1. Trang chủ
  2. » Tất cả

tiểu luận kinh kế chính trị maclenin TƯ BẢN CHO VAY VỚI VẤN ĐỀ TÍN DỤNG ĐEN

14 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 610,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 1 Trường ĐH GTVT TP Hồ Chí Minh Khoa Lý Luận Chính Trị Tiểu luận giữa học phần Môn Kinh Tế Chính Trị Mac Lênin Chủ Đề 9 TƯ BẢN CHO VAY VỚI VẤN ĐỀ TÍN DỤNG ĐEN (HOẶC CẦM ĐỒ, CHƠI HỤI ) Ở VIỆT NAM HIỆ.

Trang 1

1

1

Trường: ĐH GTVT TP Hồ Chí Minh

Khoa: Lý Luận Chính Trị

Tiểu luận giữa học phần Môn : Kinh Tế Chính Trị Mac-Lênin

Chủ Đề 9 : TƯ BẢN CHO VAY VỚI VẤN ĐỀ TÍN DỤNG

ĐEN (HOẶC CẦM ĐỒ, CHƠI HỤI…) Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Giảng viên hướng dẫn : Vũ Quốc Phong

Hồ Chí Minh năm 2020

Trang 2

Mở đầu

- Tư bản cho vay hay tín dụng đen đều là hình thức luân chuyển tiền khá phổ biến trong nền kinh tế thị trường hiện nay Mà nắm bắt được chúng đối với bất kỳ một ai cũng đều là việc có lợi, đặc biệt với những bạn sinh viên hoặc bất cứ ai đang mang trong mình mộng khởi nghiệp thành công nhưng chưa huy động được vốn Tuy có thời gian xuất hiện điều kiện hình thành và các mặt tốt xấu khác nhau nhưng bản cho vay và tín dụng đen đều là cho vay và xinh lời Việc tìm hiểu rõ tư bản cho vay, tín dụng đen xẽ giúp người kinh doanh biết lúc nào nên Đi vay và lúc nào không nên Đi vay Cũng từ việc tìm hiểu này nên cẩn thận hơn với tín dụng đen, thông minh hơn trong

những tình huống vay vốn

- Ở Việt Nam hiện nay với việc nhiều người đang dấn thân vào con đường khởi nghiệp thì những người có Tiền mà ko biết nên đầu tư gì và người có ý tưởng kinh doanh nhưng lại không điều động được vốn lại cần nhau hơn Từ đây tư Bản cho vay xuất hiện ngày càng nhiều với nhiều hình thức khác nhau điều này càng khiến cho những kẻ có lòng tham tiến hành mưu lợi bằng các hình thức tín dụng đen hoặc dưới hình thức hụi rồi âm thầm bỏ trốn

- Để tìm hiểu rõ hơn về tư bản cho vay, tín dụng đen hoặc các hình thức khác chúng ta hãy vào phần nội dung chính của bài tiểu luận

Trang 3

Chương 1: Tư Bản Cho Vay, Tỉ Suất, Lợi Tức

Lợi Ích Trong Hoạt Động Cho Vay

1 Tư bản cho vay.

1.1 Khái niệm

Tư bản cho vay là một khái niệm của kinh tế chính trị Mác-Lenin và là tư bản tiền tệ tạm thời nhàn rỗi mà người chủ của nó cho nhà tư bản khác sử dụng trong thời gian nhất định để nhận được số tiền lời nào đó (gọi là lợi tức) Tư bản cho vay là một hình thức tư bản xuất hiện từ trước chủ nghĩa tư bản Điều kiện tồn tại của tư bản cho vay là sản phẩm trở thành hàng hóa và tiền tệ đã phát triển các chức năng của mình Trước chủ nghĩa tư bản, hình thức đặc trưng của

tư bản cho vay là tư bản cho vay nặng lãi (cho vay với lãi suất cắt cổ, lãi mẹ đẻ lãi con)

