nghi với mội trường đang thay đổi và các hoạt động bên trong Nó tạo ra sự linh động trong việc thực hiện, sự mềm dẻo trong kinh doanh Nó chính
là một hệ thống các nguyên tắc tạo ra cái “dĩ bất biến ứng vạn biến” của doanh nghiệp
Triết lý kinh doanh là cơ sở để quản lý chiến lược của doanh nghiệp: Đối với tầng
lớp cán bộ quản trị, triết lý doanh nghiệp là một văn bản pháp lý và cơ sở văn hóa để họ có thể đưa ra các quyết định quản lý quan trọng, có tính chiến lược, trong những tình huống mà
sự phân tích kinh tế lỗ - lãi vẫn chưa giải quyết được vấn đề
c Triết lý doanh nghiệp là một phương tiện để giáo dục, phát triển nguồn nhân lực
và tạo ra một phong cách làm việc đặc thù của doanh nghiệp
Phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp liên quan tới công tác tuyển dụng, đào tạo, tổ chức và sử dụng, đãi ngộ và thúc đẩy… đội ngũ của nó Nếu đặt ra mục tiêu xây dựng một nguồn nhân lực thống nhất, phát huy các yếu tố nhân văn của nguồn lực trung tâm này
để làm chủ thể cho phương thức phát triển bền vững của doanh nghiệp thì trong các công việc trên, cần được định hướng bằng một triết lý chung Triết lý doanh nghiệp cung cấp các giá trị, chuẩn mực hành vi nhằm tạo nên một phong cách làm việc, sinh hoạt chung của doanh nghiệp, đậm đà bản sắc văn hóa của nó Do triết lý kinh doanh đề ra một hệ giá trị đạo đức chuẩn làm căn cứ đánh giá hành vi của mọi thành viên nên nó có vai trò điều chỉnh hành
vi của nhân viên qua việc xác định bổn phận, nghĩa vụ của mỗi thành viên đối với doanh nghiệp, với thị trường khu vực và xã hội nói chung Nhờ có hệ thống giá trị được tôn trọng, triết lý doanh nghiệp còn có tác dụng bảo vệ nhân viên của doanh nghiệp – những người dễ
bị thương tổn, thiệt thòi khi người quản lý của họ lạm dụng chức quyền hoặc ác ý tư thù
Như vậy, vai trò của triết lý doanh nghiệp có thể so sánh với bất kì một nguồn lực nào khác của doanh nghiệp như vốn, tài sản hoặc công nghệ Kiểm nghiệm từ thực tiễn thành công của các doanh nghiệp, các nhà lãnh đạo, sáng lập các hãng lớn và các nhà nghiên cứu
đã rút ra những nhận xét sâu sắc về tầm quan trọng của triết lý doanh nghiệp
NHỮNG MẨU CHUYỆN VỀ PHƯƠNG THỨC PHÁT TRIỂN THÔNG QUA ĐỊNH HƯỚNG, CHIẾN LƯỢC TRONG TRIẾT LÝ KINH DOANH
1 Mua dưa hấu
Một đứa trẻ cầm số tiền trị giá 3.000 đồng đến vườn dưa để mua Người nông dân bán dưa thấy tiền quá ít nên muốn đuổi cậu bé rời đi bằng cách chỉ vào quả dưa hấu nhỏ tí nói: “3000 đồng chỉ có thể mua một quả dưa nhỏ ở đằng kia”, đứa trẻ lập tức đồng ý, và đưa