-Hiếp dâm đang là một trong những hình thức tội phạm phổ biến hiện nay. Hành vi này không những ảnh hưởng trực tiếp đến gia đình, và đặc biệt là chính bản thân người bị xâm phạm, ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày và tinh thần của người bị xâm phạm, mà còn ảnh hưởng xâu sắc đến xã hội, gây ra nỗi ám ảnh và sự Hoang Mang trong lòng người dân
Trang 1
Trường: ………
………
Mssv: ……… MNHP: ………
Tiểu luận kết thúc học phần Môn : pháp luật đại cương
Tìm hiểu vụ việc có hành vi hiếp dâm xảy ra tại huyện eahleo
tỉnh Dak lak
Giảng viên hướng dẫn : Đoàn công Thức
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2020
¥¥¥¥¥¥¥¥¥¥¥
Trang 2Lời mở đầu
- Hiếp dâm đang là một trong những hình thức tội phạm phổ biến hiện nay Hành vi này không những ảnh hưởng trực tiếp đến gia đình, và đặc biệt là chính bản thân người bị xâm phạm, ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày và tinh thần của người bị xâm phạm, mà còn ảnh hưởng xâu sắc đến xã hội, gây ra nỗi
ám ảnh và sự Hoang Mang trong lòng người dân
- Vụ việc được nêu dưới đây là vụ việc được công an huyện EAHLEO khởi tố vụ
án khởi tố bị can đối tượng có hành vi hiếp dâm và tạm giam đối tượng T V
Đ, đây là vụ việc nghiêm trọng xảy ra ở xã Ea Khal huyện Ea H’leo tỉnh Đắk Lắk Đặc biệt vụ việc lần này người bị xâm phạm là người dưới 16 tuổi, vì vậy
càng tăng thêm tính nghiêm trọng của vụ việc
- Tiếp theo chúng ta sẽ đi tìm hiểu về quá trình diễn ra vụ việc các quy định của
pháp luật về vụ việc và ý nghĩa thực tiễn của vụ việc
Trang 3Giới thiệu về vụ việc
1.1 Diễn biến vụ việc
- Ngày 24/9/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H’Leo đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và tạm giam đối tượng
T.V.Đ (SN: 1990, hiện đang làm thuê tại Thôn 2, xã Ea Khal) về hành vi hiếp
dâm người dưới 16 tuổi
- Trước đó, khoảng 21h ngày 20/9/2019, Công an huyện Ea H’Leo tiếp nhận tin
báo của Công an xã Ea Khal về vụ việc cháu H.K.H (SN: 2008, ở Thôn 5, xã
Ea Khal) bị đối tượng lạ mặt chặn xe, khống chế, đưa cháu đến chòi rẫy cách
đó khoảng 40m và thực hiện hành vi hiếp dâm Sau khi tiếp nhận tin báo, Công
an huyện Ea H’Leo đã triển khai lực lượng nhanh chóng xuống hiện trường, thành lập 02 tổ công tác thực hiện nhiệm vụ khám nghiệm hiện trường và khoanh vùng, rà soát, truy tìm đối tượng ngay trong đêm Trước sự truy tìm ráo riết và triển khai quyết liệt các biện pháp đấu tranh của Công an huyện, do tâm
lý lo sợ, đến 10h00’ ngày 21/09/2019, đối tượng T.V.Đ đã đến Công an huyện
Ea H’Leo đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội
Trang 4Chương I Quan hệ pháp luật của chủ thể
1 Vi phạm hình sự (tội phạm) là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định
trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý - Vi phạm hình sự được xem là loại hành vi nguy hiểm nhất cho
xã hội xâm phạm đến độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự,
an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm đến các lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa
- Chủ thể của vi phạm hình sự theo quy định của pháp luật nước ta chỉ là những cá nhân có năng lực chịu trách nhiệm hình sự (Tập thể theo quy định của pháp luật không phải là chủ thể của vi phạm hình sự)
- Hành vi vi phạm pháp luật hình sự được quy định trong bộ luật hình sự
➢ Vụ việc trên có hành vi vi phạm pháp luật hình sự được quy định trong bộ luật
hình sự
2 Chủ thể quan hệ Đc đề cập
2.1 khái niệm về tội phạm
- Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự,
do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công
dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa
- Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm pháp luật, tội phạm được phân thành bốn loại:
a) Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt quy định là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;
b) Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt là từ trên 03 năm tù đến
07 năm tù;
c) Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt là từ trên 07 năm
tù đến 15 năm tù;
Trang 5d) Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình
Tuổi chịu trách nhiệm hình sự: Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151,
168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289,
290, 299, 303 và 304 của Bộ luật hình sự
➢ Như vậy hoàn toàn có cơ sở để xác định đối tượng T V Đ là tội phạm Đặc biệt nghiêm trọng
+ thứ nhất đối tượng đã đủ tuổi
+ thứ hai khung hình phạt tối đa của hành vi này là chung thân hoặc tử hình
3 Quyền và nghĩa vụ được thể hiện
3.1 nghĩa vụ của người phạm tội
+ Thứ nhất: Người phạm tội sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự:
Qua quá trình điều tra, nếu theo kết luận của cơ quan tiến hành tố tụng, đối tượng thực
hiện hành vi xâm hại tình dục con gái bạn phạm tội hiếp dâm thì theo khoản 4 Điều
141 Bộ luật hình sự năm 2015 , sửa đổi, bổ sung năm
2017:
” Phạm tội đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ 05 năm đến
10 năm
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều
này, thì bị xử phạt theo mức hình phạt quy định tại các khoản đó.” Thứ hai: Người
phạm tội sẽ phải chịu trách nhiệm dân sự như sau:
Người thực hiện hành vi phạm tội sẽ phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm và bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm cho người bị hại theo quy định của Bộ luật dân sự cụ thể:
Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm: Căn cứ theo quy định tại Điều 590 Bộ luật dân sự
năm 2015 :
“ 1 Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:
a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;
Trang 6b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực
tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;
c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;
d) Thiệt hại khác do luật quy định
2 Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương
cơ sở do Nhà nước quy định.Tại Khoản 1 Mục 2 Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP
hướng dẫn chi tiết về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm
Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm: Điều 592 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm
” 1 Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm: a) Chi phí
hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;
b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút;
c) Thiệt hại khác do luật quy định
2 Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.”
➢ Vây đối tượng T V Đ phải chịu trách nhiệm hình sự về có nghĩa vụ bồi thường cho nạn nhân theo quy định ở trên
3.2 quyền của nạn Nhân
➢ Em H K H có quyền kiện đối tượng T V Đ về Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi
để dsoois tượng chịu trách nhiệm hình sự
➢ Ngoài ra em còn có quyền nhận bồi thường theo quy định của pháp luật như ở trên
4 Khách thể của quan hệ pháp luật
về khách thể tội hiếp dâm
Trang 7Tội hiếp dâm xâm phạm quan hệ nhân thân của nạn nhân gồm sức khỏe, danh
dự, nhân phẩm
Nạn nhân của tội hiếp dâm theo quy định của BLHS 1999 là nữ giới Tuy nhiên với việc mở rộng hành vi hiếp dâm không chỉ nằm ở hành vi giao cấu mà còn là các hành vi quan hệ tình dục khác thì có thể hiểu nạn nhân của tội hiếp dâm theo quy định của BLHS 2015 có thể là nữ giới hoặc nam giới Tuy nhiên, việc thay đổi cấu thành tội hiếp dâm theo BLHS 2015 là mở rộng về chủ thể thực hiện hành vi phạm tội và nạn nhân chứ không thay đổi khái niệm giao cấu Có nghĩa là nam giới có thể trở thành nạn nhân của tội hiếp dâm trong trường hợp hiếp dâm bằng hành vi quan hệ tình dục khác chứ không thể trở thành nạn nhân của tội hiếp dâm trong trường hợp giao cấu trái ý muốn với nạn nhân
➢ Nạn Nhân của cụ án này là em H K H
5 căn cứ làm phát sinh thay đổi chấm dứt quan hệ pháp luật
CÁC CĂN CỨ LÀM PHÁT SINH,
THAY ĐỔI, CHẤM DỨT QUAN HỆ PHÁP LUẬT
- Sự kiện pháp lý