Tín dụng đen còn gọi là tín dụng nặng lãi, đây là loại hình tín dụng phi chính thức, với hoạt động cho vay mượn lẫn nhau giữa cá nhân và cá nhân, giữa cá nhân và

tổ chức… không thông qua hệ thống ngân hàng và các tổ chức tài chính được Nhà nước cấp phép

➢ Tư bản cho vay và tín dụng đen đều là tư bản tiền tệ tạm thời nhàn rỗi mà

người chủ của nó cho nhà tư bản khác sử dụng trong thời gian nhất định

để nhận được số tiền lời nào đó Tuy nhiên tín dụng đen lấy lãi thường vượt quá mức quy định của nhà Nước không thông qua hệ thống ngân hàng và các tổ chức tài chính được Nhà nước cấp phép

hình 1.1 cảm giác Tiền đẻ ra Tiền của tư bản cho vay

Trang 4

1.2 Đặc điểm của tư bản cho vay

- Quyền sở hữu tách rời quyền sử dụng tư bản Đối với người cho vay nó là tư bản sở hữu, đối với người đi vay nó là tư bản sử dụng

- Tư bản cho vay là một hàng hóa đặc biệt, vì khi cho vay người bán không mất quyền

sở hữu, còn người mua chỉ được mua quyền sử dụng trong thời gian nhất định Và khi

sử dụng thì giá trị của nó không mất đi mà còn tăng lên giá cả của nó không do giá trị

mà do giá trị sử dụng của tư bản cho vay, do khả năng tạo ra lợi tức của nó quyết định Lợi tức chính là giá cả của hàng hóa tư bản cho vay

- Tư bản cho vay là tư bản được "sùng bái" nhất Do vận động theo công thức T- T' nên nó gây ấn tượng hình thức tiền có thể đẻ ra tiền

- Sự hình thành tư bản cho vay là kết quả của sự phát triển quan hệ hàng hóa tiền tệ đến một trình độ nhất định làm xuất hiện một quan hệ là: có nơi tiền tệ tạm thời nhàn rỗi, có nơi lại thiếu tiền để hoạt động

- Tư bản cho vay ra đời góp phần vào việc tích tụ, tập trung tư bản, mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, đẩy nhanh tốc độ chu chuyển của tư bản Do đó nó góp phần làm tăng thêm tổng giá trị thặng dư trong xã hội

Người A dư 100 triệu đồng, còn người B thì cần 100 triệu để mở một cái quán nhỏ để kinh doanh Vì vậy người A cho người B vay 100 triệu đồng với lãi suất 10% / năm Thì 100 triệu này thuộc quyền sở hữu của người A, vậy người A có quyền nắm giữ, sử dụng và định đoạt số tiền này Còn người B khi nhận được số tiền này thì được quyền

sử dụng nhưng không có quyền sở hữu, sau một năm thì phải trả lại số tiền cho người

A với số tiền 11 triệu đồng Sau một năm người A sinh lời ra được 10 triệu đồng khi cho người B vay với lãi suất 10%/ năm

Và hiện nay việc cho vay theo kiểu tư bản hiện nay ở Việt Nam đang rất thịnh hành và

ưa chuộng Bằng chứng cho việc đó thì hàng loạt các ngân hàng được mọc lên trên khắp tỉnh thành ở Việt Nam ( tính đến năm 2020 có tổng cộng 49 ngân hàng tại Việt Nam) và các chi nhánh được mở rộng trải dài đến 63 tỉnh thành, không những thế và các tiệm cầm đồ, chơi hụi, hay là những người có điều kiện hơn một chút thì cho lại cho người khác vay (vay nóng, ) Vì những lợi ích mà nó mang lại nên nhiều người rất ưa thích và nó dần dần được phát triển một cách nhanh chóng Nó giúp mở rộng quy mô sản xuất, giúp nhanh chống có nguồn vốn Bên cạnh những mặt tích cực mà

nó mang lại thì cũng có những mặt trái song song đó Những vụ giết người, tự tử, trộm cướp do không trả nỗi số tiền vay trước đó

