Untitled ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP TRƢỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ ĐỒNG THÁP GIÁO TRÌNH MÔN HỌC TÂM LÝ KINH DOANH NGÀNH, NGHỀ QUẢN TRỊ BÁN HÀNG TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG (Ban hành kèm theo Quyết định số /QĐ TCĐCN Đ[.]
KHÁI QUÁT VỀ TÂM LÝ HỌC
Tâm lý là gì?
Trong đời sống hàng ngày, nhiều người chỉ nhìn nhận tâm lý là ý muốn, nguyện vọng, hoặc cách xử lý tình huống của mỗi người, thậm chí còn coi đó là khả năng chinh phục đối tượng Tuy nhiên, thực tế, tâm lý con người không chỉ đơn thuần là những mong muốn hay nhu cầu, mà còn bao gồm vô vàn các hiện tượng phức tạp khác Tâm lý luôn gắn liền với hoạt động của con người và thể hiện ở mọi lúc, mọi nơi, cả khi thức và khi ngủ.
Khi nhận thức về các sự vật và hiện tượng xung quanh, chúng ta thường phản ứng bằng các thái độ khác nhau Những phản ứng này tạo nên các cảm xúc như buồn rầu, vui sướng, đau khổ hoặc tức giận, chính là biểu hiện của tình cảm con người Tình cảm đóng vai trò quan trọng trong cách chúng ta trải nghiệm và đối mặt với đời sống hàng ngày.
Trong quá trình hoạt động, chúng ta thường gặp phải những khó khăn và trở ngại gây hao tổn năng lượng, thậm chí có thể dẫn đến đau khổ hoặc nguy hiểm đến tính mạng Tuy nhiên, một hiện tượng tâm lý quan trọng xuất hiện chính là hoạt động ý chí, giúp chúng ta vượt qua thử thách và đạt được mục tiêu mong muốn Hoạt động ý chí đóng vai trò then chốt trong khả năng chống chọi và vượt qua những khó khăn trong cuộc sống.
Ý thức và tự ý thức là những hiện tượng tâm lý cao cấp giúp con người phản ánh thế giới xung quanh cũng như chính bản thân mình, từ đó nhận biết và đánh giá hành vi, thái độ, cảm xúc, đạo đức, tài năng cũng như vị trí và trách nhiệm của chính mình Nhờ có ý thức và tự ý thức, nhân cách hình thành và phát triển, đóng vai trò quan trọng trong việc xác định giá trị và định hướng cho con người trong cuộc sống.
Tâm lý là hiện tượng tinh thần xảy ra trong đầu óc con người, điều hành mọi hoạt động và hành động Nó bao gồm nhận thức, trí tuệ, cảm xúc, tình cảm, ý chí, tính cách, ý thức và tự ý thức, cũng như nhu cầu, năng lực, động cơ hành vi, hứng thú, khả năng sáng tạo và lao động Những hiện tượng này hình thành 4 lĩnh vực tâm lý cơ bản của con người: nhận thức, tình cảm - ý chí, giao tiếp và nhân cách, góp phần tạo nên bản chất tâm lý đa dạng và phức tạp của con người.
Chức năng của hiện tượng tâm lý
Hiện tƣợng tâm lý có những chức năng sau:
Chức năng nhận thức của tâm lý giúp con người nhận biết thế giới khách quan, từ đó phân tích và đánh giá các sự vật, hiện tượng xảy ra xung quanh Đây là quá trình chủ đạo giúp con người hiểu rõ môi trường và tạo ra các phản ứng thích hợp Nhờ đó, tâm lý đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành kiến thức, phát triển tư duy và nâng cao khả năng thích nghi với cuộc sống hàng ngày.
Tâm lý đóng vai trò quan trọng trong việc giúp con người định hướng hành động ngay từ khi bắt đầu hoạt động Khi một người bắt đầu, các nhu cầu xuất hiện, kéo theo đó là sự nảy sinh của động cơ và mục đích hành động Những động cơ này có thể xuất phát từ các lý tưởng, niềm tin, hoặc giá trị như lương tâm, danh dự, danh vọng, tài lộc; hoặc từ những tình cảm, tư tưởng, khái niệm, biểu tượng hay thậm chí là kỷ niệm và ảo tưởng.
Tâm lý thực hiện chức năng đóng vai trò là động lực thúc đẩy hành động hoạt động của con người Thông thường, động lực này bắt nguồn từ những cảm xúc nhất định như đam mê, tình yêu hay căm thù, giúp kích thích hoạt động hàng ngày Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, động lực còn xuất phát từ các hiện tượng tâm lý phức tạp hơn, đi kèm với cảm xúc như biểu tượng của tưởng tượng, ám thị, cảm giác hụt hẫng hoặc ấm ức Hiểu rõ vai trò của tâm lý thực hiện chức năng giúp ta nhận diện rõ hơn các yếu tố thúc đẩy hành vi của con người trong cuộc sống.
Tâm lý điều khiển kiểm soát quá trình hoạt động bằng một mẫu hình, chương trình, kế hoạch, phương thức hay một cách thức, thao tác
Tâm lý giúp con người điều chỉnh hoạt động của mình nhờ vào khả năng ghi nhớ và phân tích, so sánh thông tin Nhờ đó, chúng ta có thể phản ứng linh hoạt và thích nghi với các tình huống khác nhau trong cuộc sống Trí nhớ và khả năng phân tích đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện hiệu quả hoạt động hàng ngày của mỗi người.
Tâm lý đóng vai trò quan trọng trong việc giao tiếp và quản lý con người, vì hiểu rõ đặc điểm tâm lý giúp nhà quản lý tác động phù hợp theo quy luật tâm lý của đối tượng Việc nắm vững kiến thức tâm lý là yếu tố then chốt để đạt hiệu quả cao trong lao động sản xuất, hoạt động và quản lý xã hội Thấu hiểu tâm lý con người giúp nâng cao khả năng quản lý, tạo điều kiện thúc đẩy sự hợp tác, phát triển và thành công trong công việc.
Đặc điểm chung của các hiện tượng tâm lý
Các hiện tƣợng tâm lý có một sốđặc điểm cơ bản chung sau đây:
Tâm lý là hiện tượng phong phú, phức tạp và đầy bí ẩn, mang tính tiềm tàng và gần gũi trong cuộc sống hàng ngày Nó là "Thế giới bên trong" vô cùng hấp dẫn, kỳ diệu, thậm chí kỳ lạ và huyền bí, đến mức từng được coi là hiện tượng thần linh không thể giải thích nổi Do chưa hiểu rõ bản chất thực sự của tâm lý con người, nhiều người đã dẫn đến các hiện tượng thần bí hóa, mê tín dị đoan hoặc phủ nhận hoàn toàn các hiện tượng tâm lý phức tạp, gây ra những hành động phi nhân tính.
Trong thực tế, đã ghi nhận nhiều trường hợp có khả năng ngoại cảm như thấu thị và ảnh hưởng từ xa bằng ý chí, cũng như khả năng hấp dẫn đồ vật Những hiện tượng này cho thấy tính tiềm tàng và phức tạp của bộ não con người, khiến lĩnh vực tâm lý trở nên đa dạng và khó hiểu hơn bao giờ hết.
- Các hiện tƣợng tâm lý quan hệ với nhau rất chặt chẽ
Các hiện tƣợng tâm lý tuy phong phú, đa dạng nhƣng chúng không tách rời nhau, mà chúng tác động, ảnh hưởng, chi phối lẫn nhau
Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta có thể cảm nhận rõ sự tác động lẫn nhau giữa lĩnh vực tâm lý – nhận thức và cảm xúc; khi nhận xét hay đánh giá một người, cảm xúc của chúng ta thường chi phối cách nhìn nhận đó Hiện tượng “yêu nên tốt, ghét nên xấu” thể hiện rõ mối liên hệ giữa cảm xúc và nhận thức trong cách chúng ta đánh giá người khác, đặc biệt trong công việc, các nhà quản trị cần lưu ý để tránh những nhận xét sai lệch do cảm xúc cá nhân Ngoài ra, các cảm xúc trong con người cũng liên quan chặt chẽ với nhau, như câu “Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm” thể hiện sự tác động qua lại giữa thị giác, cảm giác cơ thể và vị giác, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống hàng ngày.
Tâm lý là hiện tượng tinh thần tồn tại trong đầu óc con người, không thể nhìn thấy, sờ vào, cân đo trực tiếp như các hiện tượng vật chất Tuy nhiên, tâm lý thể hiện rõ qua hoạt động, hành vi, cử chỉ, nét mặt của mỗi người, giúp chúng ta có thể nghiên cứu và phân tích tâm lý thông qua quan sát các hành vi và các biểu hiện bên ngoài.
Tình cảm của một người không thể đo lường bằng cân nặng hay độ dài, vì nó là vô hình, vô sắc và tinh thần Tuy nhiên, chúng ta có thể nhận biết mức độ sâu đậm của tình cảm qua ánh mắt, cử chỉ và hành vi biểu cảm khi tiếp xúc Đồng thời, khi tìm hiểu tâm lý của người khác, cần lưu ý rằng biểu hiện bên ngoài không luôn phản ánh chính xác nội tâm bên trong, vì có người bên ngoài vui vẻ, nhưng trong thực tế lại có những ý định đen tối; cũng có người nói nhỏ nhẹ, nhưng nội tâm lại phức tạp và mâu thuẫn Do đó, việc phân tích tâm lý người khác đòi hỏi sự cẩn trọng để tránh bị vẻ ngoài đánh lừa.
Các hiện tượng tâm lý có sức mạnh to lớn trong đời sống con người, có thể giúp chúng ta trở nên khỏe mạnh hơn, sung sức hơn và hiệu quả hơn Tuy nhiên, tâm lý cũng có thể khiến chúng ta trở nên yếu đuối, nhược đi và mất hết sức lực, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe và tinh thần.
Khi đánh giá sức mạnh của một người, chúng ta không chỉ chú ý đến thể lực mà còn xem xét khả năng ổn định tâm lý của anh ấy Tâm lý vững vàng giúp họ huy động được sức mạnh tiềm tàng trong những tình huống khó khăn, góp phần nâng cao thành tích và sức bền vượt qua thử thách.
Ngược lại, khả năng ổn định tâm lý yếu khiến khi gặp các tình huống bất trắc, người đó trở nên yếu đuối và mất đi hiệu quả trong xử lý công việc Tâm lý vững vàng đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì khả năng phản ứng tích cực trước những thử thách Khi thiếu khả năng kiểm soát cảm xúc, hiệu quả làm việc bị giảm sút rõ rệt, ảnh hưởng tiêu cực đến thành công cá nhân và nghề nghiệp Do đó, phát triển khả năng duy trì tâm lý ổn định là yếu tố then chốt giúp đối phó tốt hơn với áp lực và khó khăn trong cuộc sống.
Từ những đặc điểm trên của các hiện tƣợng tâm lý, trong cuộc sống cũng nhƣ trong hoạt đọng quản trị cần chú ý:
* Không nên phủ nhận sạch trơn những hiện tƣợng tâm lý phức tạp, khó hiểu, mà cần phải để ý, nghiên cứu chúng một cách thận trọng và khoa học
* Chống các hiện tượng mê tín, dị đoan, hoặc tin tưởng quá vào những hiện tượng
“thần linh” để rồi thần bí hóa chúng dẫn đến sai lầm, gây hậu quả khó lường cho cá nhân và xã hội
Khi đánh giá một người, chúng ta cần tập trung vào bản chất thật sự của họ thay vì dựa vào vẻ ngoài bên ngoài một cách sơ sài Việc đánh giá dựa trên phẩm chất bên trong giúp tránh những nhận định sai lệch và đưa ra nhiều quyết định chính xác hơn Đây là cách để hiểu rõ hơn về nhân phẩm và giá trị thực sự của mỗi người trong cuộc sống.
Để nâng cao hiệu quả làm việc nhóm, cần tạo ra những hiện tượng tâm lý tích cực và xây dựng một bầu không khí tâm lý thoải mái trong tập thể Điều này giúp nâng cao tinh thần và sức mạnh vật chất của các thành viên, từ đó đóng góp vào việc tăng năng suất lao động và hiệu quả hoạt động của tập thể một cách bền vững.
Phân loại các hiện tượng tâm lý
Hiện tượng tâm lý có thể được phân chia thành hiện tượng tâm lý cá nhân và tâm lý xã hội, trong đó tâm lý cá nhân phản ánh hoạt động của mỗi người dựa trên thực tế khách quan; còn tâm lý xã hội xuất hiện khi nhiều người tham gia cùng lúc, điều hành các hành động tương tự và phản ánh hiện thực chung của cộng đồng Các hiện tượng tâm lý xã hội như phong tục, tập quán, dư luận xã hội, lực áp lực nhóm và lây lan tâm lý đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và duy trì đời sống cộng đồng Nhà quản trị cần chú ý đến các hiện tượng này để hiểu rõ tâm lý xã hội trong tập thể và điều chỉnh phù hợp.
Trong tâm lý học, người ta thường phân biệt giữa tâm lý dưới phương diện chức năng, là sự vận động và quá trình diễn ra liên tục, và tâm lý dưới phương diện cấu tạo, xem như một sản phẩm hoặc cấu trúc cố định Ví dụ, tâm lý như là quá trình hoạt động giúp hiểu rõ các phản ứng tâm lý trong cuộc sống hàng ngày, trong khi đó, tâm lý như là cấu trúc thể hiện các thành phần cố định của nhân cách hoặc trí tuệ Việc phân biệt này giúp nghiên cứu tâm lý một cách toàn diện hơn, từ đó nâng cao hiệu quả trong các hoạt động ứng dụng và điều trị tâm lý.
Tư duy là một quá trình và chức năng tâm lý quan trọng trong việc hình thành các cấu tạo tâm lý như khái niệm, phán đoán, suy nghĩ và ý nghĩ Nó là một dạng vận động tinh thần giúp người diễn đạt và xử lý thông tin một cách logic và sáng tạo Tưởng tượng cũng là một quá trình và chức năng của tâm lý, thể hiện qua khả năng hình thành hình ảnh, ý tưởng mới, ước mơ, sáng chế và phát minh, góp phần thúc đẩy sự phát triển và đổi mới trong tư duy.
*Căn cứ vào sự diễn biến và thời gian tồn tại của các hiện tƣợng tâm lý, ta chia chúng ra làm 3 loại chính sau đây:
Các quá trình tâm lý là những hiện tượng diễn ra trong thời gian ngắn, có mở đầu, diễn biến và kết thúc, như quá trình nhận thức, cảm xúc, ý chí, giao tiếp, bắt chước và lây lan tâm lý Những quá trình này là nguồn gốc của tất cả đời sống tâm lý cá nhân và tập thể, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển và vận hành của tâm lý con người.
Các trạng thái tâm lý là những hiện tượng diễn ra trong thời gian tương đối dài, thường đi kèm và chi phối các quá trình tâm lý như trạng thái chú ý, tâm trạng, trạng thái do dự, nghi ngờ, cũng như tâm trạng tập thể và bầu không khí tâm lý nhóm.
Các thuộc tính tâm lý là những hiện tượng tâm lý đã trở nên ổn định và bền vững, góp phần tạo nên nét đặc trưng riêng của chủ thể mang hiện tượng đó Chúng chi phối các quá trình và trạng thái tâm lý, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành tâm lý cá nhân và ảnh hưởng đến hành vi người dùng Hiểu rõ các thuộc tính tâm lý giúp tối ưu hóa nội dung theo các yếu tố tâm lý của người đọc, nâng cao hiệu quả truyền tải thông điệp.
Các thuộc tính tâm lý như tính cách, tình cảm, quan điểm, lý tưởng, phong tục tập quán và truyền thống thường hình thành và duy trì trong thời gian dài, góp phần định hình bản sắc cá nhân và cộng đồng Những đặc điểm này có khả năng tồn tại lâu dài và ảnh hưởng sâu sắc đến hành vi cũng như các quyết định của mỗi người Do đó, hiểu rõ các yếu tố tâm lý lâu dài này giúp xây dựng chiến lược phát triển cá nhân và tổ chức một cách bền vững.
*Căn cứ vào sự tham gia của ý thức, ta có thể chia các hiện tƣợng tâm lý ra làm 2 loại lớn sau đây:
Hiện tượng tâm lý có ý thức là những trạng thái tâm lý mà con người nhận biết và kiểm soát rõ ràng về mặt ý thức, có tính chủ đích và dự tính trước Trong đời sống hàng ngày, hầu hết các hiện tượng tâm lý của người trưởng thành đều diễn ra với sự tham gia của ý thức, ảnh hưởng lớn đến hành vi, lời nói và cử chỉ của họ Nhờ có ý thức, hoạt động tâm lý của con người trở nên có thể điều chỉnh, khác biệt rõ rệt so với các loài vật chỉ vận động theo bản năng tự nhiên.
Hiện tượng tâm lý không ý thức (vô thức) là những trạng thái xảy ra mà không có sự tham gia hoặc nhận thức của con người, ví dụ như các hiện tượng tâm lý mang tính chất bệnh lý như hoang tưởng, ảo giác, bệnh tâm thần hoặc các hành vi sai lệch trong lúc say rượu.
+ Những hiện tƣợng tâm lý xảy ra trong trạng thái ức chế của hệ thần kinh nhƣ: mơ, mộng du, thôi miên
+ Những hiện tượng xuất phát từ bản năng, nhưng ở con người loại này đã được ý thức hóa một phần nhƣ Chớp mắt, ngủ gật, ngáp
Tiềm thức là các hiện tượng ban đầu có ý thức nhưng sau đó không tiếp tục được lặp lại, khiến ý thức dần “ẩn” đi và “lặn sâu” vào bên trong tâm trí Nó thể hiện qua các thói quen và kỷ xảo, những hành động tự nhiên, không còn rõ ràng ý thức kiểm soát, góp phần hình thành nên các phản xạ tự nhiên trong cuộc sống hàng ngày.
Hiện tượng vụt sáng là sự xuất hiện bất ngờ của những ý tưởng đột phá mà chúng ta không ngờ tới, có vai trò quan trọng trong lĩnh vực sáng tạo Ví dụ điển hình là ý tưởng vụt sáng của Acsimete về quy luật sức đẩy của nước và của Mendelep về bảng hệ thống tuần hoàn, nhằm minh chứng cách những ý tưởng đột phá góp phần thúc đẩy sự phát triển của khoa học.
Trong đời sống tâm lý con người, lĩnh vực ý thức đóng vai trò chủ đạo trong việc điều khiển hành vi và phản ứng hàng ngày Tuy nhiên, các hiện tượng vô thức cũng đóng một vai trò quan trọng, tham gia vào quá trình điều chỉnh hành vi và ảnh hưởng đến tâm lý một cách ít rõ ràng Mối quan hệ giữa ý thức và vô thức là mối quan hệ biện chứng, chuyển hóa và bổ sung lẫn nhau, giúp tâm lý duy trì sự cân bằng và hoạt động tối ưu mà không bị quá tải.
1.2 TÂM LÝ HỌC VÀ TÂM LÝ HỌC TRONG KD
Tâm lý học là một ngành khoa học nghiên cứu về các hiện tượng tâm lý, quy luật phát sinh và phát triển của chúng trong đời sống hàng ngày Nó tập trung phân tích cơ chế hình thành và diễn biến của các trạng thái tâm lý, giúp hiểu rõ hơn về quá trình tâm lý của con người Đối tượng chính của tâm lý học là các hiện tượng tâm lý như cảm xúc, tư duy, hành vi, giúp phục vụ việc phát triển con người và cải thiện chất lượng cuộc sống.
Các hiện tượng tâm lý của con người bao gồm các quá trình, trạng thái và thuộc tính đa dạng, diễn ra ở cả mức ý thức lẫn vô thức Chúng phản ánh các đặc điểm tâm lý cá nhân và xã hội, thể hiện sự phức tạp và đa dạng của đời sống tâm thần con người.
Các quy luật nảy sinh, biểu hiện và phát triển của các hiện tượng tâm lý xuất phát từ cơ sở sinh lý thần kinh, bao gồm cơ chế hình thành các hiện tượng này trong não bộ Hiểu rõ các quy luật này giúp xác định quá trình phát triển và biến đổi của các hiện tượng tâm lý trong cuộc sống hàng ngày Cơ sở sinh lý thần kinh đóng vai trò then chốt trong việc giải thích cách các hiện tượng tâm lý xuất hiện, biến đổi và duy trì theo thời gian.
Với nội dung nghiên cứu trên, tâm lý học đặt ra cho mình những hiện nhiệm vụ cơ bản nhƣ:
- Làm rõ những yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến sự hình thành đời sống tâm lý con người
- Mô tả và nhận diện các hiện tƣợng tâm lý
- Làm rõ mối quan hệ, liên hệ qua lại giữa các hiện tƣợng tâm lý
SƠ LƢỢC VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TÂM LÝ HỌC KD
1.3.1 Vài nét về lịch sử hình thành của khoa học tâm lý
Lịch sử phát triển của các tư tưởng tâm lý học đã gắn liền với cuộc đấu tranh nguyên thủy giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Trong quá trình hình thành và phát triển, các học thuyết tâm lý học đã phản ánh rõ nét sự xung đột giữa quan điểm vật chất và ý thức, góp phần làm rõ sự đa dạng trong tư duy triết học Sự phát triển của các tư tưởng này không chỉ thể hiện sự tiến bộ trong nghiên cứu tâm lý mà còn phản ánh cuộc tranh luận triết học lâu dài về bản chất của thực tại và ý nghĩa của tâm trí con người.
Trong thời cổ đại, Democrite (460-370 TCN) đại diện cho trường phái duy vật, cho rằng các hiện tượng tâm lý bắt nguồn từ các yếu tố tự nhiên như lửa, khí và nước, đồng thời cho rằng thế giới tâm lý tuân theo các quy luật của thế giới vật chất Ngược lại, Plato (428-318 TCN) đại diện cho trường phái duy tâm, tin rằng tư tưởng và tâm lý tồn tại trước thực tại vật chất, và phụ thuộc vào Thượng đế chứ không phải vào con người hay thế giới xung quanh Các nhà duy vật cổ đại tìm kiếm nền tảng cơ sở của tâm lý trong các yếu tố tự nhiên, trong khi các nhà duy tâm nhấn mạnh vai trò của ý thức và thế giới siêu nhiên trong sự tồn tại của tâm lý.
Arixtote, học trò của Platon, đã phê phán những tư tưởng duy tâm phản khoa học và là tác giả của tác phẩm nổi bật "Bàn về tâm hồn", trong đó ông trình bày quan điểm tiến bộ về mối quan hệ giữa tâm lý và thế giới xung quanh, nhấn mạnh rằng tâm lý phụ thuộc vào con người và tự nhiên, xã hội Đến nửa đầu thế kỷ XVII, nền psychology khoa học ghi nhận bước tiến quan trọng với phát kiến phản xạ của Decac, mặc dù ông ủng hộ thuyết nhị nguyên luận đáng chê trách Trong giai đoạn này, nhiều học thuyết mới xuất hiện như “Tâm lý học kinh nghiệm” của J Lov và “Tâm lý học duy vật máy móc” của Didro, góp phần phát triển nền tảng của tâm lý học hiện đại.
Mặc dù tên gọi “Tâm lý học” đã xuất hiện từ năm 1732 trong cuốn “Tâm lý học kinh nghiệm” của Volf (Đức), nhưng tâm lý học vẫn chỉ là một nhánh của triết học trong thời gian đó Chỉ đến năm 1879, nhà tâm lý học Vung (Đức) thành lập phòng thí nghiệm tâm lý đầu tiên trên thế giới, tiền đề cho việc phát triển tâm lý học thành một môn khoa học độc lập.
Trong thập kỷ đầu của thế kỷ XX, đã xuất hiện ba trường phái tâm lý học khách quan quan trọng, bao gồm "Tâm lý học hành vi" của Watson (1878-1958) và "Tâm lý học cấu trúc" Những trường phái này đã định hình lại cách nghiên cứu tâm lý học dựa trên các phương pháp khách quan và khoa học Trong đó, "Tâm lý học hành vi" nhấn mạnh phát triển dựa trên hành động quan sát được và ứng dụng các nguyên tắc học hành để phân tích hành vi con người Đồng thời, "Tâm lý học cấu trúc" tập trung vào phân tích cấu trúc của ý thức và trải nghiệm con người, góp phần làm rõ các yếu tố xây dựng tâm lý Các trường phái này đã đóng vai trò nền tảng trong sự phát triển của tâm lý học hiện đại và ảnh hưởng lớn đến các nghiên cứu tâm lý sau này.
1947), và “Phân tâm học” do Z.Freud (1856 ậ
Tâm lý học hành vi tập trung vào nghiên cứu hành vi của con người dựa trên mối quan hệ giữa kích thích và phản ứng theo công thức S (Stimul) - R (Response) Nó bỏ qua các trạng thái ý thức và không đề cập đến các mối quan hệ bản chất của con người trong xã hội lịch sử nhất định Mục đích chính của nó là phân tích các cử chỉ, động tác phản ứng với các kích thích từ bên ngoài Nhờ vào việc nghiên cứu đặc điểm của các kích thích, chúng ta có thể dự đoán chính xác tâm lý của một người.
Trường phái tâm lý học cấu trúc đề xuất phương pháp nghiên cứu tâm lý dựa trên các cấu trúc chỉnh thể của tri giác Phương pháp này đã khám phá ra nhiều thuộc tính quan trọng của tri giác như tính ổn định và tính cấu trúc Những phát hiện này góp phần làm rõ cơ cấu và đặc điểm của quá trình nhận thức, mang lại cái nhìn sâu sắc hơn về cách con người trải nghiệm thế giới xung quanh.
Trường phái phân tâm học tập trung vào giải thích mối quan hệ phức tạp giữa các nhu cầu vô thức tiềm ẩn, đặc biệt là bản năng tình dục, và các quy tắc xã hội nhằm kiểm soát và điều chỉnh cái Tôi hiện thực Luận điểm chính của nó nhấn mạnh rằng các xung đột giữa bản năng và sự cấm kỵ xã hội là nguồn gốc của nhiều quá trình tâm lý và hành vi con người Phân tâm học cho rằng, để hiểu rõ bản chất của tâm lý con người, cần phân tích các yếu tố vô thức và cách chúng bị đè nén hoặc điều chỉnh bởi các ràng buộc xã hội.
Theo Freud, nhân cách con người cấu thành gồm ba hệ thống chính: Cái Ấy (Id), là tầng vô thức chứa đựng các bản năng như tình dục, đói khát và thúc đẩy hoạt động theo nguyên tắc thỏa mãn tối đa Cái Siêu Tôi (Superego) đại diện cho các chuẩn mực xã hội, hoạt động dựa trên nguyên tắc kiểm duyệt và chèn ép các bản năng của con người Còn Cái Tôi (Ego) là phần ý thức, kiểm soát các xung đột giữa Cái Ấy và Siêu Tôi, hoạt động theo nguyên tắc thực tế để điều hòa các mâu thuẫn nội tâm Mối quan hệ phức tạp giữa ba hệ thống này luôn tiềm ẩn xung đột, dẫn đến các hoạt động tâm lý phức tạp trong con người Tuy nhiên, các trường phái tâm lý học khách quan thường bỏ qua các mối quan hệ bản chất của con người và mặt xã hội của đời sống tâm lý, coi con người như một cỗ máy hoặc sinh vật, dẫn đến những hạn chế trong nghiên cứu và hiểu biết về tâm lý con người.
Phải chờ đến khi các nhà tâm lý học Xô-viết uy tín như Coocnhi-lốp, Vygotsky, Rubinstein và Leonchep cùng các chuyên gia khác xây dựng lý thuyết tâm lý học Macxit, chúng ta mới hình thành một nền tâm lý học thực sự khoa học và khách quan.
Tâm lý học Macxit đƣa ra những luận điểm sau đây để nói về bản chất tâm lý con người:
Tâm lý con người phản ánh hiện thực khách quan thông qua hành động và hoạt động của mình, thể hiện một hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan theo quan điểm của V.I Lênin Các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan tác động vào cảm giác của chúng ta, sau đó được phản ánh thành hình ảnh tâm lý về sự kiện hoặc hiện tượng đó Nguồn gốc của tâm lý bắt nguồn từ thực tại khách quan, bao gồm thế giới tự nhiên, xã hội và chính bản thân con người.
Tâm lý con người là tổng hợp kinh nghiệm xã hội và lịch sử của loài người được biến thành của riêng mỗi cá nhân thông qua hoạt động và giao lưu Khác với động vật, con người có lao động, sống thành xã hội, sử dụng ngôn ngữ, giúp tâm lý phát triển vượt bậc về chất Ngoài các bản năng truyền từ gen, con người còn tiếp thu kinh nghiệm của nhân loại qua sách, tác phẩm nghệ thuật và hoạt động xã hội, góp phần hình thành tâm lý Tuy nhiên, tâm lý mỗi người không phải là sự sao chép máy móc, mà mang nét đặc trưng chung của xã hội, đồng thời thể hiện cá tính riêng biệt của từng cá nhân.
Tâm lý là chức năng và sản phẩm hoạt động của não bộ, phản ánh quá trình xử lý các kích thích từ thế giới bên ngoài qua các giác quan và hệ thần kinh Các tác động này tạo ra hình ảnh tri giác, thúc đẩy suy nghĩ, đánh giá, tưởng tượng và thể hiện thái độ của con người Tất cả quá trình này diễn ra trong hệ thần kinh, trong não và trên võ não, nơi các xung động thần kinh và biến đổi sinh hóa kích hoạt các tế bào thần kinh, xi-náp và trung khu thần kinh theo quy luật của hệ thần kinh Như vậy, hiện thực khách quan tác động vào hệ thần kinh, kích hoạt hoạt động của não và hình thành nên các hiện tượng tâm lý, chính là cơ sở để con người có tâm lý.
1.3.2 Quá trình hình thành của tâm lý học QTKD
Tâm lý học Quản trị Kinh doanh là một trong 30 chuyên ngành của tâm lý học và ra đời muộn nhưng phát triển rất nhanh Dù xuất hiện sau nhiều lĩnh vực khác, ngành này đã nhanh chóng khẳng định vai trò quan trọng trong việc hiểu rõ hành vi con người trong môi trường kinh doanh Với sự phát triển vượt bậc, tâm lý học Quản trị Kinh doanh ngày càng trở thành lĩnh vực thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu và doanh nghiệp.
1912, nhà tâm lý học Đức là H.Munsterberg lần đầu tiên giảng một chương trình
Tâm lý học Quản trị Kinh doanh bắt nguồn từ Đức và sau đó phát triển tại Mỹ, nhấn mạnh việc sử dụng những người có khí chất, xu hướng và năng lực phù hợp với từng loại công việc Các nhà nghiên cứu đã tiến hành nhiều công trình nghiên cứu quan trọng, xây dựng những luận điểm làm nền tảng cho môn xã hội học lao động và thực nghiệm xã hội.
VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP TÌM HIỂU TÂM LÝ CON NGƯỜI TRONG HOẠT ĐỘNG
Quan sát là phương pháp sử dụng các giác quan để ghi nhận và đánh giá các đặc điểm tâm lý thông qua các biểu hiện bên ngoài một cách có hệ thống và khoa học Đây là cách thu thập thông tin tâm lý ban đầu về đối tượng không thể thay thế Tuy nhiên, quan sát chỉ giúp định hướng ban đầu về đối tượng, vì nó dễ bị ảnh hưởng bởi yếu tố chủ quan, phụ thuộc vào kinh nghiệm và kỹ năng của người quan sát.
Nhà quản trị có thểdùng phương pháp quan sát trong rất nhiều trường hợp:
Quan sát tâm lý của người khác khi tiếp xúc là yếu tố quan trọng giúp điều chỉnh hành vi giao tiếp phù hợp Việc quan sát nhân viên, thủ trưởng, khách hàng hoặc đối tác làm ăn giúp nhà kinh doanh hiểu rõ cảm xúc và ý định của đối phương Chẳng hạn, trong cuộc đàm phán hợp đồng, qua các cử chỉ và biểu hiện bên ngoài, doanh nhân có thể dự đoán được liệu đối tác có chấp thuận các điều khoản đề xuất hay không, từ đó điều chỉnh chiến lược thương lượng một cách hiệu quả.
Quan sát tâm lý của tập thể là yếu tố quan trọng trong quản lý nhân sự và xây dựng môi trường làm việc lành mạnh Sử dụng tai để lắng nghe các ý kiến, dư luận của tập thể giúp hiểu rõ những suy nghĩ và cảm xúc chung Đồng thời, dùng mắt để quan sát các hiện tượng xã hội, trạng thái tâm trạng và không khí tâm lý trong tập thể, cũng như những xung đột xảy ra, giúp nắm bắt chính xác các vấn đề nội bộ Việc theo dõi đời sống của nhân viên và các biểu hiện tâm lý góp phần xây dựng môi trường làm việc tích cực, thúc đẩy sự đoàn kết và hiệu quả làm việc của toàn bộ tổ chức.
Bạn có thể quan sát cảm xúc và tâm trạng của nhân viên tại cổng nhà máy, công ty hoặc nơi làm việc để phát hiện những người vui vẻ hay buồn rầu Việc này giúp xác định nguyên nhân và đưa ra các biện pháp khắc phục, hạn chế sự lây lan cảm xúc tiêu cực trong tập thể Điều này góp phần nâng cao tinh thần làm việc, giảm thiểu ảnh hưởng đến hiệu suất lao động và duy trì môi trường làm việc tích cực.
Để hiểu rõ tâm lý thị trường, cần quan sát xu hướng thời trang và “mốt” mới nhằm nắm bắt thị hiếu của khách hàng Việc theo dõi phong cách, thói quen mua hàng cũng giúp nhận diện các sở thích tiêu dùng hiện tại Đồng thời, quan sát thái độ của khách hàng đối với các mặt hàng, kiểu dáng, mẫu mã mới ra mắt là nền tảng để điều chỉnh sản phẩm phù hợp với xu hướng thị trường.
Muốn quan sát có hiệu quả và thu thập đƣợc những thông tin khách quan, cần phải tuân theo những yêu cầu sau:
- Các đối tƣợng cần tìm hiểu phải đƣợc quan sát trong những điều kiện bình thường của chúng
Để thực hiện nghiên cứu hiệu quả, cần xây dựng kế hoạch chi tiết, phù hợp với nhiệm vụ nghiên cứu, bao gồm xác định khách thể và đối tượng quan sát, mục tiêu và nhiệm vụ của nghiên cứu Lựa chọn hình thức quan sát phù hợp, như quan sát có tham dự hoặc không tham dự, cũng là yếu tố quan trọng Đồng thời, cần chuẩn bị các tài liệu và thiết bị kỹ thuật cần thiết như máy quay phim, chụp ảnh hoặc ghi âm để hỗ trợ quá trình quan sát đạt hiệu quả cao nhất.
- Tốt nhất không để cho đối tƣợng biết đƣợc là mình bị quan sát để tránh hiện tƣợng giả, mất tính tự nhiên và tính khách quan
- Phải quan sát đối tƣợng từ nhiều khía cạnh và trong các điều kiện khác nhau
Thực nghiệm tự nhiên là phương pháp chủ động tạo ra các tình huống gần giống thực tế để đối tượng phản ánh rõ các phẩm chất tâm lý cần nghiên cứu Phương pháp thử bằng tình huống giúp kiểm tra đặc điểm tâm lý của đối tượng thông qua các tình huống mô phỏng giống như trong đời sống hàng ngày Đây là cách để khơi nguồn những đặc điểm tâm lý mà nhà nghiên cứu mong muốn khai thác một cách tự nhiên và hiệu quả.
Phương pháp này đã được người xưa dùng khá rộng rãi Trong khi bàn về phép dụng người, Gia Cát Lượng đã nói tới phương pháp này:
“Cho việc khó để thử tài,
Hỏi lúc vội vàng để xem trí, Cho đi xa để xem trung, Cho ở gần để xem kính,
Trong cuộc sống, có những người đóng kịch rất giỏi, thể hiện vẻ ngoài thật thà, mẫu mực, nhưng khi đối mặt với tình huống bất ngờ, họ mới lộ ra bản chất gian xảo và thấp hèn Ngược lại, có người bình thường, ít nổi bật, nhưng khi gặp tình huống đặc biệt, họ lại tỏa sáng như một người anh hùng Vì vậy, đôi khi cần tạo ra những thử thách đặc biệt để khám phá rõ hơn về tính cách và bản chất thực sự của một con người.
Để kiểm tra năng lực của một cán bộ, nhân viên chuẩn bị được đề bạt, thủ trưởng có thể ủy nhiệm quyền giám đốc cho nhân viên đó trước khi đi công tác Sau chuyến công tác, thủ trưởng sẽ đánh giá lại các giấy tờ, tài liệu do nhân viên xử lý để đánh giá năng lực thực sự trong điều kiện do mình tạo ra.
- Khi muốn kiểm tra mô hình quản lý mới mà nhà quản trị định thi hành trong tương lai v.v
Trong quá trình thực nghiệm, việc đánh giá ưu nhược điểm của các thành viên và mô hình quản lý mới giúp nâng cao hiệu quả quản lý Dựa trên đó, chúng ta có thể nhận xét, đánh giá nhân viên một cách chính xác, từ đó đề bạt cán bộ phù hợp và thúc đẩy đổi mới công tác quản lý doanh nghiệp.
Để đảm bảo tính chính xác của trải nghiệm, cần chọn tiêu chuẩn thực nghiệm phù hợp và đáng tin cậy để đánh giá đặc điểm tâm lý của đối tượng Trong quá trình đánh giá kết quả, cần loại bỏ các yếu tố khách quan như thiếu nguyên vật liệu hoặc cúp điện có thể ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng công việc của công nhân Việc kiểm soát các yếu tố này giúp tăng độ chính xác và độ tin cậy của kết quả thực nghiệm.
Trong các cuộc giao tiếp trực tiếp, nhà quản trị thường đặt ra các câu hỏi nhằm khám phá đặc điểm tâm lý của đối tượng Dựa vào câu trả lời, họ có thể hiểu rõ hơn về mindset và tính cách của đối tượng, từ đó đưa ra các chiến lược phù hợp để tương tác hiệu quả hơn Việc này giúp nâng cao khả năng quản lý và xây dựng mối quan hệ tốt trong môi trường làm việc.
Nhà quản trịthường dùng phương pháp đàm thoại với những dạng khác nhau trong các trường hợp sau:
Trong các cuộc giao tiếp hàng ngày, việc đặt câu hỏi giúp bạn hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng và quan điểm của đối phương về một vấn đề cụ thể Đồng thời, câu hỏi còn là công cụ để khám phá năng lực tư duy và các phẩm chất cá nhân của người trò chuyện Đây là kỹ năng quan trọng để thúc đẩy giao tiếp hiệu quả và xây dựng mối quan hệ tin tưởng.
- Nhà quản trị trực tiếp gặp gỡ quần chúng đểthăm dò ý kiến về một vấn đề nào đó thuộc đường lối chủtrương, chính sách, kế hoạch quản lý
- Nhà quản trị cũng có thể sử dụng phương pháp đàm thoại (phỏng vấn) để phỏng vấn dự tuyển viên trong quá trình tuyển chọn nhân viên
Một cuộc đàm thoại hay phỏng vấn bất kì nào cũng thường trải qua 3 giai đoạn sau:
Trong giai đoạn làm quen, nhà quản trị chủ động tiếp xúc với đối tượng bằng những câu hỏi nhẹ nhàng như về thời tiết, thể thao hay phim ảnh để tạo bầu không khí thân mật và tin tưởng Nên hỏi những câu hỏi mà mình biết chắc đối tượng thích thú trả lời và tự hào về câu trả lời của mình, giúp xây dựng mối quan hệ gần gũi và thoải mái Tránh đặt những câu hỏi có thể gây khó chịu, bực mình hoặc dẫn đến xung đột quan điểm, như về chính trị hoặc tôn giáo, nhằm duy trì không khí tích cực trong cuộc trò chuyện.
Trong quá trình thực hiện nội dung cuộc đàm thoại, nhà quản trị cần đặt câu hỏi rõ ràng, ngắn gọn và tạo không khí cởi mở để khuyến khích sự phản hồi trung thực Việc lắng nghe chủ động, ghi chép hoặc ghi âm nếu cần thiết giúp đảm bảo thông tin được thu thập đầy đủ và chính xác Trong khi trả lời, nếu người đối thoại tỏ ra lưỡng lự, tránh né hoặc không hiểu câu hỏi, nhà quản trị không nên ép buộc và cần kiên trì giải thích lại một cách nhẹ nhàng, tránh tranh cãi để duy trì sự hợp tác và hiểu biết tốt đẹp.
NHỮNG HIỆN TƯỢNG TÂM LÝ CÁ NHÂN
HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC
Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người, đóng vai trò là tiền đề cho các mặt còn lại như tình cảm và hành động Nó có mối liên hệ chặt chẽ với các hiện tượng tâm lý khác, giúp hình thành và thúc đẩy quá trình nhận thức, cảm xúc và phản ứng của con người trong cuộc sống hàng ngày.
Hoạt động nhận thức gồm nhiều quá trình đa dạng, phản ánh hiện thực khách quan ở các mức độ khác nhau, từ hình ảnh, biểu tượng đến khái niệm, qua đó tạo ra các sản phẩm phản ánh thực tế như hình ảnh và khái niệm.
Hoạt động nhận thức được phân thành hai mức độ chính là nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính, trong đó hai loại này có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung và chi phối lẫn nhau Quá trình nhận thức thống nhất và liên kết giữa nhận thức cảm tính và lý tính đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành kiến thức toàn diện và sâu sắc Hiểu rõ sự phối hợp giữa hai mức độ nhận thức này giúp nâng cao khả năng tiếp thu và phân tích thông tin một cách hiệu quả.
2.1.1.1.1 Khái niệm chung về cảm
Một số ví dụ về cảm giác
Khi tay đụng vào một vật nhọn, chúng ta cảm nhận ngay cảm giác đau rõ ràng Sờ vào nước đá, cảm giác lạnh toát lan rộng khắp bàn tay Khi cầm một vật tròn trên tay và nhắm mắt lại, chúng ta dễ dàng nhận biết đó là vật tròn, nhẵn mịn, qua cảm giác xúc giác chính xác.
Mùa đông gió thổi vào da khiến người cảm thấy lạnh buốt, trong khi cắn quả ớt lại cảm nhận rõ ràng vị cay nóng Khi đi qua bờ kênh, mùi hắc bốc lên khiến chúng ta cảm thấy rất khó chịu Tất cả những hiện tượng này đều là những cảm giác tự nhiên mà con người trải nghiệm hàng ngày.
Cảm giác là một quá trình tâm lý phản ánh các thuộc tính riêng lẻ của sự vật, hiện tượng khi chúng tác động trực tiếp vào các giác quan của con người Quá trình này giúp nhận biết đặc điểm của các sự vật như màu sắc, hình dạng, mùi vị, âm thanh, và cảm giác rung động Hiểu rõ về cảm giác là nền tảng để nhận diện và phản ánh thế giới xung quanh một cách chính xác.
- Đặc điểm của cảm giác
- Là một quá trình tâm ly, có kích thích là bản thân các sự vật hiện tƣợng trong hiện thực khách quan
- Chỉ phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ của sự vât hiện tƣợng
- Phản ánh hiện thực khách quan một cách trực tiếp
Cảm giác không chỉ phản ánh các thuộc tính riêng lẻ của đối tượng bên ngoài như ngoại hình hay màu sắc, mà còn thể hiện những trạng thái nội tại bên trong cơ thể, ví dụ như cảm giác đói cồn cào hay tình cảm hồi hộp khi gặp người đẹp.
- Bản chất xã hội của cảm giác
Cảm giác xuất hiện ở cả người và vật, nhưng cảm giác của con người mang đặc điểm riêng biệt về chất lượng so với cảm giác của động vật Bản chất xã hội của cảm giác thể hiện rõ nét ở chỗ: cảm giác ở người đóng vai trò quan trọng trong quá trình giao tiếp, xây dựng mối quan hệ xã hội và hình thành nhận thức về thế giới xung quanh.
Cảm giác phản ánh không chỉ liên quan đến các sự vật, hiện tượng tự nhiên tồn tại trong thế giới khách quan mà còn mở rộng đến các sản phẩm lao động do con người tạo ra Điều này cho thấy phạm vi của phản ánh cảm giác rất đa dạng, bao gồm cả những thành quả từ hoạt động sáng tạo của con người trong đời sống hàng ngày.
Ví dụ: Chế tạo ra máy lạnh để tạo ra cảm giác mát mẻ về mùa hè
Tường sơn màu xanh để tạo ra một cảm giác dễ chịu khi làm việc
Chế biến thức ăn để ăn ngon miệng: Chuột đồng miền tây, cá lóc nướng chui, cá lóc chiên xù
- Cơ chế sinh lý của cảm giác ở con người không chỉ giới hạn ở hệ thống tín hiệu thứ nhất mà cả hệ thống tín hiệu thứ hai
Bạn có thể mở đầu bằng câu: "Trong cuộc sống hàng ngày, những câu chuyện nhỏ phản ánh nhiều bài học quý giá." Ví dụ, khi một đứa trẻ té xuống và không khóc, chúng ta thường khen ngợi nó ngoan ngoãn, giỏi giang, điều này giúp trẻ tự tin hơn Hoặc, khi đi một mình vào ban đêm và nghe thấy câu chuyện về ma quái, cảm giác rợn tóc gáy khiến chúng ta nhận ra thế giới tâm linh luôn tiềm ẩn trong cuộc sống thường ngày Những trải nghiệm này giúp chúng ta nhận thức rõ hơn về sự bình yên và những điều kỳ bí xung quanh.
- Cảm giác của con người được phát triển mạnh mẽ và phong phú dưới ảnh hưởng của họat động và giáo dục
Ví dụ: Các thợ máy ô tô, máy bay chuyên nghe tiếng nổ động cơ Các t hầy thuốc nội khoa chuyên nghe tim và phổi để chấn đóan bệnh
Những người chăn vịt lành nghề chỉ nhìn qua trứng hay con vịt mới nở cũng biết phân biệt được đâu là con cái, đâu là con đực
Những người làm nghề nếm thử trong các ngành chế biến rượu, chè, thuốc lá có khả năng phân biệt đến 40 loại vị và mùi khác nhau Họ có thể xác định nguồn gốc của sản phẩm chỉ qua một ngụm nhỏ, như nhận biết rượu được làm từ cây nho ở vùng nào Khả năng này đòi hỏi sự tinh tường và kinh nghiệm lâu năm trong nghề, giúp đảm bảo chất lượng và nguồn gốc của sản phẩm.
- Cảm giác của con người còn chịu ảnh hưởng của nhiều hiện tượng tâm lý cao cấp nhất
Ví dụ: Lúc buồn, hay đau khổ thì ăn cảm thấy không ngon, thậm chí không có cảm giác đói
- Vai trò của cảm giác:
- Cảm giác là hình htức định hướng đầu tiên của con người trong hiện thực khách quan
- Cảm giác cung cấp những nguyên liệu cần thiết cho hình htức nhận thức cao hơn
- Cảm giác là điều kiện đảm bảo trạng thái họat động của võ não, nhờ đó mà họat động tinh thần của con người được bình thường
Cảm giác đóng vai trò quan trọng trong việc nhận thức thực tại khách quan, đặc biệt đối với người khuyết tật Những người câm, mù, điếc có khả năng nhận biết người thân, đồ vật và môi trường xung quanh chủ yếu nhờ vào các giác quan của họ, trong đó xúc giác đóng vai trò quan trọng nhất Việc phát huy các giác quan giúp họ xây dựng hình ảnh rõ ràng về thế giới xung quanh, thúc đẩy quá trình hòa nhập xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Căn cứ vào nguồn kích thích gây nên cảm giác ở ngòai hay ởtrong cơ thể thì cảm giác đƣợc chia thành hai lọai:
Thị giác giúp chúng ta nhận biết hình dạng, kích thước, độ sáng, màu sắc của các vật thể xung quanh Nó đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhận thức về thế giới bên ngoài của con người Cảm giác nhìn bắt nguồn từ các sóng điện từ có bước sóng từ 380 đến 770 nanomet, tác động vào mắt và truyền tín hiệu đến não để xử lý hình ảnh.
Cảm giác nghe (thính giác) phản ánh các thuộc tính của âm thanh và tiếng nói, hình thành từ sự chuyển động của sóng âm có bước sóng từ 16 đến 20.000 Hz, tác động vào màng tai để chúng ta có thể nhận biết và phân biệt các âm thanh khác nhau.
- Cảm giác ngưởi (Khứu giác): cho biết thuộc tính mùi của đối tượng
- Cảm giác nếm (vị giác): Cho ta biết thuộc tính vị của đối tƣợng có 4 lọai: Cảm giác ngọt, cảm giác chua, mặn và đắng
Cảm giác da, còn gọi là mạc giác, giúp chúng ta nhận biết sự đụng chạm, sức ép của vật thể trên da cùng với nhiệt độ của chúng Cảm giác này bao gồm năm loại chính: cảm giác đụng chạm, cảm giác nén, cảm giác nóng, cảm giác lạnh và cảm giác đau Nhờ vào hệ thống cảm giác da, cơ thể có khả năng phản hồi chính xác các tác nhân bên ngoài, góp phần duy trì sự an toàn và điều chỉnh hành vi Hiểu rõ về cảm giác da không chỉ quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe da mà còn giúp cải thiện trải nghiệm cảm nhận hàng ngày và nâng cao chất lượng cuộc sống.
TÌNH CẢM VÀ Ý CHÍ
Tình cảm là những thái độ thể hiện sự rung cảm của con người đối với các sự vật và hiện tượng, phản ánh mối liên hệ giữa cảm xúc và nhu cầu, động cơ cá nhân.
Tình cảm là những thái độ cảm xúc ổn định, phản ánh sự phát triển bền vững của quá trình cảm xúc trong các điều kiện xã hội Nó được coi là sản phẩm cao cấp của quá trình này, thể hiện sự trưởng thành và ổn định trong mối quan hệ giữa các cá nhân.
2.2.I.2 Xúc cảm và tình cảm
- Phân biệt giữa xúc cảm và tình cảm
-Có cả ởcon người và con vật
-Là một quá trình tâm lý
-Có tính chất nhất thời, tình huống và đa dạng
Luôn luôn ở trạng thái hiện thực
Thực hiện chức năng sinh vật (giúp con người định hướng và thích nghi vơí môi trường bên ngoài vơí tư cách là một cá thể
Gắn liền vơí phản xạ không điều kiện
Chỉ có ởcon người Là thuộc tính tâm lý Có tính chất ổn định Thường ở trạng thái tiềm tàng Xuất hiện sau
Thực hiện chức năng xã hội (giúp con người định hướng và thích nghi vơí xã hội vơí tƣ cách là một nhân cách)
Gắn liền vơí phản xạ có điều kiện
- Mối quan hệ giữa xúc cảm và tình cảm
Tình cảm đƣợc hình thành từ những xúc cảm cùng loại và đƣợc thể hiện qua những xúc cảm
Ngược lại tình cảm có ảnh hưởng trở lại chi phối các cảm xúc của con người
2.2.1.3 Những biểu hiện của tình cảm:
- Những động tác biểu hiện ra bên ngòai thông qua:
Lo lắng Điệu bộ Nét mặt
- Những thể hiện đa dạng của cơ thể Mặt đỏ, tía tai, mặt vàng nhƣ nghệ
Các mức độ của tình cảm
Màu sắc xúc cảm thể hiện mức độ thấp nhất của phản ánh cảm xúc, là một sắc thái cảm xúc nhẹ nhàng đi kèm với quá trình cảm giác.
Màu sắc xúc cảm của cảm giác không được nhận thức như một hiện tượng tâm lý độc lập, mà là một thuộc tính đặc trưng của quá trình tâm lý Nó thường thoáng qua, không mang tính mạnh mẽ, và mang tính chất cụ thể, liên quan chặt chẽ đến các cảm giác nhất định Chủ thể thường không ý thức rõ ràng về màu sắc xúc cảm này, cho nên nó thể hiện như một đặc điểm phụ của cảm giác hơn là một trạng thái độc lập.
Xúc cảm phản ánh mức độ cảm xúc cao hơn, xuất hiện nhanh chóng nhưng mạnh mẽ và rõ rệt hơn so với màu sắc xúc cảm của cảm giác Nó được hình thành do những sự vật, hiện tượng trọn vẹn gây nên và mang tính chất khái quát cao hơn Chủ thể ý thức về xúc cảm rõ rệt hơn so với màu sắc xúc cảm của cảm giác, phản ánh mức độ cảm xúc sâu sắc và đa chiều hơn trong trải nghiệm tâm lý.
Tuỳ theo mức độ và tính ổn định và tính ý thức cao hay thấp người ta chia xúc cảm thành hai loại xúc động và tâm trạng
Xúc độ ng là một dạng xúc cảm có cường độ rất mạnh xảy ra trong một thời gian ngắn, khiến con người đôi khi không làm chủ được bản thân mình Đây là trạng thái cảm xúc dữ dội và mạnh mẽ, thường xuất hiện đột ngột và gây ảnh hưởng lớn đến hành vi, suy nghĩ của người trải qua Xúc độ ng thể hiện mức độ cảm xúc cao, đòi hỏi sự kiểm soát để tránh những hậu quả không mong muốn trong cuộc sống hàng ngày Understanding xúc độ ng giúp chúng ta kiểm soát cảm xúc tốt hơn và duy trì sự bình tĩnh trong những tình huống căng thẳng.
Tâm trạng là trạng thái xúc cảm chung bao trùm mọi hoạt động của con người, ảnh hưởng đến hành vi trong một thời gian dài Tâm trạng tích cực giúp nâng cao hiệu suất làm việc và tạo cảm giác hạnh phúc, trong khi tâm trạng tiêu cực có thể gây ra stress và ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống hàng ngày Hiểu rõ về tâm trạng giúp chúng ta kiểm soát cảm xúc tốt hơn, cải thiện sức khỏe tinh thần và nâng cao chất lượng cuộc sống Tâm trạng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hành vi, quyết định và cách phản ứng của mỗi người trong các tình huống khác nhau.
Trạng thái căng thẳng (Stress) là phản ứng tự nhiên của cơ thể khi đối mặt với các tình huống nguy hiểm hoặc áp lực, đặc biệt trong những hoàn cảnh đòi hỏi phải chịu đựng căng thẳng về thể chất và tinh thần Stress thường xuất hiện khi cần xử lý nhanh các nhiệm vụ quan trọng hoặc phải đối mặt với những khó khăn đòi hỏi sự tập trung cao độ Hiểu rõ về trạng thái này giúp chúng ta kiểm soát tốt hơn và giảm thiểu tác động tiêu cực đến sức khỏe.
Tình cảm là thái độ ổn định của con người đối với hiện thực xung quanh và chính bản thân mình, phản ánh đặc điểm cố định của nhân cách Đây là một thuộc tính quan trọng giúp hình thành và duy trì sự cân bằng cảm xúc trong cuộc sống hàng ngày Tình cảm ổn định góp phần xây dựng mối quan hệ tích cực và củng cố nhân cách của mỗi người.
Người ta có thể chia tình cảm thành hai loại:
Tình cảm cấp thấp: Là tình cảm liên quan đến sự thõa mãn những nhu cầu sinh vật của cơ thể (Nhƣ nhu cầu về mặt sinh học )
Tình cảm cấp cao là loại cảm xúc liên quan đến việc thỏa mãn các nhu cầu xã hội và phản ánh thái độ của con người đối với các mặt khác nhau của đời sống xã hội Đây là những cảm xúc thể hiện sự gắn kết, thiện chí, và sự quan tâm đối với cộng đồng, góp phần xây dựng những mối quan hệ xã hội bền chặt Tình cảm cấp cao đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của các mối quan hệ xã hội lành mạnh và tích cực trong xã hội hiện nay.
Tình cảm hoạt động thể hiện thái độ của con người đối với một đối tượng nhất định, phản ánh mức độ hài lòng hay không hài lòng về việc thực hiện hoạt động đó Đây là khía cạnh quan trọng giúp hiểu rõ sự gắn kết và động lực thúc đẩy behavior của cá nhân trong các hoạt động hàng ngày Tình cảm này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả và mức độ thành công của quá trình thực hiện nhiệm vụ hoặc hoạt động cụ thể.
- Tình cảm mang tính chất thế giới quan: tinh thần yêu nước, tinh thần quốc tế
2.2.1.5 Vai trò của tình cảm
Xúc cảm và tình cảm đóng vai trò quan trọng trong đời sống của con người, ảnh hưởng sâu sắc đến cả khía cạnh sinh lý lẫn tâm lý Chính những cảm xúc này giúp con người duy trì sự cân bằng và phát triển toàn diện, vì nếu thiếu xúc cảm, con người không thể tồn tại và thích nghi với cuộc sống một cách hiệu quả.
Tình cảm là nguồn động lực mạnh mẽ thúc đẩy con người tìm kiếm chân lý, đồng thời cũng được xem như là phần lý của tình cảm, thể hiện mối quan hệ giữa lý trí và cảm xúc trong quá trình nhận thức.
Tình cảm là động lực thúc đẩy con người hoạt động sáng tạo, giúp vượt qua những khó khăn, trở ngại trong quá trình biểu hiện ý tưởng Chính nhờ tình cảm, con người có thể khơi nguồn cảm hứng và đạt được thành công trong công việc sáng tạo Tình cảm không chỉ góp phần làm tăng đam mê mà còn nâng cao hiệu quả công việc, giúp quá trình sáng tạo trở nên dễ dàng và ý nghĩa hơn.
Trong đời sống hàng ngày, xúc cảm và tình cảm đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với con người, bởi không có tình cảm thì con người sẽ không thể tồn tại và phát triển.
NGÔN NGỮ
Trong quá trình giao tiếp, con người sử dụng từ ngữ dựa trên các quy tắc ngữ pháp nhất định của một ngôn ngữ cụ thể Việc tuân thủ các quy tắc này giúp đảm bảo sự hiểu biết chính xác giữa các bên Ngữ pháp đóng vai trò then chốt trong việc xây dựng câu đúng chính tả và truyền đạt ý nghĩa rõ ràng Hiểu và vận dụng tốt các quy tắc ngữ pháp là điều cần thiết để nâng cao khả năng giao tiếp hiệu quả.
Tiếng nói là hệ thống ký hiệu từ ngữ đóng vai trò quan trọng trong giao tiếp và là công cụ của tư duy Mỗi quốc gia, dân tộc sở hữu hệ thống ký hiệu từ ngữ riêng biệt, dựa trên các quy tắc ngữ pháp đặc thù để truyền đạt ý nghĩa và duy trì sự hiểu biết chung.
Tiếng nói gồm 2 bộ phận: t ừ v ự ng các ý nghĩa của từ và ng ữ pháp - là một hệ thống các quy tắc quy định việc ghép từ thành câu
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
Ngôn ngữ là quá trình mỗi cá nhân sử dụng một thứ tiếng nói nào đó để giao tiếp
Nói cách khá ngôn ngữ là sự giao tiếp bằng tiếng nói.
Tiếng nói là đối tƣợng nghiên cứu - của ngôn ngữ học - khoa học về tiếng
Còn ngôn ngữ là một quá trình tâm lý, nó là đối tƣợng của tâm lý học
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
2.3.2 Chức năng của ngôn ngữ
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
Kinh nghiệm của loài người được truyền đạt và tồn tại qua ngôn ngữ, giúp giữ gìn và chuyển giao kiến thức cho các thế hệ sau Chính chức năng của ngôn ngữ không chỉ là giao tiếp mà còn là phương tiện lưu giữ, truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm xã hội và lịch sử Nhờ ngôn ngữ, các giá trị, kiến thức và kinh nghiệm đã được bảo tồn qua thời gian, góp phần phát triển văn hóa và xã hội nhân loại.
Những điều đó cho thấy rằng ngôn ngữ của con người khác hẳn tiếng kêu của con vật về bản chất con vật không có ngôn ngữ
Ngôn ngữ là công cụ truyền đạt và tiếp nhận thông tin, giúp con người thể hiện cảm xúc và ý nghĩ một cách rõ ràng Nhờ có ngôn ngữ, con người có thể giao tiếp, thúc đẩy và điều chỉnh các hoạt động xã hội hiệu quả hơn Ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối con người với nhau, tạo nên sự hiểu biết và hợp tác trong cộng đồng.
- Chức năng khái quát hóa:
Chức năng khái quát hóa thể hiện rõ qua khả năng của ngôn ngữ trong việc đại diện cho các nhóm sự vật, hiện tượng có chung các đặc điểm cơ bản Nhờ đó, ngôn ngữ trở thành công cụ mạnh mẽ trong hoạt động tư duy và nhận thức của con người Ngôn ngữ không chỉ phản ánh các sự vật riêng lẻ mà còn là hình thức tồn tại và biểu hiện của trí tuệ, giúp chúng ta tổng hợp và truyền đạt kiến thức một cách hiệu quả.
Có thể tóm gọn lại, ngôn ngữ có hai chức năng chính: công cụ của giao tiếp và công cụ của tƣ duy.
Ngôn ngữ nói là hình thức giao tiếp hướng vào người nghe, được thể hiện bằng âm thanh và tiếp nhận thông qua phân tích nghe Đây là cách truyền đạt dữ liệu quan trọng trong cuộc sống hàng ngày, giúp xây dựng mối quan hệ và truyền tải thông điệp một cách hiệu quả Có hai loại ngôn ngữ nói, phù hợp với các mục đích và hoàn cảnh khác nhau, góp phần làm phong phú thêm kỹ năng giao tiếp của con người.
Ngôn ngữđối thoại là loại ngôn ngữ diễn ra giữa hai hoặc nhiều người, trong đó người này nói và người kia nghe, luân phiên trao đổi thông tin Trong khi đó, ngôn ngữnói độc thoại là loại ngôn ngữ trong đó chỉ có một người nói và người khác nghe, thường xuyên xuất hiện trong quá trình truyền đạt thông tin hoặc thể hiện suy nghĩ cá nhân Cả hai dạng ngôn ngữ này đóng vai trò quan trọng trong giao tiếp hàng ngày, giúp truyền đạt ý tưởng và xây dựng mối quan hệ giữa các cá nhân.
Ngôn ngữ viết là hệ thống ngôn ngữ hướng đến người nhận, được thể hiện qua các ký hiệu chữ viết và tiếp nhận dựa trên các cơ quan phân tích hình ảnh Để đảm bảo hiệu quả truyền đạt, ngôn ngữ viết đặt ra những yêu cầu nhất định đối với người viết và cả người đọc, tạo điều kiện cho việc truyền tải thông điệp một cách rõ ràng và chính xác.
Ngôn ngữ là công cụ giúp con người tự suy nghĩ, tự điều chỉnh và tự giáo dục bản thân, không chỉ đơn thuần là phương tiện giao tiếp Nó chính là vỏ từ ngữ của tư duy, phản ánh các đặc điểm độc đáo giúp hình thành khả năng suy nghĩ và nhận thức của con người.
Không phát ra âm thanh
Bao giờ cũng đƣợc rút gọn cô đọng
Có tính vị thể tức chỉ tòan vị ngữ
Có tính ngữnghĩa là ý phụ thuộc mạnh vào tình huống
Tồn tại dưới dạng cảm giác vận động, do cơ chếđặc biệt của nó quy định
Ngôn ngữ bên trong có mối quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ bên ngoài, với ngôn ngữ bên ngoài là nguồn gốc của ngôn ngữ bên trong Theo quan điểm hiện đại, ngôn ngữ bên trong bao gồm hai mức độ: ngôn ngữ nói bên trong và ngôn ngữ nội tâm hoá của ngôn ngữ bên ngoài.
2.4 NHÂN CÁCH VÀ CÁC PHẨM CHẤT CỦA NHÂN CÁCH
Khái niệm con người, cá nhân, cá tính, nhân cách:
Con người là thành viên của cộng đồng và xã hội, vừa là thực thể tự nhiên vừa là thực thể xã hội Con người là sinh vật, tâm lý và xã hội, mang đặc trưng của một thực thể sinh vật - xã hội - văn hóa Để hiểu rõ về con người, cần xem xét từ ba góc độ: sinh vật, tâm lý và xã hội, phản ánh tính đa diện và phức tạp của con người trong đời sống hàng ngày.
Cá nhân là thuật ngữ dùng để chỉ một con người cụ thể trong một cộng đồng hoặc xã hội, là một thực thể tự nhiên, xã hội và văn hoá Mỗi cá nhân đều có đặc điểm riêng biệt về tâm lý, sinh lý và xã hội, giúp phân biệt họ với những cá nhân khác cũng như với cộng đồng chung.
- Cá tính: dùng để chỉ cái đơn nhất, có một không hai, không lặp lại trong tâm lý (hoặc sinh lý) của cá thể động vật hay cá thểngười