Những sự kiện thực tế mà sự xuất hiện hay mất đi của chúng được pháp luật gắn với việc hình thành, thay đổi hay chấm dứt quan hệ pháp luật được gọi là sự kiện pháp lý Việc thừa nhận hay không thừa nhận một sự kiện thực tế nào đó là sự kiện pháp lý đều xuất phát từ lợi ích của xã hội và của giai cấp nắm chính quyền trong xã hội
1 Các loại sự kiện pháp lý
Có nhiều loại sự kiện pháp lý, tùy theo từng tiêu chí, sự kiện pháp lý được phân loại như sau:
Căn cứ vào ý chí của các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật, sự kiện pháp lý được chia thành
- Sự kiện phát sinh không phụ thuộc vào ý chí của con người: (Sự biến) các hiện tượng tự nhiên, thiên tai Trong các hợp đồng thường có điều khoản miễn trách nhiệm trong trường hợp xảy ra thiên tai mà bên vi phạm đã tìm mọi cách khắc phục nhưng không có hiệu quả
- Sự kiện phát sinh phụ thuộc vào ý chí của con người (Hành vi): hành động
(đánh người) hoặc không hành động (bỏ đói, không cứu giúp người trong tình trạng nạn nhân bị đe dọa tính mạng…), im lặng, không phản đối, không trả lời trong một số trường hợp chấp nhận chào hàng Pháp luật đại cương
Căn cứ vào hậu quả pháp lý, sự kiện pháp lý được chia thành Sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật: kết hôn, ly hôn… Sự kiện pháp lý làm thay đổi quan hệ
Trang 8pháp luật: chia tài sản chung, Sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan hệ pháp luật: trả nợ,…
Ngoài ra, căn cứ vào hậu quả pháp lý, sự kiện pháp lý cũng có thể được chia thành: Sự kiện pháp lý đơn giản (sự kiện chỉ làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt một quan hệ pháp luật); sự kiện pháp lý phức tạp (sự kiện đồng thời làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt nhiều quan hệ pháp luật.) Một sự kiện pháp lý có thể phát sinh nhiều quan
hệ pháp luật: chết…Một quan hệ pháp luật có thể tập hợp nhiều sự kiện pháp lý Ví dụ
để phát sinh quan hệ pháp luật nghỉ hưu: tuổi đời, số năm công tác, thời gian đóng bảo hiểm xã hội,…
- Đối tượng T V Đ từ một người dân bình thường đã trở thành tội phạm đặc biệt nghiêm trọng và có khả năng bị kết án chung thân hoặc Tử hình
- Vì không khống chế được bản thân mình mà đối tượng đã gây án hiếp dâm không những gây nỗi đau to lớn cho nạn Nhân mà còn khiến mình rơi vào cảnh
tù tội
Chương II phân tích về việc qua mức độ của pháp lý
6 Hành vi của chủ thể được thực hiện như thế nào dưới dạng hành động hay không
hành động ? Hành vi này có trái pháp luật không ?
- Hành vi của chủ thể : đối tượng chặn xe, khống chế, đưa cháu đến chòi rẫy cách
đó khoảng 40m và thực hiện hành vi hiếp dâm
- Hành vi của chủ thể được thực hiện dưới dạng hành động
- Hành vi này đã trai pháp luật và vi phạm BLHS 2015 quy định tội hiếp dâm tại Điều 141: “Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”
7 Phân tích lỗi của chủ thể khi thực hiện hành vi
➢ Hành vi này là do cố ý gây ra
8 Năng lực chịu trách nhiệm pháp lý của chủ thể
-Năng lực trách nhiệm pháp lý là khả năng chịu trách nhiệm pháp lý của chủ thể do nhà nước quy định Đối với cá nhân: độ tuổi (tuỳ vào những
quan hệ khác nhau), khả năng lý trí và có tự do ý chí Ví dụ: Người bị
bệnh tâm thần không phải chịu trách nhiệm do hành vi của mình gây ra
➢ Chủ thể ( đối tượng T V Đ ) hoàn toàn có năng lực chịu trách nhiệm pháp lý
9 Dấu hiệu vi phạm pháp luật
Vi phạm pháp luật là một trong những cơ sở quan trọng để truy cứu trách nhiệm pháp lý Vi phạm pháp luật có các dấu hiệu sau:
Trang 9Dấu hiệu thứ nhất: Phải là hành vi của con người
- Con người: cá nhân, tổ chức nói chung - Không có hành vi của con người thì không thể có vi phạm pháp luật: các hiện tượng tự nhiên như mưa gió tuy gây ra thiệt hại nhưng không phải là hành vi vi phạm pháp luật,…
- Suy nghĩ, tình cảm… của con người cho dù có nguy hiểm đến đâu cũng không thể bị coi là hành vi vi phạm pháp luật
- Hành vi của con người có thể thể hiện bằng hành động hoặc không hành động
Dấu hiệu thứ hai: Hành vi phải trái pháp luật, xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ, xác lập
- Hành vi của con người, xét dưới góc độ pháp lý, có thể chia thành hai loại: hợp pháp hoặc không hợp pháp Hành vi vi phạm pháp luật luôn là hành
vi không hợp pháp
- Các hành vi vi phạm pháp luật có thể là hành vi không thực hiện (trốn thuế), thực hiện không đúng, hoặc thực hiện vượt quá yêu cầu cần thiết …
- Những hành vi trái với các quy định của các tổ chức xã hội, vi phạm các quy tắc tập quán, tôn giáo… nhưng không trái pháp luật thì không bị coi là hành vi vi phạm pháp luật
Tất cả những gì pháp luật không cấm, không xác lập và bảo vệ thì dù có làm trái, có xâm hại cũng không thể coi là vi phạm pháp luật
Dấu hiệu thứ ba: Có lỗi của chủ thể
- Lỗi là yếu tố chủ quan thể hiện thái độ của chủ thể đối với hành vi trái pháp luật của mình Như vậy những hành vi tuy là trái luật nhưng chủ thể bị bắt buộc phải thực hiện trong điều kiện không được tự do ý chí thì không thể coi
là vi phạm pháp luật
- Tất cả mọi vi phạm pháp luật trước hết phải xuất phát từ hành vi trái pháp luật nhưng không phải bất cứ hành vi trái pháp luật nào cũng bị coi là vi phạm pháp luật
- Không có lỗi thì không có vi phạm pháp luật
Dấu hiệu thứ tư: Năng lực chịu trách nhiệm pháp lý của chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật
Năng lực trách nhiệm pháp lý là khả năng chịu trách nhiệm pháp lý của chủ thể
do nhà nước quy định Đối với cá nhân: độ tuổi (tuỳ vào những quan hệ khác nhau), khả năng lý trí và có tự do ý chí Ví dụ: Người bị bệnh tâm thần không phải chịu trách nhiệm do hành vi của mình gây ra
Trang 10➢ Đối tượng T V Đ đã hội tụ đủ 4 dấu hiệu vi phạm pháp luật
10 Yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật
- Vi phạm pháp luật được cấu thành bởi bốn yếu tố: Mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể của vi phạm pháp luật
Mặt khách quan của vi phạm pháp luật
Là những biểu hiện ra bên ngoài của vi phạm pháp luật, có thể được nhận biết bằng
trực quan Mặt khách quan của vi phạm pháp luật bao gồm các yếu tố chủ yếu sau:
- Hành vi vi phạm pháp luật Đây là yếu tố bắt buộc phải có vì không có hành vi vi phạm pháp luật thì không có cấu thành vi phạm pháp luật Hành vi vi phạm pháp luật của chủ thể thể hiện tính trái pháp luật có thể được thực hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động, không phù hợp với các quy định của pháp luật gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho xã hội
- Hậu quả của vi phạm pháp luật Hậu quả là những tổn thất thực tế về mặt vật chất, tinh thần và những thiệt hại khác cho xã hội Mức độ nguy hiểm của hành vi trái pháp luật được xác định thông qua mức độ thiệt hại thực tế hoặc nguy cơ gây thiệt hại cho xã hội mà hành vi đó gây ra
- Mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả Hậu quả phải là từ hành vi gây ra - Ngoài các yếu tố nêu trên, mặt khách quan của vi phạm pháp luật còn kể đến các yếu tố khác: thời gian, địa điểm thực hiện hành vi vi phạm, công cụ thực hiện hành vi vi phạm
Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật
Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật là những biểu hiện tâm lý bên trong của chủ thể
có hành vi trái pháp luật, được thể hiện bao gồm các yếu tố sau
Lỗi của chủ thể vi phạm: Lỗi là trạng thái tâm lý của một người đối với hành vi của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra Lỗi thể hiện thái độ tiêu cực của chủ thể đối với
xã hội Khoa học pháp lý chia lỗi thành các loại lỗi cốý và lỗi vô ý
Lỗi cố ý: bao gồm lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp
Lỗi cố ý trực tiếp: Chủ thể nhận thức rõ hành vi của mình gây nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng mong muốn điều đó xảy ra Lỗi cố ý gián tiếp: Chủ thể nhận thức rõ hành vi của mình gây nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả đó xảy ra
Lỗi vô ý: bao gồm lỗi vô ý vì quá tự tin và lỗi vô ý do cẩu thả
Lỗi vô ý vì quá tự tin: Chủ thể nhận thức rõ hành vi của mình gây nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng tin rằng hậu quả đó không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được