➢ Tư bản cho vay là một loại hàng hoá đặc biệt Lợi tức chính là giá cả của

➢ Tư bản cho vay vận động theo công thức T-T'.Sự hình thành tư bản cho

vay là sự phát triển của mối quan hệ : có nơi tiền tệ tạm thời nhàn rỗi, có nơi lại thiếu tiền để hoạt động

Trang 5

➢ Tư bản cho vay ra đời góp phần tăng thêm giá trị thặng dư cho xã hội

1.3 Lợi tức và tỷ suất lợi tức

A) lợi tức

Lợi tức là một phần của lợi nhuận bình quân mà tư bản đi vay trả cho tư bản cho vay về quyền sở hữu tư bản để được quyền sử dụng tư bản trong một thời gian nhất định, kí hiệu là z

Cụ thể:

Góc độ người cho vay hay nhà đầu tư vốn

Lợi tức được hiểu là số tiền tăng thêm trên số vốn đầu tư ban đầu trong một khoảng thời gian nhất định

Khi nhà đầu tư đem đầu tư một khoản vốn, nhà đầu tư sẽ thu được một giá trị trong tương lai lớn hơn giá trị đã bỏ ra ban đầu và khoản chênh lệch này được gọi là lợi tức

Ở góc độ người đi vay hay người sử dụng vốn

Lúc này lợi tức được hiểu là số tiền mà người đi vay phải trả cho người cho vay (là người chủ sở hữu vốn) để được sử dụng vốn trong một thời gian nhất định Trong thời gian cho vay, người cho vay có thể gặp phải những rủi ro như: Người vay không trả lãi hoặc không hoàn trả vốn vay Những rủi ro này sẽ ảnh hưởng đến mức lợi tức mà người cho vay dự kiến trong tương lai

Khoản tiền đi vay (hay bỏ ra để cho vay) ban đầu là vốn gốc Số tiền nhận được từ khoản vốn gốc sau một thời gian nhất định gọi là giá trị tích lũy

Thực tế, ở mỗi trường hợp khác nhau, lợi tức sẽ có tên gọi khác nhau

• Trong đầu tư chứng khoán, lợi tức có thể gọi la cổ tức

• Trong tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi kì hạn được gọi là lãi hay tiền lãi

• Trong các hoạt động đầu tư kinh doanh khác, lợi tức có thể gọi là lợi nhuận, tiền lời

Ví dụ:

Bạn vay ngân hàng 100.000.000 đồng trong thời hạn 6 tháng với lãi suất 10% Sau 6 tháng bạn phải trả ngân hàng 105.000.000 đồng Trong đó, 100.000.000 đồng là số tiền gốc mà ngân hàng cho bạn vay và 5.000.000 đồng là số tiền lãi

Các loại lợi tức:

- Lợi tức trên cơ sở chiết khấu ngân hàng

Thông thường dựa trên cơ sở chiết khấu, trái phiếu kho bạc đucợ niêm yết giá, tức là nó

sẽ nêu rõ tổng số tiền mà khách hàng đang nắm giữ trái phiếu được trả khi đáo hạn và nhà đầu tư trả giá thấp hơn để mua nó Lợi nhuận được tạo ra nhờ sự chênh lệch giữa hai con số đó

Trang 6

Để tính được lợi tức phải chuyển số tiền chênh lệch đó sang tỷ lệ phần trăm hàng năm Trường hợp này, lợi tức sẽ được tính bằng công thức đơn giản là khoản chiết khấu chia cho mệnh giá, nhân với 360 và sau đó chia cho số ngày còn lại đến khi đáo hạn Lợi tức này sẽ không tính đến tiềm năng tỷ suất lợi nhuận kép và giả định rằng bạn không có lựa chọn đầu tư nào khác

Lợi tức hàng năm trên cơ sở chiết khấu ngân hàng = 𝑫

𝑭⋅𝟑𝟔𝟎

𝑻

Trong đó:

D – giá trị chiết khấu = mệnh giá – số tiền phải trả

F – mệnh giá

T – số ngày đến khi đáo hạn

- Lợi tức theo thời gian nắm giữ

Đây là loại lợi tức được tính trên cơ sở thời gian nắm giữ Do vậy, không cần phải biết chính xác số ngày như các tính lợi tức chiết khấu ngân hàng

Nếu các cách tính lợi nhuận khác dựa trên cơ sở thời gian hàng năm thì lợi nhuận này chưa được chuyển đổi thành lợi nhuận một năm Bên cạnh đó, các khoản lãi hay tiền giải ngân sẽ thanh toán tại thời điểm đáo hạn

HPY = 𝒑𝟏−𝒑𝟎+𝑫𝟏

𝒑 𝟎

Trong đó:

P1 – số tiền nhận được khi đáo hạn

P0 – giá mua của khoản đầu tư

D1 – tiền lãi nhận được hoặc số tiền được trả vào ngày đáo hạn

Lợi tức hiệu dụng năm

Đây là loại lợi tức có thể cung cấp cách tính lợi tức chính xác hơn, đặc biệt là khi có sẵn các cơ hội đầu tư thay thế áp dụng việc tính lãi kép Lúc này lãi kép chính là lãi thu được

từ lãi

EPY = (𝟏 + 𝑯𝑷𝒀)𝟑𝟔𝟓𝒕 − 𝟏

Trong đó:

HPY - lợi tức trong khoảng thời gian đầu tư

t – số ngày đucợ tính đến thời điểm đáo hạn

Trường hợp khoản đầu tư giảm giá trị

Trang 7

Đối với các trường hợp thua lỗ, cách tính này vẫn không thay đổi; lỗ trong thời gian nắm giữ cần đucợ cho vào khi tính lợi tức hiệu dụng năm Chúng ta vẫn cộng một với HPY

Ví dụ :

1 + (-0,5) = 0,95

Nếu HPY lỗ 5% trong 180 ngày thì EAY sẽ là 𝟎, 𝟗𝟓𝟑𝟔𝟓𝟏𝟖𝟎 −𝟏

tương đương -9,48%

- Lợi tức thị trường tiền tệ

Lợi tức thị trường tiền tệ hay gọi là lợi tức tương đương chứng chỉ tiền gửi Chỉ số này dùng để so sánh lợi tức của trái phiếu kho bạc với lãi từ một công cụ thị trường tiền tệ Theo đó, công cụ thị trường tiền tệ niêm yết giá dựa trên cơ sở 360 ngày nên lợi tức thị trường tiền tệ cũng được tính dựa trên 360 ngày Những khoản đầu tư này thường ngắn hạn, đồng thời được phân loại như các khoản tương đương tiền

MMY = 𝟑𝟔𝟎(𝟑𝟔𝟎−𝒕.𝒚𝒃𝒅)

𝒚𝒃𝒅

Trong đó:

Ybd - lợi tức trên cơ sở chiết khấu ngân hàng đã tính trước đó

t – số ngày được tính đến thời điểm đáo hạn

Tỷ suất lợi tức

Tỷ suất lợi tức (lãi suất) là tỷ số giữa lợi tức thu được (phải trả) so với vốn đầu tư (vốn vay) trong một đơn vị thời gian Đơn vị thời gian là năm (trừ trường hợp cụ thể khác) Trong lĩnh vực vay vốn thì tỷ suất lợi tức được hiểu đơn giản là lãi suất cho vay

Ví dụ:

Bạn vay ngân hàng 20.000.000 đồng trong 1 năm, sau 12 tháng bạn phải trả cho ngân hàng tổng số tiền là 23.600.000, trong đó 20.000.000 đồng là tiền gốc, 3.600.000 đồng

là tiền lãi

Lãi suất ngân hàng cho vay = 1.950.000/20.000.000 = 0,18

Tỷ suất lợi tức = 18%/năm

Người cho vay và người đi vay thỏa thuận với nhau về tỷ suất lợi tức

B) Tỷ suất lợi tức

Tỷ suất lợi tức là tỷ lệ phần trăm giữa tổng số lợi tức và số tư bản tiền tệ cho vay trong một thời gian nhất định, kí hiệu là z’

z’= 𝒛

𝑲𝒄𝒗.100%

trong đó: Kcv là số tư bản cho vay

Trang 8

Tỷ suất lợi tức phụ thuộc vào tỷ suất lợi nhuận bình quân và quan hệ cung – cầu về tư bản cho vay Giới hạn vận động của tỷ suất lợi tức là: 0 < z’ <p’

Ví dụ:

Giả sử ông A mua trái phiếu mệnh giá 1000 $,lãi suất coupon là 8%

Sau một năm ông ta bán với giá 1200 ( chú ý là giá bán có thể cao hơn mệnh giá) Lúc này lãi suất hiện hành (current yield) = (8% x 1000)/1000 = 8%

Mức lời hoặc lỗ của vốn = (1200 - 1000)/1000 = 20%

Tỷ suất lợi tức = 8%+20% = 28%

Tổng quát lại thì từ 1000 ban đầu,sau 1 năm ông B có được 80+1200,như vậy ông ta lời 280$

Tỷ lệ tiền lời so với tiền vốn là 280/1000 = 28%

(Bỏ ra 1 USD thì sẽ lời 0.28 USD sau 1 năm)

Trường hợp nếu sau 1 năm ông ta chỉ bán được với giá 900USD thì lúc này tính xem ông ta lời hay lỗ

Lúc này lãi suất hiện hành (current yield) = (8% x 1000)/1000 = 8%

Mức lời hoặc lỗ của vốn = (900 - 1000)/1000 = -10%

Tỷ suất lợi tức = 8%+(-10%) = -2%

Tổng quát lại thì từ 1000 ban đầu,sau 1 năm ông B có được 80+900,như vậy ông ta lỗ

1000 - 980 = 20USD

Tỷ lệ tiền lỗ so với tiền vốn là 20/1000 = 2%

(Bỏ ra 1 USD thì sẽ lỗ 0.02 USD sau 1 năm)

Phân biệt lãi suất và lợi tức

Có thể thấy, lợi tức và lãi suất nó có mối liên hệ mật thiết với nhau Theo đó, để xác định khả năng sinh lợi của vốn cho vay người ta đã so sánh lợi tức với vốn cho vay hình thành nên lãi suất tín dụng Mà lãi suất tín dụng là tỷ lệ so sánh giữa số lợi tức thu được với số vốn cho vay phát ra trong một thời kỳ nhất định

Như vậy, lãi suất tín dụng chính là sự cụ thể hoá của lợi tức tín dụng Có thể hiểu nó là cái giá của quyền được sử dụng vốn trong một thời gian nhất định, mà người sử dụng phải trả cho người sở hữu nó

➢ - lợi tức là một phần của lợi nhuận bình quân, kí hiệu là Z

- Phân loại lợi tức : + lợi tức trên cơ sở chiết khấu ngân hàng

Trang 9

+ lợi tức theo thời gian nắm giữ

+ lợi tức thị trường Tiền tệ

➢ - ti xuất lợi Tức là tỉ lệ phần trăm giữa Z và số tư bản Tiền tệ cho vay

trong khoảng thời gian nhất định, kí hiệu là Z’

Công thức : z’= 𝒛

𝑲𝒄𝒗.100%

➢ Phân biệt lợi tức và tỉ suất lợi tức : lãi suất là sự cụ thể hoá của lợi tức,

lãi xuất là giá của quyền được sử dụng vốn trong một thời gian nhất định,

mà Người sử dụng phải trả cho người sở hữu nó

Hình 1.2

1.4 SỰ PHÂN CHIA LỢI ÍCH CHO HOẠT ĐỘNG CHO VAY

- Cho vay còn gọi là hoạt dộng tín dụng , là một bên ( bên cho vay) cung cấp nguồn tài chính cho đối tượng khác (bên đi vay) trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho bên vay trong một thời hạn thoả thuận và thường kèm theo một khoảng lãi suất

Do hoạt động này làm phát sinh một khoản nợ nên bên cho vay còn gọi là chủ nợ

Do đó tài chính tín dụng phản ánh mối quan hệ giữa hai bên – Một bên là người cho vay, một bên là người đi vay Quan hệ hai bên ràng buộc bằng tín dụng thỏa thuận theo thời gian cho vay, lãi suất phải trả

Vd: Khi một người gặp phải khó khăn về tài chính thì khó tránh khỏi việc đi vay và

họ tìm đến các hoạt động cho vay Hai bên sẽ thỏa thuận khoản cho vay, thời gian hoàn trả và mức lãi suất mà bên cho vay yêu cầu

- Việc vay mượn nói theo nghĩa đơn giản là kích thích tiêu dùng, một tiến trình mang tính chu kỳ, và mang tính lợi nhuận

Vd: Để mua một cái gì đó mà bạn không đủ khả năng bản cần phải chi tiêu nhiều hơn số tiền mà bạn kiếm được đề thực hiện được điều này , về cơ bản là bạn đã mượn tiền từ chính bản thân bạn trong tương lai Điều này đồng nghĩa với việc bạn phải chi tiêu ít hơn trong tương lai khi bạn thực hiện trả nợ Điều đó tương tự như

Trang 10

một chu trình mang tính chu kỳ Về cơ bản bất cứ khi nào bạn đi vay là bạn tao ra một chu kỳ

=> Nguyên tắc tài chính trong hoạt động tín dụng :

+ Cho vay phải theo hướng mục tiêu, kế hoạch sản xuất kinh doanh của người vay vốn phù hợp với kế hoạch sản xuất phát triển kinh tế xã hội của nhà nước

+ Hoàn trả vốn và lãi đúng thời hạn

+ Cho vay có giá trị tương đương làm bảo đảm Nguyên tắc này đặt ra theo yêu cầu tất yếu khách quan của quy luật lưu thông tiền tệ , đòi hỏi các ngân hàng khi cấp tín dụng, phải dựa trên cơ sở thế chấp hợp pháp, và có các vật tư có giá trị tương

đương Các giá trị tương đương làm bảo đảm có thể là tài sản cố định; vật tư hàng hóa trong kho hay đang trên đường vận chuyển , các loại giấy tờ có giá trị , các quyền về tài sản

- Thực chất hoạt động tài chính tín dụng là biểu hiện mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tín dụng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình tái sản xuất và đời sống, theo nguyên tắc hoàn trả Hoạt động của tài chính tín dụng có sự vận động đặc biệt của giá cả

- Hoạt động tài chính tín dụng thúc đẩy quá trình tái sản xuất mở rộng và góp phần thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn , tiết kiệm chi phí lưu thông xã hội, góp phần thực hiện chính sách xã hội

➢ Hoạt động cho vay hoạt động dựa trên công thức T-T' của tư bản cho

vay bên cho vay cung cấp nguồn tài chính cho bên đi vay trong đó bên

đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho bên vay trong một thời hạn thoả thuận

và thường kèm theo một khoảng lãi suất

➢ Hoạt động Cho vay cũng có những nguyên tắc của nó như ở trên

Chương 2 : Tín dụng, cầm đồ, chơi hụi… ở Việt Nam hiện nay

2.1 Khái niệm

- tín dụng :Thực chất, tín dụng là biểu hiện mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tín dụng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình tái sản xuất và đời sống, theo nguyên tắc hoàn trả

- Cầm đồ (hoặc cầm cố) là một giải pháp tài chính có hợp đồng và có kