Bộ máy nhà nước phong kiến mặc dù chưa có sự phân chia cũng như thực hiện quyền lực nhà nước thành các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, nhưng ở trung ương cũng đã hình thành nên các b
Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHENIKAA
KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN
⸎⸎⸎⸎⸎
BÀI TẬP LỚN KẾT THÚC HỌC PHẦN PHÁP LUẬT ĐẠI
CƯƠNG
Đề bài: “TÌM HIỂU PHÁP LUẬT VIỆT NAM THỜI PHONG
KIẾN”
Mã số:98
Sinh viên : PHẠM THỊ QUỲNH
Lớp : Pháp lu t đ i cậ ạ ương_1.2.(15.1… )…
Mã SV : 21011861
Trang 2HÀ NỘI, THÁNG 10/2021
Mục lục
I LỜI MỞ ĐẦU……… …….1
II PHẦN NỘI DUNG……… 2
1.Nguồn gốc của pháp luật……… 2
2.Kiểu nhà nước phong kiến, sự ra đời của chế độ phong kiến Việt Nam 2
a Kiểu nhà nước phong kiến 2
b Sự ra đời của chế độ phong kiến Việt Nam 4
3.Pháp luật việt nam thời phong kiến 4
a Bối cảnh ra đời 4
b Các bộ luật tiêu biểu 5
c Đánh giá 7
d Những giá trị đối với đương đại 7
III PHẦN KẾT LUẬN 8
IV TÀI LIỆU THAM KHẢO 8
Trang 3I LỜI MỞ ĐẦU
Việt nam là một đất nước có bề dày lịch sử lâu đời Trải qua 1000 năm bắc thuộc Lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, cả thế giới biết đến Việt Nam như một biểu tượng của tinh thần đấu tranh bảo vệ hoà bình, độc lập Từ buổi hồng hoang, cha Lạc Long Quân, mẹ Âu Cơ chia bọc trứng trăm con lên rừng xuống biển khai hoang lập địa đến thời các vua Hùng đi mở mang bờ cõi, dựng nước và giữ nước Trong suốt 1000 năm Bắc thuộc, dân tộc ta không chịu kiếp nô lệ đã đứng lên phất cờ khởi nghĩa, tiêu biểu như: khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, Lí Bí, Ngô Quyền v.v Tự hào và vinh quang thay khi một dân tộc nhỏ bé dám đương đầu với kẻ thù lớn hơn mình gấp nhiều lần
để bảo vệ mảnh đất quê hương, hồn thiêng sông núi! Để rồi sau 1000 năm ngoại bang đô hộ chúng không đồng hóa được dân ta, ngược lại bị khuất phục trước tinh thần kiên cường bất khuất của cha ông ta!
Bước vào thời kì phong kiến độc lập tự chủ, những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam được viết tiếp bởi các triều đại phong kiến huy hoàng:
“Đinh, Lý, Trần, Lê cùng Hán, Đường, Tống Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương”! Từ lời sấm truyền trên sông Như Nguyệt qua bài thơ thần của Lý Thường Kiệt – Bản tuyên ngôn đầu tiên của nước Đại Việt, đến 3 lần đánh thắng quân Nguyên Mông trên sông Bạch Đằng dưới tài cầm quân kinh bang
tế thế của danh tướng lẫy lừng Hưng Đạo Vương - Trần Quốc Tuấn! Trong Đại Cáo Bình Ngô, được coi là bản tuyên ngôn thứ 2 của nước ta, Nguyễn Trãi viết: “ Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân/ Quân điếu phạt trước lo trừ bạo” cho thấy Việt Nam là một dân tộc yêu hòa bình, luôn luôn giương cao ngọn cờ nhân nghĩa! Những trang sử vẻ vang của dân tộc được nối dài thêm với Bước chân Tây Sơn thần tốc dưới ngọn cờ chính nghĩa của người anh hùng áo vải Quang Trung - Nguyễn Huệ Tất cả đã trở thành tượng đài bất hủ về tinh thần yêu nước của dân tộc Việt Nam!
1
Trang 4II.PHẦN NỘI DUNG
1 Nguồn gốc của pháp luật.
Quan điểm: Pháp luật là hiện tượng thuộc kiến trúc thượng tầng của xã hội,
phát sinh, tồn tại và phát triển trong xã hội có giai cấp
Lịch sử hình thành:Trong xã hội nguyên thủy, tập quán tôn giáo là phương
tiện điều chỉnh
Sự phát triển về kinh tế và xã hội thay đổi tính chất các quan hệ xã hội => nhu cầu xuất hiện pháp luật
Phương thức ra đời:
Khách quan: những nguyên nhân làm xuất hiện Nhà nước (xuất hiện giai cấp, đấu tranh giai cấp và nhu cầu quản lý, giữ trật tự xã hội) là nguyên nhân làm xuất hiện pháp luật
Chủ quan: pháp luật hình thành bằng con đường Nhà nước theo 2 cách:
do Nhà nước ban hành và/hoặc thừa nhận các quy phạm xã hội
Pháp luật được thể hiện theo 4 yếu tố cơ bản sau:
Pháp luật là hệ thống những quy tắc mang tính xử sự chung
Do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận (nhà nước là người ban hành, nhà nước là người đảm bảo quyền lực của mình)
Thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển phù hợp với lợi ích, giai cấp của mình
Đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước
2 Kiểu nhà nước phong kiến , sự ra đời của chế độ phong kiến Việt Nam
Kiểu nhà nước phong kiếna,
Kiểu nhà nước phong kiến là kiểu nhà nước thứ hai trong lịch sử xã hội loài người, ra đời trên sự tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ hoặc xuất hiện trực tiếp từ sự tan rã của xã hội cộng sản nguyên thủy
2
Trang 5Kiểu nhà nước phong kiến đã tồn tại trong khoảng hơn 2000 năm ở Trung Quốc từ thế kỉ thứ Ill trước Công nguyên đến năm 1911 Ở Tây Âu nhà nước phong kiến cũng tồn tại trong khoảng hơn 1000 năm Ở vùng Trung Á tổn tại
từ thế kỉ VII đế năm 1918, ở nước Nga từ thế kỉ thứ IX đến năm 1aB1 l Bản chất của nhà nước phong kiến thể hiện ở việc Xây dựng bộ máy chuyên chính của vua chúa phong kiến và địa chủ Bộ máy nhà nước là công cụ phục vụ và bảo vệ quyền lợi của vua chúa phong kiến và địa chủ, đồng thời, là công cụ trấn áp giai cấp nông dân và những người lao động khác trong xã hội Hình thức phổ biến của nhà nước phong kiến là chính thể quân chủ chuyên chế với quyền lực vô hạn của hoàng đế Bộ máy nhà nước phong kiến mặc dù chưa có
sự phân chia cũng như thực hiện quyền lực nhà nước thành các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, nhưng ở trung ương cũng đã hình thành nên các bộ với những chức năng khác nhau, còn ở địa phương, các quan lại vừa thực hiện quyền cai trị hành chính, đồng thời, vừa là các quan toà thực hiện chức năng xét xử Kiểu nhà nước phong kiến đã tồn tại trong khoảng hơn 2000 năm ở Trung Quốc từ thế kỉ thứ Ill trước Công nguyên đến năm 1911 Ở Tây Âu nhà nước phong Kiến cũng tồn tại trong khoảng hơn 1000 năm Ở vùng Trung Á tổn tại từ thế kỉ VII đế năm 1918, ở nước Nga từ thế kỉ thứ IX đến năm 1aB1 l Bản chất của nhà nước phong kiến thể hiện ở việc Xây dựng bộ máy chuyên chính của vua chúa phong kiến và địa chủ Bộ máy nhà nước là công cụ phục
vụ và bảo vệ quyền lợi của vua chúa phong kiến và địa chủ, đồng thời, là công cụ trấn áp giai cấp nông dân và những người lao động khác trong xã hội Hình thức phổ biến của nhà nước phong kiến là chính thể quân chủ chuyên chế với quyền lực vô hạn của hoàng đế Bộ máy nhà nước phong kiến mặc dù chưa có sự phân chia cũng như thực hiện quyền lực nhà nước thành các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, nhưng ở trung ương cũng đã hình thành nên các
bộ với những chức năng khác nhau, còn ở địa phương, các quan lại vừa thực hiện quyền cai trị hành chính, đồng thời, vừa là các quan toà thực hiện chức năng xét xử
3
Trang 6b,Thời đại phong kiến Việt Nam
Là một giai đoạn phát triển tất yếu của lịch sử loài người, phù hợp với quy luật tiến hóa của lịch sử, “phong kiến cũng là một bước tiến tất nhiên của xã hội” (Hồ Chí Minh) Ở Việt Nam, chế độ phong kiến không những là giai đoạn phát triển tất yếu mà còn là giai đoạn lịch sử dài nhất trong quá trình phát triển của các chế độ xã hội có giai cấp, kể từ khi bắt đầu hình thành vào đầu thế kỷ thứ II tr.CN đến khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược (giữa thế kỷ XIX) Cũng như nhiều nước khác, giai cấp phong kiến Việt Nam là giai cấp thống trị xã hội qua nhiều thế kỷ, tích lũy nhiều kinh nghiệm quản lý xã hội
và tinh hoa
3.Pháp luật việt nam thời phong kiến
Bối cảnh ra đờia,
Từ giai đoạn đầu, trải qua hơn 1.000 năm Bắc thuộc cho đến thời kỳ đầu của nền độc lập tự chủ (triều Ngô, Đinh, Tiền Lê) chúng ta chưa từng có luật thành văn Luật trong suốt khoảng thời gian đó chỉ là luật tục – đó là phong tục, tập quán, quy phạm đạo đức… được coi như pháp luật để điều chỉnh hành
vi của con người Pháp luật chỉ chính thức thành văn và ban hành khi chế độ phong kiến Việt Nam dần trở ổn định, yêu cầu cần có một bộ luật thành văn phù hợp càng trở lên cấp thiết Năm 1042, Lý Thái Tông sai Trung thư sảnh – một cơ quan phụ trách việc ” sửa định luật lệ, chia môn loại, biên ra điều khoản” làm bộ Hình thư Đây là bộ luật thành văn đầu tiên của nước ta, được soạn thảo dựa trên luật tục, tập quán của các thời trước, mặt khác có sự tham khảo Đường luật (TQ) Các triều đại kế tiếp cũng ban hành nhiều bộ luật như: đời Trần có Hình thư, Quốc triều thống chế, Quốc triều thường lễ (1230), Hoàng triều ngọc điệp (1267), Hoàng triều đại điển (1341), Hình luật thư (1341) Đời Hồ có Đại Ngu quan chế hình luật (1401) Đời Hậu Lê có Quốc triều hình luật (1483), Luật thư (1440-42), Quốc triều luật lệnh (1442), Lê triều quan chế (1471), Thiên Nam dư hạ tập (1483), Hồng Đức thiện chính thư (1470-97), Quốc triều điều luật (1777), Khánh tụng điều lệ (1777) Đời Nguyễn có: Hoàng triều luật lệ (1815)
Trang 74
Các bộ luật tiêu biểub,
Trong lịch sử tồn tại và phát triển hàng nghìn năm, các nhà nước quân chủ
và phong kiến ở Việt Nam đã nhận thức được vai trò của luật pháp và quan tâm, đầu tư cho việc ban hành pháp luật Hệ thống pháp luật Việt Nam thời kỳ này gồm các bộ luật tổng hợp và các văn bản pháp luật khác như: Chiếu, Chỉ,
Lệ, Lệnh, Dụ, Sắc…Trong đó, các bộ luật: Hình thư (thời Lý), Quốc triều Hình luật (thời Trần), Quốc triều Hình luật (gòn gọi là bộ luật Hồng Đức -thời Lê), và Hoàng Việt Luật lệ (gòn gọi là bộ luật Gia Long - Thời Nguyễn)
là những bộ luật cổ tiêu biểu nhất được xây dựng và ban hành trong lịch sử Việt Nam (từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIX)
Hình thư là bộ luật quốc gia thành văn đầu tiên, được ban hành dưới thời nhà Lý Việc ban hành bộ luật Hình thư được đánh giá là một cột mốc quan trọng trong lịch sử lập pháp ở Việt Nam Về mặt văn bản, Bộ luật này không còn bản gốc, nhưng nội dung của nó còn được ghi chép lại trong sử cũ Căn
cứ vào những ghi chép trong sách Đại Việt sử ký toàn thư thì Hình thư là một sưu tập luật lệ có tính pháp điển Về quy mô, theo Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí, Hình thư gồm 3 quyển Về nội dung, qua những ghi chép còn lại trong sử cũ, bộ luật có những quy định về tổ chức của triều đình, quân đội và hệ thống quan lại; quy định biện pháp trừng trị đối với những hành vi nguy hiểm cho xã hội; quy định một số vấn đề về sở hữu và mua bán đất đai, tài sản; quy định về thuế…Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, bộ luật Hình thư được ban hành để khẳng định quyền lợi, địa vị của nhà nước phong kiến và giai cấp quý tộc quan liêu, đồng thời là công cụ để ổn định xã hội, giữ gìn kỷ cương, bảo vệ sản xuất nông nghiệp
Kế thừa và phát triển tư duy lập pháp từ Thời Lý, nhà nước Việt Nam dưới thời Trần tiếp tục quan tâm đến vấn đề xây dựng pháp luật Từ năm
1226, ngay sau khi Trần Cảnh lên ngôi, nhà Trần đã định các điều luật lệnh và tiếp tục bổ sung vào các năm 1230, 1244 Trên cơ sở đó, năm 1341, vua Trần
Dụ Tông đã sai Nguyễn Trung Ngạn và Trương Hán Siêu soạn ra bộ Quốc
Trang 85
triều hình luật (còn gọi là Hình thư) gồm một quyển để ban hành 4 Về nội dung, ngoài việc kế thừa những quy định có từ thời Lý, bộ luật Hình thư của thời Trần đã có những bổ sung và điều chỉnh nhất định, đặc biệt là những quy định về hình phạt, thủ tục tố tụng và chế độ tư hữu đất đai, tài sản Việc ban hành bộ Hình thư của nhà Trần cũng là dấu mốc quan trọng trong tiến trình phát triển của pháp luật Việt Nam
Bộ luật cổ quan trọng thứ ba trong lịch sử lập pháp Việt Nam là Quốc triều Hình luật (hay còn gọi là Bộ luật Hồng Đức) 5, được ban hành dưới thời
Lê Thánh tông năm 1483, trên cơ sở sưu tập tất cả các điều luật, các văn bản pháp luật đã ban bố và thi hành trong các đời vua trước, được sửa chữa, bổ sung và san định lại cho hoàn chỉnh Căn cứ vào bản in chữ Hán hiện còn được lưu trữ tại Viện nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội ( ký hiệu A.341), đã được Viện Sử học và Nhà xuất bản Pháp lý phối hợp dịch ra chữ quốc ngữ và ấn hành năm 1991, thì bộ luật gồm 722 điều, chia thành 12 chương, 6 quyển Về nội dung, ngoài những quy định chung, bộ luật đã dành từng chương để quy định các vấn đề cụ thể thuộc nhiều ngành luật (theo cách phân loại hiện nay) như: hành chính, hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình, tố tụng…Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước “ Quốc triều hình luật là thành tựu có giá trị đặc biệt quan trọng trong lịch sử pháp luật Việt Nam” Được ban hành trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ của chế độ phong kiến trung ương tập quyền, Quốc triều hình luật không chỉ là bộ luật chính thức của Việt Nam dưới thời Lê Sơ, mà còn được các triều đại khác sau này sử dụng cho đến hết thế kỷ XVIII
Sau khi triều Lê suy yếu,Việt Nam rơi vào tình trạng nội chiến kéo dài suốt 3 thế kỷ, cho đến khi Nguyễn Ánh lập ra triều Nguyễn năm 1802 Để củng cố chế độ phong kiến, bảo vệ quyền lực vương triều và ổn định xã hội sau một thời gian dài biến động, ngay sau khi lên ngôi, vua Gia Long đã lập tức sai quần thần biên soạn một bộ luật mới Năm 1815, bộ Hoàng Việt Luật
lệ (còn gọi là Bộ luật Gia Long) đã được ban hành Theo bản dịch từ bản khắc
in chữ Hán, Hoàng Việt Luật lệ gồm 398 điều, chia thành 22 quyển Các điều luật được phân loại và sắp xếp theo 6 lĩnh vực, tương ứng với nhiệm vụ của 6
Bộ, gồm các nội dung chính như: quy định về tổ chức nhà nước và hệ thống
Trang 9quan lại (lại luật); quy định về tội danh và hình phạt (hình luật); quy định về quản lý dân cư và đất đai (hộ luật); quy định về ngoại giao và nghi lễ cung 6
đình (lễ luật); quy định về tổ chức quân đội và quốc phòng (binh luật); quy định về xây dựng, bảo vệ đê điều, lăng tẩm (công luật) Cùng với Quốc triều hình luật thời Lê, Hoàng Việt Luật lệ được đánh giá là một trong hai bộ luật tổng hợp có quy mô lớn và nội dung phong phú Bộ luật được xây dựng trên
cơ sở khảo xét, tham chiếu bộ luật Hồng Đức và bộ luật của nhà Mãn Thanh (Trung Quốc), tuy nhiên có nhiều phần đã được chỉnh sửa và lược bỏ cho phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam lúc bấy giờ
c, Đánh giá
Nhìn chung pháp luật phong kiến còn mang nặng tính đẳng đặc quyền,đẳng cấp, chịu ảnh hưởng sâu sắc của các tư tưởng tôn giáo với những hình phạt dã man, tàn bạo, phát triển không toàn diện (nặng về hình sự, nhẹ về dân sự; nặng về công pháp, nhẹ về tư pháp), thể hiện sự bất bình đẳng về giới tính( Ví dụ; chế độ đa thê, phụ nữ không được tham gia triều chính,…) Dù vậy ta không cũng thể phù nhận những giá trị của pháp luật phong kiến đối với nhà nước Việt Nam đương đại
d, Những giá trị đối với đương đại
Thông qua những công trình nghiên cứu, các nhà khoa học, các nhà quản
lý đều thống nhất cho rằng, mặc dù khác nhau về thể chế chính trị và đã được ban hành cách đây hàng trăm năm, nhưng các bộ luật cổ của Việt Nam có rất nhiều giá trị đối với đương đại mà chúng ta đã, đang và cần tiếp tục kế thừa, tham khảo trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền, xây dựng xã hội dân chủ và tiến bộ Nhờ vào việc nghiên cứu các bộ luật phong kiến Việt Nam ta
đã kế thừa và có thể tham khảo được một số kinh nghiệm về kỹ thuật lập pháp(cách phân chia sắp xếp các điều luật,cách tổ chức và thể hiện các quy phạm pháp luật, ), các bộ luật cổ Việt Nam còn để lại cho đương đại những giá trị về tính tiến bộ và tính nhân văn sâu sắc( những quy định xử phạt hạn chế tham nhũng, bảo vệ người già và trẻ nhỏ, bảo vệ các phẩm chất tốt đẹp của con người,…)
Trang 10Ví dụ; + Theo quy định tại điều 138 - BLHĐ, quan lại nhận hối lộ từ 01 đến 09 quan tiền bị phạt biếm tước hoặc bãi chức; từ 10 dến 19 quan tiền bị phạt đồ (làm khổ sai) hoặc lưu đày; từ 20 quan tiền trở lên bị phạt chém
7
+ Theo điều 31 - BLGL, quan lại nhận hối lộ phải chịu hình phạt thấp nhât là 70 trượng, cao nhất là treo cổ Điều 11, Quyển 15 BLGL quy định: Quan lại dùng uy thế (chức vụ) vô cớ bắt trói người và tra khảo họ nơi tư gia (không kể có thương tích hay không thương tích) thì tăng hơn người thường 2 bậc tội, nếu nạn nhân chết thì kẻ ấy bị xử treo cổ
III PHẦN KẾT LUẬN.
Nghiên cứu các bộ luật cổ Việt Nam từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIX, chúng ta
có quyền tự hào về một di sản pháp luật mà những thế hệ trước đây đã dành nhiếu công sức và trí tuệ để xây dựng, ban hành Những giá trị tích cực và tốt đẹp đã, đang và sẽ tiếp tục được tham khảo và phát huy trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền, xây dựng một xã hội dân chủ và phát triển tiến
bộ Hơn 60 năm qua, nhà nước Việt Nam đã tiếp tục khẳng định và phát triển những quan niệm đúng đắn và tiến bộ của các nhà nước quân chủ về vị trí và vai trò quan trọng của pháp luật trong quản lý và điều hành đất nước Những quy định về trách nhiệm của quan lại, về việc xử phạt những hành vi tiêu cực đang được khai thác và phát huy trong việc triển khai công cuộc cải cách hành chính và phòng chống tham nhũng Những kinh nghiệm và hạn chế trong lĩnh vực lập pháp cũng đã và đang được các nhà làm luật Việt Nam đương đại tham khảo và áp dụng Những giá trị nhân văn sâu sắc của các bộ luật xưa cũng là những cơ sở để giáo dục truyền thống, xây dựng những con người Việt Nam có thể hội nhập với thế giới nhưng vẫn giữ gìn bản sắc dân tộc đã được khẳng định và bảo tồn trong suốt chiều dài lịch sử.Bên cạnh đó, những yếu tố tiêu cực, không phù hợp với xã hội ngày nay cũng đã và đang được khắc phục và hạn chế Với ý nghĩa đó, những giá trị đương đại của các bộ luật
cổ Việt Nam là vấn đề cần được tiếp tục khảo cứu, ghi nhận và phổ biến
IV Tài liệu tham khảo