Vì những lý do trên, vấn đề “Giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên ngành kinh tế ở các trường đại học trên địa bàn Thành phố Hà Nội” đã được tác giả lựa chọn làm đề tài luận văn tốt
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
Trang 2HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
Trang 3Hà Nội, ngày …… tháng … năm 2020
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
Trang 4Tôi xin cam đoan Luận văn “Giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên ngành kinh tế ở các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội” là
công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS,TS.Mai Đức Ngọc Các số liệu nêu trong Luận văn là trung thực, các thông tin trích dẫn
trong luận văn đã được trích dẫn rõ nguồn gốc
Tôi xin chịu trách nhiệm đối với luận văn của mình
Tác giả
Đặng Thu Trang
Trang 5Tác giả trân trọng cảm ơn các thầy cô trong Khoa Tuyên truyền, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, đặc biệt là PGS,TS Mai Đức Ngọc- người trực tiếp hướng dẫn đã giúp tôi hoàn thành luận văn này Trân trọng cảm ơn gia đình đã tạo điều kiện, giúp đỡ cho tác giả hoàn thành luận văn
Luận văn chắc chắn sẽ còn một số thiếu sót về mặt kiến thức cũng như
kỹ thuật văn bản Rất mong nhận được sự đóng góp chân thành của các nhà khoa học, quý thầy cô giáo và các bạn
Hà Nội , ngày tháng năm 2020
Tác giả
ĐẶNG THU TRANG
Trang 6CSVC : Cơ sở vật chất
GD&ĐT : Giáo dục & Đào tạo
GDVHKD : Giáo dục văn hóa kinh doanh
HQGDVHKD : Hiệu quả giáo dục văn hóa kinh doanh
VHKD : Văn hóa kinh doanh
Trang 7Bảng 2.1: Mục đích, động cơ bạn chọn học ngành kinh tế 52
Bảng 2.2 Tinh thần hợp tác với cơ quan pháp lý 54
Bảng 2.3 Đối xử đối với đối thủ cạnh tranh 55
Bảng 2.4 Trách nhiệm với người tiêu dùng 56
Bảng 2.5 Thái độ phân biệt đối xử của doanh nghiệp đối với lao động 58
Bảng 2.6: Bảo vệ môi trường tự nhiên 59
Trang 8MỞ ĐẦU 1
Chương 1: GIÁO DỤC VĂN HÓA KINH DOANH CHO SINH VIÊN NGÀNH KINH TẾ Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 10
1.1 Văn hóa kinh doanh và giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên ngành kinh tế 10
1.2 Các yếu tố cấu thành hoạt động giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên ngành kinh tế các trường đại học 17
1.3 Sự cần thiết phải giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên ngành kinh tế ở các trường đại học ở Việt Nam hiện nay 30
Chương 2: GIÁO DỤC VĂN HÓA KINH DOANH CHO SINH VIÊN NGÀNH KINH TẾ Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI – THỰC TRẠNG VÀ KINH NGHIỆM 38
2.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên ngành kinh tế các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội 38
2.2 Thực trạng giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên ngành kinh tế ở các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay 50
2.3 Một số kinh nghiệm trong giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên ngành kinh tế ở các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay 68
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG GIÁO DỤC VĂN HÓA KINH DOANH CHO SINH VIÊN NGÀNH KINH TẾ Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG THỜI GIAN TỚI 75
3.1 Quan điểm tăng cường giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên ngành kinh tế ở trong các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội 75
3.2 Giải pháp nhằm tăng cường giáo dục giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên ngành kinh tế ở các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian tới 80
KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC 100
TÓM TẮT LUẬN VĂN 105
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sự tham gia của văn hóa vào hoạt động kinh doanh ngày càng được thể hiện rõ nét và tạo thành một động lực đặc thù cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp và thịnh vượng của nền kinh tế, nhất là trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay Một trong những yếu tố tác động điển hình của văn hóa trong lĩnh vực kinh doanh chính là văn hóa kinh doanh
Văn hóa kinh doanh luôn được coi là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của doanh nghiệp Đi cùng với yếu tố đạo đức kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp được coi là yếu tố quyết định để đưa các doanh nghiệp Việt Nam vươn ra hòa nhập với nền kinh tế thế giới, cạnh tranh với các doanh nghiệp của những nước khác trên thị trường quốc tế
Trong những năm gần đây, kinh tế nước ta có nhiều bước phát triển vượt bậc; mỗi năm, hàng trăm nghìn doanh nghiệp mới được thành lập tại Việt Nam Quá trình phát triển gặp nhiều khó khăn, song các doanh nghiệp luôn cố gắng vươn lên với nhiều sản phẩm Việt đặc trưng, ghi dấu ấn trên thị trường quốc tế, điển hình như Viettel, Vingroup, Vietjet, Vinamilk… tạo nên những ấn tượng tốt
về văn hóa kinh doanh của doanh nghiệp Việt Tuy nhiên, doanh nghiệp Việt Nam cũng vẫn ghi nhận những hạn chế trong văn hóa kinh doanh: không trung thực trong buôn bán, vi phạm pháp luật trong hoạt động kinh doanh, chưa quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường và bảo vệ người tiêu dùng,
Điều đó cho thấy, văn hóa kinh doanh tại nước ta vẫn chưa được chú trọng, quan tâm đúng mức Các doanh nghiệp vẫn quá chú trọng vấn đề lợi nhuận mà quên mất câu chuyện xây dựng văn hóa kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp, trong khi đây mới chính là những yếu tố cốt lõi làm nên sự phát triển bền vững của doanh nghiệp Để xây dựng được văn hóa kinh doanh
Trang 10cho doanh nghiệp Việt, chúng ta sẽ cần chú trọng hơn vào công tác giáo dục, phổ biến văn hóa doanh nghiệp cho tất cả các đối tượng trong xã hội, nhất là những đối tượng trực tiếp tham gia vào quá trình lao động sản xuất, góp phần hình thành, sáng tạo văn hóa doanh nghiệp Chúng ta cần xác định các giá trị cốt lõi làm trung tâm lan tỏa của văn hóa kinh doanh người Việt; nâng cao, tăng cường hiệu quả các hoạt động từ xây dựng khung pháp luật về văn hóa kinh doanh, cụ thể hóa các điều luật về đạo đức kinh doanh,…cho đến giáo dục văn hóa kinh doanh cho tất cả các đối tượng trong xã hội
Sinh viên chính là người chủ tương lai của đất nước, họ sẽ trở thành lực lượng lao động đông đảo, góp phần làm nên của cải trong xã hội, đóng góp cho sự phát triển của nền kinh tế đất nước Hiện nay, sinh viên Việt Nam ngày càng tự tin, năng động hơn trong kinh doanh và kinh tế Ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, nhiều sinh viên đã chủ động xin vào làm việc tại các doanh nghiệp, hay tự kinh doanh nhỏ lẻ thông qua các kênh bán hàng trực tuyến, tham gia các dự án khởi nghiệp, Dù là ở vị trí nhân viên hay chủ doanh nghiệp, chủ cửa hàng kinh doanh; sinh viên vẫn là đối tượng tham gia việc xây dựng, hình thành và phát triển văn hóa kinh doanh của doanh nghệp, phát huy những giá trị của văn hóa kinh doanh Vì vậy, chúng ta cần coi trọng hơn nữa vấn đề giáo dục văn hóa kinh doanh cho đối tượng sinh viên, đơn cử như giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên ngành kinh tế trong các trường đại học hiện nay - đối tượng chính đang được học các nội dung giáo dục văn hóa kinh doanh ngay từ khi còn đang ngồi trên ghế nhà trường
Hà Nội là trung tâm chính trị - văn hóa- kinh tế của cả nước, đóng góp quan trọng trong việc phát triển kinh tế đất nước Thủ đô cũng là nơi hội tụ nhiều trường đại học lớn, với số lượng sinh viên ngành kinh tế đông đảo, tạo nguồn nhân lực dồi dào cho các doanh nghiệp Trong giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên ngành kinh tế, mỗi trường đại học lại có một giáo trình độc lập riêng, tạo nên sự khác biệt nhất định Điều này khiến cho giáo dục văn
Trang 11hóa kinh doanh cho sinh viên chuyên ngành kinh tế ở các trường đại học chưa được đồng bộ, chưa thực sự tạo ra chất lượng và mang đến hiệu quả tối ưu
Vì những lý do trên, vấn đề “Giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên ngành kinh tế ở các trường đại học trên địa bàn Thành phố Hà Nội”
đã được tác giả lựa chọn làm đề tài luận văn tốt nghiệp Cao học Chính trị học Chuyên ngành Quản lý hoạt động tư tưởng - văn hóa Với ý nghĩa là một lĩnh vực của văn hóa kinh tế, tác giả cho rằng người làm công tác tư tưởng-văn hóa cần quan tâm đến giáo dục văn hóa kinh doanh bên cạnh giáo dục về kinh
tế và tuyên truyền về pháp luật kinh tế, đặc biệt là giáo dục văn hóa kinh doanh cho đối tượng sinh viên ngành kinh tế ở các trường đại học hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Tính đến thời điểm này, nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài văn hóa doanh nghiệp và giáo dục văn hóa doanh nghiệp , trong đó phải kể đến một số công trình cơ bản sau đây:
2.1 Các công trình liên quan đến văn hóa kinh doanh và giáo dục văn hóa kinh doanh
Với tư cách là một khía cạnh đặc biệt của văn hóa, vấn đề giáo dục văn hóa kinh doanh đã được nghiên cứu trong nhiều công trình của các tác giả trong và ngoài nước Ở Việt Nam, vấn đề văn hóa kinh doanh bắt đầu được nghiên cứu từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX Thời gian qua, nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa kinh doanh và giáo dục văn hóa kinh doanh đã được đưa ra; trong đó, những công trình nghiên cứu tiêu biểu của các tác giải nghiên cứu về vấn đề này có thể kể đến như:
Cuốn sách “Văn hóa kinh doanh và triết lý kinh doanh” xuất bản năm
2001 của tác giả Đỗ Minh Cương: tác giả đã đề cập tới vấn đề văn hóa kinh doanh trong khía cạnh tương tác với triết lý kinh doanh, và nhấn mạnh vấn đề phải xây dựng và giáo dục, phát triển văn hóa kinh doanh
Luận án Tiến sĩ “Tình hình và thực trạng về văn hóa trong kinh doanh
Trang 12ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Văn Diễn (2007) cũng đã trình bày
những vấn đề lý luận, thực tiễn văn hóa trong kinh doanh của nhiều doanh nghiệp tại Việt Nam, và đưa ra một số giải pháp để phát huy các giá trị văn
hóa trong doanh nghiệp Sách “Tinh thần doanh nghiệp – giá trị định hướng
của văn hóa kinh doanh Việt Nam”, tác giả Trần Quốc Dân, Nxb.Chính trị
Quốc gia năm 2003 thể hiện quan điểm tinh thần doanh nghiệp chính là giá trị định hớng cốt lõi cho văn hóa kinh doanh Việt Nam, thông quan việc nuôi dưỡng, rèn luyện tinh thần doanh nghiệp, doanh nghiệp Việt Nam có thể phát triển bền vững hơn
Trong Luận án Tiến sĩ kinh tế năm 2004 của tác giả Nguyễn Hoàng
Anh “Vai trò của văn hóa kinh doanh quốc tế và vấn đề xây dựng văn hóa
kinh doanh ở Việt Nam” cũng phân tích rõ tầm quan trọng của xây dựng văn
hóa kinh doanh tại Việt Nam
Bài báo “Văn hóa kinh doanh và một số giải pháp xây dựng văn hóa
kinh doanh Việt Nam” của tác giả Dương Thị Liễu đăng trên Tạp chí Triết học
số 6, tháng 6/2005 đã đề cập tới văn hóa kinh doanh như một phương diện của văn hóa xã hội, được thể hiện trong lĩnh vực kinh doanh Trong bài viết này, tác giải cũng đề cập đến chủ đề xây dựng và bồi dưỡng một đội ngũ đông đảo doanh nhân có văn hóa thông qua nhiều cách giáo dục, bồi dưỡng trong
đó có bồi dưỡng
Tiếp tục là tác giả Dương Thị Liễu với bài báo “Hội nhập và văn hóa
kinh doanh”, tác giả cũng đề cập đến vấn đề phải xây dựng văn hóa kinh
doanh trong nền kinh tế thị trường, xây dựng một nền văn hóa kinh doanh riêng mang bản sắc Việt Nam và coi đây như hành trang để hội nhập kinh tế thế giới
Trong luận án Tiến sĩ “Văn hóa doanh nhân Việt Nam trong bối cảnh
hội nhập quốc tế” năm 2011, tác giả Nguyễn Viết Lộc đã đề cập đến vấn đề
văn hóa doanh nghiệp dưới góc nhìn tiếp cận từ nhà doanh nhân và đưa ra
Trang 13những biện pháp để nâng cao văn hóa kinh doanh tại các doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập
Năm 2013, trong cuốn sách “Văn hóa kinh doanh ở Việt Nam hiện nay”
của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Anh được xuất bản tại Nxb Chính trị Quốc gia, tác giả đã đề cập đến nhiều nội dung quan trọng trong lý luận về văn hóa kinh doanh và đưa ra nhiều ý kiến xây dựng văn hóa kinh doanh tại Việt Nam
Năm 2017, luận án Tiến sĩ “Văn hóa kinh doanh của doanh nhân Việt
Nam đầu thế kỷ XX” của tác giả Nguyễn Thị Ánh đã khái quát cơ bản tiến trình
phát triển của văn hóa kinh doanh ở Việt Nam Trong đó, luận án cũng đưa ra một số giải pháp để giáo dục văn hóa kinh doanh thông qua các truyền thống về văn hóa kinh doanh của doanh nhân Việt Nam trong thế kỷ XX
2.2 Các công trình liên quan đến giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên và giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên ngành kinh tế
Các công trình nghiên cứu về giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên và giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên ngành kinh tế chủ yếu
được tác giả tìm hiểu thông qua giáo trình giảng dạy môn học “Văn hóa kinh
doanh” của trường đại học Theo tác giả, các giáo trình này là kết quả tổng
hợp các công trình nghiên cứu tổng quát từ lý luận cho đến thực tiễn và văn hóa kinh doanh và được chọn lọc kỹ càng để đưa vào chương trình giảng dạy cho sinh viên
Tập bài giảng “Văn hóa kinh doanh” của nhóm tác giả Học viện Ngân
hàng năm 2014 cũng hệ thống lại các khái niệm cơ bản về văn hóa kinh doanh
và các quy tắc ứng xử phù hợp với văn hóa kinh doanh trong doanh nghiệp Giáo trình này đều nhằm mục đích giáo dục cho sinh viên để khi bước vào làm việc tại các doanh nghiệp hay trở thành người chủ doanh nghiệp, chủ sự nghiệp kinh doanh, sinh viên tuân thủ theo đúng pháp luật về kinh tế và thực hiện đúng các chuẩn mực về văn hóa kinh doanh
Giáo trình “Văn hóa kinh doanh” của nhóm tác giả trường Đại học
Trang 14Kinh tế Quốc dân xuất bản năm 2016 nêu lên những nội dung cơ bản của văn hóa kinh doanh và đưa ra tiêu chuẩn mẫu cho các hoạt động thể hiện văn hóa kinh doanh Công trình này đã kế thừa Giáo trình đã được đưa vào giảng dạy cho nhiều thế hệ sinh viên trường Đại học Kinh tế Quốc dân, thể hiện rõ nét nhất nội dung giáo dục văn hóa kinh doanh đang được giảng dạy tại các trường đại học
Đề tài nghiên cứu “Phát huy giá trị văn hóa kinh doanh trong sự phát
triển bền vững của tỉnh Thái Nguyên (giai đoạn 2013- 2020)” của nhóm tác
giả thuộc trường Đại học Thái Nguyên đã đề cập đến những vấn đề lý luận về VHKD và phát triển bền vững và các giải pháp nhằm xây dựng VHKD đảm bảo cho phát triển bền vững Trong đó, vấn đề giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên ngành kinh tế tại các trường đại học được nhắc đến với mục đích phát triển các giá trị văn hóa kinh doanh ở Thái Nguyên
Bài viết “Giáo dục khởi nghiệp và trường học khởi nghiệp kinh doanh:
Xu hướng tiếp cận mới trong giáo dục và phát triển của sinh viên”, tác giả
Ngiêm Phúc Hiếu cũng đề cập tới vấn đề giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên ngành kinh tế trong các trường đại học như một nội dung trong giáo dục khởi nghiệp kinh doanh ở trường học Bài viết đã chỉ ra sự cần thiết có nội dung giáo dục về văn hóa kinh doanh trong giáo dục khởi nghiệp cho sinh viên nghành kinh tế và cho rằng đây là xu thế mới cần được các trường đại học quan tâm và chú trọng
Bài viết “Hợp tác, đối tác “cơ sở giáo dục - doanh nghiệp” để phát
triển kỹ năng cho việc làm” của nhóm tác giả Nguyễn Thị Kim Dung-Hoàng
Thị Thủy đăng ngày 06/11/2019 trên website tuyengiao.vn đã đề cập đến mô hình hợp tác giữa cơ sở giáo dục và doanh nghiệp để phát triển kỹ năng nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên đáp ứng những thay đổi của xã hội Trong đó, bài viết có nhắc đến cần có sự phối hợp giữa doanh nghiệp và cơ sở giáo dục trong giáo dục những nội dung đặc biệt gắn liền với hoạt động doanh nghiệp,
Trang 15bao gồm kỹ năng nghề nghiệp và văn hóa doanh nghiệp
Tổng kết lại, các công trình nghiên cứu điển hình về giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên ngành kinh tế hầu hết được chuyển thể thành sách giáo trình và giảng dạy cho sinh viên chuyên nghành Giáo trình giảng dạy văn hóa kinh doanh của mỗi trường đại học, mỗi chuyên ngành đều có sự thêm, bớt, thay đổi nhất định để phù hợp với chuyên ngành đào tạo; tạo nên
sự đa dạng trong nội dung, hình thức và phương pháp giảng dạy văn hóa kinh doanh trong các trường đại học
Trong phạm vi bao quát của học viên, hiện chưa có đề tài nào cụ thể nghiên cứu về vấn đề giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên ngành kinh
tế các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên ngành kinh tế, khảo sát đánh giá thực trạng giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên ngành kinh tế ở các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội; luận văn đề xuất quan điểm, giải pháp nhằm tăng cường giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên ngành kinh tế ở các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn tập trung giải quyết một số nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên ngành kinh tế ở các trường đại học
- Phân tích, đánh giá thực trạng giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên ngành kinh tế ở các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay
- Đề xuất quan điểm, giải pháp nhằm tăng cường giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên ngành kinh tế ở các trường đại học trong thời gian tới
Trang 164 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên ngành kinh tế ở các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội
- Đại học Kinh tế trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội
- Đại học Ngoại thương cơ sở I (Hà Nội)
- Đại học Kinh tế Quốc dân
Phạm vi thời gian: Từ năm 2016 đến 2020
5 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lí luận
Luận văn dựa trên các nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và chủ trương, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về kinh tế và văn hóa kinh doanh Ngoài ra, luận văn cũng dựa trên
sự kế thừa, tiếp thu có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trình khoa
học, các bài viết về văn hóa kinh doanh và giáo dục văn hóa kinh doanh
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp thu thập và nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp phân tích và tổng hợp
- Phương pháp logic và lịch sử
- Phương pháp điều tra xã hội học
Trang 17- Phương pháp so sánh
- Phương pháp tổng kết thực tiễn và phân tích lý luận
6 Đóng góp của luận văn
- Đề tài góp phần vào việc làm rõ những vấn đề lý luận về giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên ngành kinh tế, làm rõ thực trạng giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên ngành kinh tế ở các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay
- Góp phần xây dựng quan điểm và một số giải pháp nhằm tăng cường giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên ngành kinh tế ở các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian tới
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
7.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ những vấn đề lý luận
về giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên ngành kinh tế ở các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho giảng viên, báo cáo viên, tuyên truyền viên trong việc giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên ngành kinh tế ở các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương và 17 tiết, 99 trang
Trang 18Chương 1 GIÁO DỤC VĂN HÓA KINH DOANH CHO SINH VIÊN NGÀNH KINH TẾ Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1 Văn hóa kinh doanh và giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên ngành kinh tế
1.1.1 Khái niệm văn hóa và văn hóa kinh doanh
* Khái niệm văn hóa
Hiện nay, trên thế giới đang có hơn 500 khái niệm về văn hóa, được đưa ra bởi các nhà nghiên cứu, học giả khác nhau Trong đó, theo khái niệm chung được biết đến rộng rãi nhất, văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra bằng lao động và hoạt động thực tiễn trong quá trình lịch sử của mình, biểu hiện trình độ phát triển xã hội trong từng thời
đa dạng, phong phú của văn hóa
+ Theo nghĩa rộng, văn hoá thường được xem là bao gồm tất cả những
Trang 19gì do con người sáng tạo ra Theo định nghĩa của UNESCO:
“Văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm, tính cách của một xã hội hay một người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, tập tục
và tín ngưỡng Văn hóa đem lại cho người khả năng suy xét về bản thân Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình mới mẻ, những công trình vượt trội bản thân”.[UNESCO 1960, tr.12]
Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO, thì cho rằng:
“Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động” [UNESCO
1989, tr.5]
Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hoá họp năm 1970 tại Venise
Theo Từ điển Tiếng Việt của GS Hoàng Phê, văn hóa được định nghĩa
là “tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng
tạo ra trong quá trình lịch sử”.[45, tr.267]
Khi nghiên cứu quy luật vận động và phát triển của xã hội loài người, C.Mác và Ph.Ăngghen đã khái quát các hoạt động của xã hội thành hai loại hình hoạt động cơ bản là "sản xuất vật chất" và "sản xuất tinh thần" Do đó, văn hóa bao gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Văn hóa vật chất là năng lực sáng tạo của con người được thể hiện và kết tinh trong sản phẩm vật
Trang 20chất Văn hóa tinh thần là tổng thể các tư tưởng, lý luận và giá trị được sáng tạo ra trong đời sống tinh thần và hoạt động tinh thần của con người Đó là những giá trị cần thiết cho hoạt động tinh thần, những tiêu chí, nguyên tắc chi phối hoạt động nói chung và hoạt động tinh thần nói riêng, chi phối hoạt động ứng xử, những tri thức, kỹ năng, giá trị khoa học, nghệ thuật được con người sáng tạo và tích lũy trong lịch sử của mình; là nhu cầu tinh thần, thị hiếu của con người và những phương thức thỏa mãn nhu cầu đó
Năm 1940, trong tác phẩm “Nhật ký trong tù”, Hồ Chí Minh đã viết:
“Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống
và đòi hỏi của sự sinh tồn” [4, tr.31]
Định nghĩa về văn hóa của Hồ Chí Minh đã khắc phục được những quan niệm có phần phiến diện về văn hóa và phân loại văn hóa thuộc tầng kiến trúc thượng tầng của xã hội, có vai trò rất quan trọng để con người thích ứng với xã hội và đòi hỏi của sự sinh tồn Tác giả sử dụng định nghĩa của Hồ Chí Minh về văn hóa làm căn cứ để đưa ra các khái niệm về văn hóa kinh doanh
*Khái niệm kinh doanh:
Theo Từ điển tiếng Việt, tác giả Hoàng Phê định nghĩa khái niệm kinh
doanh: “Kinh doanh là việc tổ chức việc sản xuất buôn bán sao cho sinh
lời”.[45, tr.168] Trong khi đó, theo tiếng Anh, kinh doanh là “business”, là
một hoạt động kinh tế liên quan đến sản xuất và phân phối hàng hóa hoặc dịch
vụ liên tục, thường xuyên để đáp ứng cho những nhu cầu và mong muốn của con người
Trang 21Kinh doanh là một trong những hoạt động phong phú nhất trong lĩnh vực kinh tế hiện nay Hoạt động kinh doanh sẽ thông qua các thể chế kinh doanh như tập đoàn, công ty nhưng cũng có thể là hoạt động tự thân của các
cá nhân như sản xuất-buôn bán nhỏ kiểu hộ gia đình nhằm đạt đến mục tiêu sinh lời của chủ thể kinh doanh trên thị trường Người ta còn cho rằng kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời Để đánh giá các hoạt động kinh doanh, người
ta có nhiều chỉ tiêu khác nhau như doanh thu, tăng trưởng, lợi nhuận biên, lợi nhuận ròng,
Kinh doanh đồng thời là phương thức hoạt động kinh tế trong điều kiện tồn tại nền kinh tế hàng hoá, gồm tổng thể những phương pháp, hình thức và phương tiện mà chủ thể kinh tế sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh tế của mình (bao gồm quá trình đầu tư, sản xuất, vận tải, thương mại, dịch vụ, phân phối ) trên cơ sở vận dụng quy luật giá trị cùng với các quy luật khác, nhằm đạt mục tiêu vốn sinh lời cao nhất
Xét trên các phương diện, kinh doanh luôn có một mục đích chính là đem lại lợi nhuận cho chủ thể kinh doanh Tất cả các hoạt động diễn ra trong kinh doanh đều phục vụ cho mục tiêu tạo lợi nhuận nên cần tối ưu các chi phí chi ra, trong khi liên tục nâng cao lợi nhuận đem về
Theo khái niệm chung nhất, kinh doanh là hoạt động kinh tế của cá
nhân hoặc tổ chức nhằm mục đính thu lợi nhuận Kinh doanh bao gồm nhiều
lĩnh vưc như tài chính, thương mại, thông tin, tin tức, giải trí, sản xuất công nghiệp, bán lẻ, phân phối, vận tải,…
* Khái niệm văn hóa kinh doanh
Theo Giáo trình Văn hóa kinh doanh của tác giả Dương Thị Liễu, khái
niệm văn hóa kinh doanh được tiếp cận như một lĩnh vực văn hóa đặc thù gắn liền với đời sống kinh tế- xã hội của con người
Trang 22Nếu như định nghĩa văn hóa là những giá trị, thái độ và hành vi giao tiếp được đa số thành viên của một nhóm người cùng chia sẻ và phân định nhóm này với nhóm khác; hay văn hóa là quá trình thích nghi với môi trường, quá trình học hỏi, hình thành thói quen, lối ứng xử của con người Thì theo đó, văn hóa kinh doanh là lối ứng xử của cá nhân, tổ chức làm kinh tế (doanh nghiệp – doanh nhân) với tất cả những gì liên quan, phù hợp với xu thế thời đại
Theo tác giả Dương Thị Liễu thì văn hóa kinh doanh theo nghĩa rộng là một phương diện của văn hóa trong xã hội, bao gồm toàn bộ các giá trị vật chất và giá trị tinh thần do chủ thể kinh doanh sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động kinh doanh, trong sự tương tác giữa chủ thể kinh doanh với môi trường kinh doanh Theo nghĩa hẹp, có thế hiểu: Văn hóa kinh doanh là một hệ thống các giá trị, các chuẩn mực, các quan niệm và hành vi do chủ thể kinh doanh tạo ra trong quá trình kinh doanh, được thể hiện trong cách ứng xử của họ với xã hội, tự nhiên ở một cộng đồng hay một khu vực
Văn hóa kinh doanh sẽ tạo nên bản sắc kinh doanh của chủ thể kinh doanh (bao gồm doanh nhân, doanh nghiệp) vì cách ứng xử của mỗi chủ thể kinh doanh với cộng đồng xã hội tuy cùng chung mục tiêu tạo ra lợi nhuận nhưng lại khác nhau trong cách thức và phương thức biểu hiện Văn hóa kinh doanh không chỉ là văn hóa mà các chủ thể kinh doanh sử dụng trong kinh doanh của họ mà còn là những tinh túy được truyền đạt trong sản phẩm kinh doanh họ đưa ra thị trường và đi vào lưu thông
Văn hóa kinh doanh đòi hỏi bên cạnh việc tạo ra lợi nhuận, doanh nghiệp cũng cần phải đảm bảo hoàn thành các trách nhiệm với cộng đồng xã hội, mang tới lợi ích cho cộng đồng Đó là cách doanh nghiệp ứng xử với cộng đồng xã hội như đóng góp cho cộng đồng thông qua các hoạt động từ thiện, giải quyết vấn đề việc làm, tuân thủ chính sách và pháp luật của Nhà nước, đảm bảo quyền lợi cho người lao động, bảo vệ môi trường, tham gia sáng tạo giá trị vật chất cho xã hội, tạo động lực cho kinh tế phát triển,
Trang 23Tổng kết lại, văn hóa kinh doanh chính là việc sử dụng các nhân tố văn
hóa trong hoạt động kinh doanh, ứng xử với cộng đồng xã hội sao cho việc đạt được lợi nhuận phải đi đôi với việc đảm bảo lợi ích cộng đồng xã hội
1.1.2 Sinh viên và giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên
*Khái niệm sinh viên:
Theo Từ điển Tiếng Việt, “sinh viên là người học tập tại các trường
đại học, cao đẳng”.[45, tr.204] Ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản
về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ Họ được xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt được trong quá trình học Quá trình học của họ theo phương pháp chính quy, tức là họ đã phải trải qua bậc tiểu học
và trung học
Theo tiếng Anh, thuật ngữ “sinh viên” được bắt nguồn từ một từ gốc Latinh - “Students” với nghĩa là người làm việc, học tập, tìm hiểu, khai thác tri thức Hiểu theo nghĩa này thì sinh viên là những người đang vừa học tập để tìm hiểu sâu thêm về các kiến thức, tri thức đã học ở các bậc học trước; và khai thác thêm tri thức từ chính thực tiễn làm việc trong môi trường xã hội
Hiện nay, sinh viên chính là lực lượng lao động trẻ làm việc trong các doanh nghiệp, tự chủ kinh doanh ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, tham gia vào các hoạt động kinh tế của xã hội từ sản xuất, truyền bá cho đến tiêu dùng Sinh viên ngành kinh tế là lực lượng sinh viên theo học các ngành học kinh tế tại các trường đại học
* Khái niệm giáo dục:
Hiện nay có rất nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau về giáo dục Giáo dục trong tiếng Anh là “Education”, theo nghĩa chung là hình thức học tập theo đó kiến thức, kỹ năng và thói quen của một nhóm người sẽ được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua các hoạt động giảng dạy, đào tạo hay nghiên cứu Theo Từ điển tiếng Việt, tác giả Hoàng Phê định nghĩa khái niệm giáo dục dựa trên từ loại Nếu giáo dục là một danh từ thì “Giáo
Trang 24dục là hệ thống các biện pháp và cơ quan giảng dạy- giáo dục của một nước.”.[45, tr.397] Còn khi là động từ, giáo dục được định nghĩa “là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phầm chất và năng lực như yêu cầu đặt ra.” [45, tr.397] Giáo dục thường được định nghĩa theo khía cạnh là một động từ hơn, với mục đích tối cao là truyền dạy kiến thức, kỹ năng cho những người được giáo dục để ở họ hình thành phẩm chất, nhân cách
Ở góc độ phạm vi, giáo dục được định nghĩa theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng Theo nghĩa rộng, giáo dục là quá trình tổ chức một cách có mục đích, có
kế hoạch, thông qua các hoạt động và quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục, nhằm phát triển sức mạnh vật chất và tinh thần của thế hệ đang lớn lên, trên cơ sở giúp họ lĩnh hội và áp dụng tốt các kinh nghiệm được đúc kết trong lịch sử xã hội loài người Giáo dục theo nghĩa hẹp, thì là một bộ phận của hoạt động giáo dục theo nghĩa rộng, và chính là quá trình tác động qua lại giữa nhà giáo dục và đối tượng giáo dục nhằm đạt được các mục tiêu
cụ thể: hình thành thế giới quan khoa học, tư tưởng chính trị, đạo đức, thẩm
mỹ, tính tích cực lao động, phát triển thể lực, những hành vi và thói quen ứng
xử đúng đắn của cá nhân trong các mối quan hệ xã hội
Trong định nghĩa giáo dục văn hóa kinh doanh cho đối tượng sinh viên, đối tượng giáo dục văn hóa kinh doanh ở đây là đối tượng sinh viên - những người trẻ đang học tập trên ghế nhà trường nhưng vẫn tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh, đóng góp cho xã hội thông qua các hoạt động sản xuất vật chất
Tổng kết lại từ những quan điểm trên, ta có thể hiểu khái niệm giáo dục
như sau: Giáo dục là một quá trình tác động thông qua các hoạt động và
quan hệ giữa chủ thể giáo dục và người được giáo dục hướng tới mục tiêu xây dựng kiến thức, năng lực, tình cảm, thái độ tích cực, đáp ứng yêu cầu của
Trang 25xã hội
* Định nghĩa giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên ngành kinh tế:
Từ những định nghĩa nêu trên, tổng kết lại, tác giả tổng kết lại về định
nghĩa “giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên”: Giáo dục văn hóa kinh
doanh cho sinh viên ngành kinh tế sẽ là sự tác động có mục đích, có định hướng của chủ thể giáo dục đến các sinh viên ngành kinh tế nhằm hình thành
ở họ tri thức kinh doanh, niềm tin kinh doanh và tính tích cực tham gia các hoạt động kinh doanh
1.2 Các yếu tố cấu thành hoạt động giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên ngành kinh tế các trường đại học
1.2.1 Chủ thể giáo dục
Chủ thể giáo dục văn hóa kinh danh là những người, những tổ chức, những thiết chế xã hội thực hiện sự tác động đến đối tượng giáo dục nhằm đạt mục đích của hoạt động giáo dục
Với tư cách tổ chức thực hiện, chủ thể là người lựa chọn nội dung, sử dụng hình thức, phương pháp, phương tiện, thời điểm tiến hành giáo dục văn hóa kinh doanh Xét đến cùng, chủ thể mới là yếu tố quyết định sự tác động của nội dung, hình thức, phương pháp, phương tiện giáo dục văn hóa kinh doanh, bởi chúng có phong phú, hiện đại đến đâu cũng không có giá trị, nếu chủ thể không biết khai thác sử dụng hợp lý để tác động đến đối tượng Chủ thể giáo dục văn hóa kinh doanh cũng cần là tấm gương để đối tượng học tập
và làm theo Trong các trường đại học, GDVHKD cho sinh viên là hệ thống phong phú, đa dạng các chủ thể do cơ cấu tổ chức và chức năng của từng bộ phận, cá nhân quy định Sự tác động của từng thành phần chủ thể đến hiệu quả GDVHKD không đồng đều do chức năng, nhiệm vụ khác nhau Số lượng chủ thể đủ theo biên chế, chất lượng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ là yếu tố quan trọng bảo đảm hiệu quả của GDVHKD cho sinh viên Vai trò quyết định của chủ thể trong tổ chức thực hiện cho phép rút ra vấn đề có tính quy luật, đó là chăm lo
Trang 26xây dựng, kiện toàn chủ thể đủ về số lượng, mạnh về chất lượng là biện pháp quan trọng hàng đầu để nâng cao hiệu quả GDVHKD cho sinh viên
Cụ thể, ở nước ta các chủ thể tham gia giáo dục VHKD cho sinh viên sẽ được chia thành các chủ thể chính sau:
- Chủ thể lãnh đạo, quản lý: Nhóm chủ thể này có nhiệm vụ xây dựng chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật làm khung cho các nội dung giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên Các chủ thể này còn có chức năng lãnh đạo, quản lý hoạt động giáo dục hoạt động GDVHKD cho sinh viên Do vậy, chủ thể này chính là Đảng và Nhà nước
- Chủ thể tham mưu, chỉ đạo, kiểm tra: Đây là lực lượng có trách nhiệm tham mưu cho các cơ quan, đơn vị, cơ sở giáo dục tổ chức các hoạt động GDVHKD cho sinh viên, lên nội dung, chương trình giáo dục, kiểm tra, đánh giá, giám sát kết quả giáo dục cho sinh viên, Như vây, nhóm chủ thể này bao gồm có các cơ quan các cấp về giáo dục đào tạo, Ban Giám hiệu, Ban Giám đốc các trường đại học, các cơ quan, ban, ngành có chức năng hỗ trợ, phối hợp các hoạt động giáo dục – đào tạo,
- Chủ thể trực tiếp giáo dục: Lực lượng chuyên trách trực tiếp giáo dục VHKD cho sinh viên sẽ là đội ngũ giảng viên, báo cáo viên, tuyên truyền viên
có nhiệm vụ giảng dạy trong các trường đại học Ngoài ra, các chủ thể giáo dục trực tiếp khác có thể là cha mẹ, bạn bè, người ảnh hưởng (influencer), người có
uy tín trong cộng đồng,
- Chủ thể giáo dục là chính sinh viên, với vai trò giáo dục và chịu sự tác động từ những sinh viên khác trong giáo dục VHKD cho sinh viên Nói cách khác, sinh viên sẽ được nhìn nhận với tư cách vừa là người tiếp nhận giáo dục vừa là chủ thể giáo dục lại người khác
Việc nhận thức đúng và đầy đủ các chủ thể giáo dục VHKD cho sinh viên sẽ giúp phân công, phối hợp tốt chức năng, nhiệm vụ giáo dục giữa các
chủ thể để tăng cường chất lượng và hiệu quả giáo dục VHKD cho sinh viên
Trang 271.2.2 Đối tượng giáo dục
Đối tượng giáo dục văn hóa kinh doanh được chia làm hai loại: đối tượng trực tiếp và đối tượng gián tiếp
Đối tượng giáo dục văn hóa kinh doanh trực tiếp chính là sinh viên đang theo học ngành kinh tế tại các trường đại học Sinh viên sẽ được nhìn nhận với tư cách vừa là đối tượng tiếp nhận giáo dục văn học kinh doanh, vừa
là chủ thể chia sẻ, giáo dục lại cho các đối tượng khác như bạn bè, anh/chị, đồng nghiệp cùng chỗ làm, Hiện nay, sinh viên là lực lượng đông đảo tham gia đóng góp cho các hoạt động kinh tế - xã hội như: sản xuất, tiêu dùng, tự kinh doanh, Ngoài ra, sinh viên cũng đóng vai trò tự giáo dục cho chính bản thân mình trong quá trình học tập, trải nghiệm làm việc trong môi trường doanh nghiệp
Đối tượng giáo dục gián tiếp trong hoạt động giáo dục văn hóa kinh doanh là những đối tượng mà nếu tác động vào họ thì có tác động lan tỏa tới việc thay đối nhận thức, thái độ, hành vi của đối tượng trực tiếp Theo quan niệm này, đối tượng nhận GDVHKD gián tiếp bao gồm các giảng viên trong trường học, báo cáo viên, tuyên truyền viên, những người chủ doanh nghiệp, đội ngũ người lao động tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh, rộng hơn là toàn thể xã hội Những đối tượng này sẽ có tác động tích cực tới việc giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên
1.2.3 Mục đích giáo dục
Mục đích là một trong những căn cứ để xác định kết quả, là yếu tố quyết định đến tính chất, quy mô, loại hình của hiệu quả Tuỳ theo mục đích cần đạt tới của từng hoạt động cụ thể của giáo dục văn hóa kinh doanh mà kết quả là tri thức, thái độ hay hành động của đối tượng giáo dục Mục đích có ảnh hưởng đến kết quả còn thể hiện ở chỗ nếu mục đích phù hợp sẽ mang lại hiệu quả cao, mục đích đặt ra quá cao, quá thấp hay không phù hợp với thực tiễn đều không mang lại hiệu quả như mong muốn Xác định mục đích đúng
Trang 28đắn có căn cứ khoa học, phù hợp với đối tượng là điều kiện quan trọng bảo đảm hiệu quả cao cho hoạt động giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên trong các trường đại học
Trong các trường đại học, mục đích cao nhất của giáo dục văn hóa kinh doanh là góp phần hoàn thiện nhân cách, phẩm chất đạo đức kinh doanh, tạo nên nguồn nhân lực có trình độ và chất lượng cao - theo mục tiêu, yêu cầu đào tạo của từng trường, chuẩn bị tiền đề cho việc sinh viên tích cực tham gia các hoạt động kinh doanh trong xã hội Để đạt được mục đích ấy phải thông qua mục tiêu của từng hoạt động cụ thể, việc xác định mục tiêu của từng hoạt động cụ thể cần phải phù hợp với năng lực của chủ thể giáo dục, đặc điểm của đối tượng, khả năng huy động nguồn lực của từng trường mới mang lại hiệu quả cao, tạo tiền đề để đạt tới mục đích cuối cùng của
GDVHKD cho sinh viên
Mục đích của giáo dục văn hóa kinh doanh là góp phần xây dựng ý thức thực hiện văn hóa kinh doanh trong trường học qua đó định hướng phát triển và hoàn thiện năng lực, phẩm chất, kỹ năng cho sinh viên, bởi nó trực tiếp tham gia vào quá trình đào tạo con người, hoàn thiện hệ thống giá trị văn hóa kinh doanh, phục vụ đắc lực cho sự phát triển xã hội Cụ thể, mục đích của hoạt động giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên là nhằm hình thành
ở sinh viên trước hết là những tri thức về kinh doanh, sau đó đến niềm tin kinh doanh và cuối cùng là sự chuyển biến hình thành tích tích cực tham gia các hoạt động kinh doanh trong xã hội, đóng góp cho sự phát triển của kinh tế đất nước và toàn xã hội Việc GDVHKD cho sinh viên cần chú trọng trang bị kiến thức cho sinh viên, đồng thời tạo cho sinh viên năng lực vận dụng kiến thức văn hóa kinh doanh để giải quyết những vấn đề trong thực tiện, đáp ứng yêu cầu của xã hội
Từ mục đích giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên như trên, cùng
sự đặc biệt của đối tượng là sinh viên, chúng ta cần xây dựng nội dung và
hình thức, phương thức giáo dục văn hóa kinh doanh tương ứng
Trang 291.2.4 Nội dung giáo dục
Trong Từ điển tiếng Việt, theo tác giả Hoàng Phê, nội dung “là cái ẩn
chứa bên trong, là mặt bên trong của sự vật, hiện tượng được hình thức chứa đựng và biểu hiện”.[45, tr.738] Theo tác giả Lương Khắc Hiếu trong tác
phẩm Cơ sở lý luận công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Nội
dung giáo dục là hệ thống kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, tình cảm, thái độ
mà đối tượng giáo dục cần tiếp nhận, nắm vững để đạt mục đích của hoạt động giáo dục.” [28, tr.154]
Nội dung là toàn bộ các tri thức, kinh nghiệm và cách vận dụng nó vào giải quyết các mối quan hệ của các thành viên trong trường học với nhau và với xã hội một cách chuẩn mực thuộc về lĩnh vực mà hoạt động GDVHKD có nhiệm vụ phải truyền đạt đến sinh viên để tạo nên những nhận thức, thái độm hành vụ cụ thể Nội dung được truyền tải thông qua các hình thức, phương pháp, phương tiện sẽ chuyển hoá thành nhận thức, ý thức, chuẩn mực, kỹ năng được vận dụng vào hoạt động thực tiễn của đối tượng Sự tác động của nội dung biểu hiện ở tính lôgic thực tiễn, đặc biệt là tính ứng dụng của nó trong hoạt động cụ thể, tính thuyết phục, phù hợp với tâm lý, trình độ nhận thức của đối tượng, sao cho đạt được kết quả cao nhất trong hoạt động GDVHKD
Trong GDVHKD, nội dung giáo dục được hình thành từ mục tiêu giáo dục kinh tế, hình thành văn hóa kinh tế Từ những nội dung giáo dục kinh tế, chúng ta sẽ hình thành văn hóa kinh doanh, vận dụng vào GDVHKD cho đối tượng đặc thù là sinh viên ngành kinh tế, nội dung giáo dục này sẽ bao gồm:
Thứ nhất, giáo dục những tri thức kinh tế cần thiết cho sinh viên mà cốt lõi là những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách của Đảng ta về kinh tế, kinh doanh và văn hóa kinh doanh Đây là nội dung cơ bản đầu tiên chúng ta cần phải nhắc đến trong giáo dục văn hóa kinh doanh để đảm bảo mục tiêu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 30Những tri thức kinh tế chính là điều cần thiết và nội dung cơ bản không chỉ trong giáo dục kinh tế mà còn là giáo dục văn hóa kinh doanh để trở thành
“chìa khóa” giúp sinh viên hình thành tư duy kinh tế, tạo tiền đề cho việc đóng góp phát triển kinh tế đất nước thông qua các hoạt động xây dựng kinh tế: mua bán, sản xuất, phân phối,
Trong thời kỳ phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trang bị tri thức kinh tế cần thiết cho sinh viên trước hết là trang bị các nguyên lý, lý luận kinh tế của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng kinh tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh và những tri thức kinh tế tiên tiến của nhân loại: những phát minh khoa học, kỹ thuật, những kiến thức mới về công nghệ, các ngành kinh tế mới phát triển của thế kỷ 21, cách mạng công nghệ lần thứ 4, những quy luật kinh tế đã được áp dụng và chứng tỏ hiệu quả trong thực tiễn Đó sẽ
là những tri thức cốt lõi quan trọng sinh viên cần được chuẩn bị để tiếp tục tiếp nhận các nội dung giáo dục khác
Về phần nội dung giáo dục VHKD cho sinh viên là quan điểm, đường lối, chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước về văn hóa kinh doanh, đây cũng là nội dung rất quan trọng để hình thành văn hóa kinh doanh đúng đắn cho sinh viên ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường
Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều quan điểm, chính sách mới để phát huy quyền tự do kinh doanh, tự chủ của doanh nghiệp, thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam theo hướng mở cửa, tạo điều kiện tối đa để doanh nghiệp Việt được phát huy ưu thế, sở trường Về xây dựng văn hóa trong kinh
tế, Đảng ta chủ trương phát phát triển văn hóa kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp để tạo nên bản sắc văn hóa riêng cho các doanh nghiệp Việt Những nội dung về đường lối, chính sách phát triển kinh tế, phát triển văn hóa kinh doanh của Đảng và Nhà nước sẽ có tác dụng chỉ đạo, định hướng cho tất cả các hoạt động kinh tế của nước ta
Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh, chính sách của Đảng và kinh nghiệm thực tiễn rút ra trong quá trình
Trang 31xây dựng đường lối, chính sách, Nhà nước ta đã thể chế hóa các quan điểm thành những văn bản quy phạm pháp luật, làm khung để điều chỉnh hành vi của các chủ thể kinh doanh, góp phần xây dựng văn hóa kinh doanh Những nội dung này khi được giáo dục cho sinh viên cần liên tục cập nhật mới để sinh viên nắm bắt được các nội dung mới nhất
Thứ hai, giáo dục hệ thống chuẩn mực văn hóa kinh doanh và hệ thống pháp luật về kinh tế cho sinh viên
Nội dung giáo dục chuẩn mực văn hóa kinh doanh sẽ bao gồm giáo dục các hành động đảm bảo thực hiện kinh doanh theo đúng pháp luật của Đảng
và Nhà nước, thực hiện các chuẩn mực đạo đức kinh doanh XHCN, xây dựng các chuẩn mực văn hóa doanh ngiệp bao gồm đồng phục, tác phong, bộ quy tắc, nội quy riêng của mỗi doanh nghiệp; thực hiện đúng văn hóa doanh nghiệp; có ý thức bảo vệ môi trường và đóng góp cho xã hội, chuyên nghiệp
và có tác phòng công nghiệp trong lao động sản xuất,
Ngoài ra, văn hóa kinh doanh gắn liền với vấn đề đạo đức kinh doanh
và văn hóa doanh nghiệp, nên nội dung giáo dục cũng sẽ bao gồm giáo dục các chuẩn mực đạo đức kinh doanh xã hội chủ nghĩa và các nhân tố khác kèm theo, giáo dục sinh viên thực hiện đúng, đủ các hành động thuộc về văn hóa doanh nghiệp Về vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Người sản xuất phải thực thà, sản xuất hàng tốt cho đồng bào dùng, không nên làm hàng trưng bày thì tốt mà hàng bán thì xấu Giá cả phải chăng, không lừa dối người mua Sản xuất phải thiết thực và đúng hướng, đảm bảo nhiều loại hàng tốt và
rẻ cần dùng cho đông đảo nhân dân” [23, tr.72]
Các hoạt động sản xuất kinh doanh có mục đích cốt lõi là lợi nhuận, nhưng văn hóa kinh doanh đòi hỏi lợi nhuận đó phải là sản phẩm được tạo ra bởi các hoạt động kinh tế lành mạnh, chính đáng Để đả bảo các hoạt động kinh doanh chính đáng, chúng ta cũng giáo dục hệ thống pháp luật về kinh tế cho sinh viên.Trong điều kiện hiện nay, mỗi ngành nghề kinh doanh đều có một hệ thống luật đặc thù thì sinh viên theo chuyên ngành nào cần nắm bắt kỹ
Trang 32càng, cẩn thận về pháp luật của ngành nghề kinh doanh đó bên cạnh việc tìm hiểu tổng quan về hệ thống pháp luật về kinh tế
Thứ ba, giáo dục về những tinh hoa văn hóa kinh doanh được đúc kết trong truyền thống dân tộc và những nét đẹp của văn hóa kinh doanh các nước trên thế giới
Theo quan điểm duy vật lịch sử, văn hóa kinh doanh cũng có tính kế thừa trong quá trình hình thành và phát triển Do đó, văn hóa kinh doanh Việt Nam phải được đúc kết từ những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và hấp thu những nét đẹp văn hóa kinh doanh của quốc tế Văn hóa kinh doanh Việt Nam nên được hình thành từ những giá trị chuẩn mực đạo đức kinh doanh truyền thống Việt Nam như giữ đúng chữ tín, không lừa đảo, không kiếm lời từ của phi nghĩa,
Một số nét đẹp văn hóa kinh doanh của các nước có thể đưa vào trong nội dung GDVHKD cho sinh viên ngành kinh tế trong các trường đại học là ý thức đóng góp cho sự phát triển xã hội của quốc gia, giáo dục tố chất làm lãnh đạo, quản lý trong lĩnh vực kinh doanh ngay cho sinh viên; sự uy tín trong kinh doanh; tính trung thực trong kinh doanh,
Thứ tư, nội dung giáo dục VHKD cho sinh viên cần có nội dung giáo dục phương pháp hoạt động kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng
Trang 33luôn năng động, sáng tạo, làm việc hiệu quả để tối ưu khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế
Thứ năm, giáo dục cho sinh viên tính tích cực lao động sản xuất, tuân thủ theo đúng pháp luật kinh tế của Nhà nước
Nội dung giáo dục văn hóa kinh doanh cần đề cao tình yêu lao động, giúp cho sinh viên hình thành tính tích cực, sáng tạo và chủ động trong lao động sản xuất với mục đích là tạo ra thêm của cải cho xã hội, tạo động lực cho sự vận động và phát triển của xã hội Nội dung giáo dục văn hóa kinh doanh cần thể hiện được lợi ích của việc phát triển kinh tế và mục đích của kinh doanh là vừa làm giàu cho bản thân mình, vừa làm giàu cho xã hội và đất nước Trong đó, cũng cần giáo dục sinh viên tuân thủ đúng pháp luật kinh tế của nhà nước, làm việc theo đúng chuẩn mực văn hóa doanh nghiệp, tuân thủ các yêu cầu, tiêu chuẩn về hoạt động doanh nghiệp, có như vậy mới đảm bảo hình thành nên văn hóa kinh doanh cho doanh nghiệp
Thứ sáu, nội dung giáo dục văn hóa kinh doanh cần phải bao gồm tạo cho sinh viên ý thức và tính tích cực chống các hành vi tiêu cực trong kinh doanh, chống diễn biến hòa bình trong lĩnh vực kinh tế Trong quá trình hoạt động kinh doanh, làm việc tại doanh nghiệp, bên cạnh việc tích cực lao động sản xuất, tạo ra của cải cho xã hội, sinh viên cũng cần là người đi đầu đấu tranh xóa bỏ những hiện tượng, hành vi tiêu cực trong kinh doanh Sinh viên cần chủ động tiến hành các hành vi kinh doanh tích cực, tuân thủ đúng pháp luật nhà nước, kiên quyết không tiến hành các hành vi tiêu cực trong kinh doanh,
Trên lĩnh vực kinh tế, diễn biến hòa bình cũng diễn ra nên sinh viên cần nâng cao tính cảnh giác, coi trọng phòng chống các biểu hiện diễn biến hòa bình trong kinh tế, kinh doanh Sinh viên cần nhận thức được các hành vi lôi kéo, gây rối, phá hoại, gây hại về kinh tế của các thế lực thù địch, thế lực phản động để cảnh giác và chủ động phòng chống, tránh bị ảnh hưởng, kiên định tuân thủ pháp luật kinh tế của nhà nước
Trang 341.2.5 Hình thức giáo dục
Để việc giáo dục giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên các trường
đại học mang lại kết quả tích cực thì các trường Đại học vừa có trách nhiệm
giáo dục nâng cao nhận thức cho sinh viên về văn hóa kinh doanh, vừa có trách nhiệm sử dụng các nội dung giáo dục văn hóa kinh doanh để giảng dạy cho sinh viên Vì vậy, hình thức giáo dục được xây dựng cần có sự linh hoạt
và phải phù hợp với văn hóa kinh doanh trong giai đoạn kinh tế thị trường hiện nay
Theo định nghĩa, hình thức giáo dục là các cách thức tổ chức, sắp xếp, phối hợp các hoạt động giữa chủ thể và đối tượng giáo dục theo các bước tiến hành nhất định để đạt được mục đích giáo dục
Trong giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên ngành kinh tế tại các trường đại học, người ta sẽ thường sử dụng các hình thức giáo dục như sau:
- Hình thức cá nhân: trò chuyện đối thoại
- Hình thức nhóm: lớp học, thỉnh giảng, nói chuyện chuyên đề, nói chuyện thời sự, trò chuyện chính sách, hội thi, hội nghị, sinh hoạt Đảng, sinh hoạt Đoàn, Hội sinh viên,
- Hình thức đại chúng: bài báo, bài phát thanh, video clip, khẩu hiệu, tranh cổ động, pano, áp phích,
- Hình thức trực tiếp và gián tiếp: đối thoại, tham quan, lớp học, trò chuyện, tư vấn cá nhân,
Thực tiễn là con đường gắn chặt học với hành trong học tập và rèn luyện những hoạt động của văn hóa kinh doanh Tính bền vững trong kết quả giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên các trường đại học sẽ là kết quả của sự thống nhất biện chứng giữa các hình thức giáo dục trực tiếp và gián tiếp, phối hợp cả giáo dục và tự giáo dục, giáo dục trong nhà trường và ngoài
xã hội
1.2.6 Phương pháp giáo dục
Phương pháp giáo dục là con đường, cách thức mà chủ thể giáo dục
Trang 35văn hóa kinh doanh sử dụng để chuyển tải nội dung đến đối tượng và là cách thứ đối tượng sử dụng để tiếp nhận và lĩnh hội nội dung Sự tác động của phương pháp đến hiệu quả giáo dục ở chỗ nếu phương pháp đa dạng, phong phú sẽ tạo ra các phản ứng dây chuyền thông qua từng mối quan hệ mà tác động nhiều tầng, nhiều lớp đến đối tượng tập trung vào mục đích chính là giáo dục, qua đó hiệu quả giáo dục sẽ cao Sự phong phú, đa dạng của phương pháp, còn tác động đến lý trí của đối tượng, sẽ kết hợp được tính tự nguyện và tính định hướng trong GDVHKD
Ngoài ra, tính đa dạng, phong phú của phương pháp còn phát huy được sức mạnh tổng hợp của các nguồn lực trong GDVHKD, cho phép thực hiện linh hoạt ở các không gian, thời gian khác nhau, tận dụng được những thành tựu, tiến bộ của khoa học công nghệ vào công tác GDVHKD Có thể khẳng định: phương pháp giáo dục là những nhân tố trực tiếp tạo nên chất lượng, hiệu quả của công tác giáo dục VHKD cho sinh viên trong trường đại học
Dựa trên những phương pháp giáo dục kinh tế nói chung, chúng ta có thể phân chia các loại phương pháp GDVHKD như sau:
- Căn cứ vào cách sử dụng phương tiện: nhóm phương pháp dùng lời nói, nhóm phương pháp trực quan, nhóm phương pháp thực tiễn
- Căn cứ vào cách tổ chức đối tượng giáo dục sẽ có giáo dục theo cá nhân và giáo dục theo nhóm
- Căn cứ vào tính chất của các biện pháp tác động có phương pháp thuyết phục, phương trực quan và phương pháp nêu gương
- Căn cứ vào tính chất tiên tiến của phương pháp có phương pháp truyền thống và phương pháp hiện đại, phương pháp thụ động và phương pháp tích cực,
Dựa trên những đặc điểm của đối tượng giáo dục là sinh viên chuyên ngành kinh tế và bối cảnh diễn ra hoạt động giáo dục văn hóa kinh doanh chủ yếu là các trường đại học, các phương pháp giáo dục VHKD sẽ bao gồm:
Trang 36- Về nhóm phương pháp giáo dục dùng lời nói: phương pháp thuyết giảng, phương pháp thuyết trình, phương pháp hỏi – đáp,
- Về nhóm phương pháp giáo dục trực quan và nêu gương: sử dụng các phương tiện như tranh ảnh, áp phích, pano, video clip câu chuyện văn hóa kinh doanh, sử dụng các phương tiện in ấn như sách, báo in, sử dụng các câu chuyện văn hóa kinh doanh điển hình; các doanh nghiệp đã xây dựng được văn hóa doanh nghiệp,
- Về nhóm phương pháp thực tiễn: thông qua các hoạt động tham quan thực tế tại doanh nghiệp, lắng nghe thông tin về các doanh nghiệp điển hình cho phát triển văn hóa kinh doanh,
- Về nhóm phương pháp giáo dục cá nhân và giáo dục nhóm: phương pháp tư vấn cá nhân, thuyết trình, giảng giải, tọa đàm về văn hóa kinh doanh, phương pháp thảo luận, tham quan,
1.2.7 Kết quả giáo dục
Mục đích chung của giáo dục văn hóa kinh doanh cũng góp phần phục
vụ mục đích giáo dục kinh tế, với mục tiêu về kết quả giáo dục VHKD cho sinh viên ngành kinh tế trước hết là ở ba cấp độ: nhận thức, tình cảm và hành
vi của mỗi cá nhân
Theo đó, kết quả giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên sẽ được thể hiện qua các tiêu chí sau:
- Tri thức về kinh doanh: Sinh viên cần nắm được những tri thức kinh
doanh cần thiết bao gồm tri thức về kinh tế và kinh doanh Tri thức kinh tế mà sinh viên cần ghi nhớ là những nguyên lý, lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế; những quan điểm, đường lối, chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước Các tri thức kinh doanh bao gồm những kiến thức kinh doanh cũng như kiến thức quản trị kinh doanh cơ bản để có thể tham gia các hoạt động kinh doanh, các tri thức về văn hóa kinh doanh, đặc biệt là các quan điểm, đường lối phát triển văn hóa kinh doanh; pháp luật quy
Trang 37định về văn hóa kinh doanh cho doanh nghiệp Sinh viên cũng cần có sự hiểu biết nhất định về thực hiện văn hóa kinh doanh tại các doanh nghiệp hiện nay thông qua các kênh thu thập thông tin, từ đó củng cố niềm tin và hành động theo đúng chuẩn mực văn hóa kinh doanh và đạo đức kinh doanh
- Tình cảm kinh doanh: Một trong những mục đích cốt lõi của việc giáo
dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên là xây dựng niềm tin kinh doanh Kết quả cụ thể trước hết chính là tình cảm kinh doanh Sinh viên cần có sự tận tâm, nhiệt huyết khi tham gia các hoạt động kinh doanh, có động lực tham gia các hoạt động kinh tế hoặc tự khởi nghiệp kinh doanh Sinh viên cần xây dựng được sự quan tâm đến việc thực hiện văn hóa kinh doanh trong các doanh nghiệp, ngay kể cả khi sinh viên vẫn chỉ đang làm việc bán thời gian, chưa chuyên trách, Ngoài ra, sinh viên cũng cần xây dựng được niềm tin vào định hướng và chính sách của Đảng để thực hiện công việc kinh doanh theo đúng đường lối, chính sách và pháp luật
- Tính tích cực tham gia và các hoạt động kinh doanh: Sau khi nhận
thức tri thức kinh doanh và bồi dưỡng tình cảm kinh doanh, sinh viên cần cụ thể thành các hành động Đầu tiên là việc tích cực tham gia các hoạt động kinh doanh, đóng góp cho kinh tế đất nước và tạo ra lợi ích cho cộng đồng xã hội Sinh viên cần tích cực nâng cao năng lực, kỹ năng làm việc để vừa đem
về lợi nhuận trực tiếp cho doanh nghiệp, vừa gián tiếp tạo ra của cải, lợi ích cho cộng đồng xã hội, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển Tiếp theo là sinh viên cần tuân thủ đúng luật pháp về kinh tế và kinh doanh của Nhà nước, thực hiện đầy đủ các chuẩn mực văn hóa kinh doanh và đạo đức kinh doanh; tích cực, chủ động, tự giác thực hiện các hành động văn hóa kinh doanh và đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực trong hoạt động sản xuất kinh doanh, vi
phạm chuẩn mực văn hóa kinh doanh của các doanh nghiệp
Ngoài ra, việc sử dụng các nguồn lực và chi phí trong hoạt động giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên bao gồm nhân lực, tài chính, phương
Trang 38tiện và cơ sở vật chất, thời gian giáo dục cũng là những tiêu chí để đánh giá kết quá GDVHKD cho sinh viên ngành kinh tế trong các trường đại học
1.3 Sự cần thiết phải giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên ngành kinh tế ở các trường đại học ở Việt Nam hiện nay
1.3.1 Tầm quan trọng của văn hóa kinh doanh trong định hướng phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Hiện nay, nước ta đang chủ trương chuyển từ nền kinh tế quản lý tâp trung sang một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự định hướng, quản lý của Nhà nước Chúng ta đã đưa ra khái niệm “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” để đặt tên cho mô hình kinh tế này Theo Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta được định nghĩa như sau “là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước, là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chr, công bằng, văn minh” Để bảo đảm hoàn thành tốt mục tiêu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN tại Việt Nam, chúng ta không chỉ cần phát huy những mặt tích cực của nền kinh tế thị trường, mà còn cần ngăn chặn những mặt trái của nền kinh tế thị trường
Bên cạnh những mặt tích cực như phát triển kinh tế, gia tăng động lực lao động sản xuất, cạnh tranh công bằng trong xã hội, nền kinh tế thị trường đang phát triển cũng bộc lộ nhiều mặt trái, điển hình là sự phân hóa giàu nghèo làm sâu sắc thêm những mâu thuẫn xã hội, đặt lợi nhuận và lợi ích cá nhân lên hàng đầu, nảy sinh tâm lý sùng bái đồng tiền trong xã hội, Tâm lý này sẽ khiến cho con người ta trở nên tham lam, vì quá coi trọng lợi ích vật chất mà trở nên suy thoái, suy đồi về đạo đức, vì sự giàu có của cá nhân mà
Trang 39sẵn sàng chà đạp lên lợi ích của cộng đồng Biểu hiện của mặt trái nền kinh tế thị trường trong kinh tế chính là những hoạt động cạnh tranh không lành mạnh, làm giàu bất chính, vi phạm pháp luật kinh tế, vì lợi ích cá nhân mà sẵn sàng chà đạp lên lợi ích của cộng đồng
Văn hóa kinh doanh sẽ góp phần khắc phục những biểu hiện mặt trái, tiêu cực của kinh tế thị trường Bởi lẽ, văn hóa kinh doanh với những giá trị, chuẩn mực nhất định sẽ chi phối hoạt động kinh doanh của các chủ thể kinh
tế, định hướng và điều chỉnh các hoạt động này không chỉ đơn thuần chạy theo lợi ích cá nhân mà luôn hướng đến việc dung hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng, mang đến lợi nhuận trên cơ sở đóng góp cho cộng đồng xã hội, mang đến những sản phẩm chất lượng cho người tiêu dùng
Văn hóa kinh doanh giúp doanh nghiệp luôn biết tôn trọng lợi ích của người tiêu dùng, cam kết cung cấp sản phẩm có chất lượng tốt, an toàn, không bao giờ tìm cách kiếm lời bằng việc làm hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng ảnh hưởng tiêu cực đến lợi ích, thậm chí sức khỏe của người tiêu dùng Khi làm thiệt hại đến quyền lợi người tiêu dùng, một doanh nghiệp có văn hóa kinh doanh luôn biết xin lỗi và bồi thường thỏa đáng Một doanh nghiệp có VHKD cũng luôn luôn tôn trọng lợi ích của người lao động, thực hiện đầy đủ các chế độ về lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và đảm bảo những điều kiện làm việc tốt nhất cho nhân viên, thậm chí còn có chế độ khen thưởng hợp
lý đối với những người mang lại nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp Một doanh nghiệp có VHKD không làm giàu trên sự bóc lột sức lao động của những người lao động, mà trên cơ sở đảm bảo lợi ích tương xứng với công sức mà người lao động đã bỏ ra, để khuyến khích sự sáng tạo và lòng trung thành của họ đối với sự phát triển của công ty Do đó, VHKD sẽ góp phần hạn chế được mặt trái của nền kinh tế thị trường, san giảm sự phân cách giàu nghèo của các giai tầng trong xã hội Sự lớn mạnh của các doanh nghiệp sẽ giúp nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người lao động trong doanh nghiệp Như vậy, rõ ràng văn hóa kinh doanh sẽ góp phần điều chỉnh hoạt
Trang 40động kinh doanh của các doanh nghiệp để hoạt động này không đơn thuần chạy theo lợi ích vật chất của cá nhân, các chủ kinh doanh mà luôn biết hài hòa giữa lợi ích doanh nghiệp và lợi ích cộng đồng
Việc phát triển VHKD góp phần thúc đẩy nền kinh tế thị trường tăng trưởng mạnh mẽ Bởi lẽ, văn hóa kinh doanh trái ngược với lối làm ăn chụp giật, chỉ biết ngắn hạn, chấp nhận thu được lợi nhuận trước mắt, bất chấp cả việc mất uy tín và thương hiệu vì làm tổn hại đến lợi ích của người tiêu dùng Văn hóa kinh doanh với một chiến lược, tầm nhìn kinh doanh dài hạn, luôn lấy việc phục vụ lợi ích của khách hàng, mang lại các giá trị ngày càng cao cho khách hàng trong các sản phẩm, dịch vụ của mình làm mục tiêu số một sẽ giúp doanh nghiệp phát triển ngày càng bền vững hơn Một doanh nghiệp có văn hóa kinh doanh mới xây dựng được những thương hiệu mạnh, có uy tín
và tầm cỡ quốc gia và quốc tế, tạo ra sự phát triển lâu dài Trong bối cảnh cạnh tranh kinh tế gay gắt toàn cầu hiện nay, chỉ có cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm và chăm sóc khách hàng mới tạo nên sự phát triển ổn định VHKD thúc đẩy sự phát triển ổn định và bền vững vì nó luôn biết hài hòa lợi ích giữa chủ doanh nghiệp và người lao động, từ đó khuyến khích người lao động hăng say làm việc và nâng cao chất lượng lao động vì sự phát triển của doanh nghiệp Những doanh nghiệp làm giàu bằng sự bóc lột sức lao động của người lao động sẽ chỉ thu được lợi nhuận trước mắt mà không thể phát triển lâu dài
Như vậy, văn hóa kinh doanh đóng vai trò rất quan trọng trong việc định hướng phát triển nền kinh tế Việt Nam theo kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Vì vậy, đây là nội dung quan trọng cần được đưa vào chương trình giảng dạy cho sinh viên ngành kinh tế - đối tượng quan trọng tham gia đóng góp xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường
1.3.2 Giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên ngành kinh tế góp phần hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc giáo dục văn hóa kinh doanh cho sinh viên chuyên nghành kinh tế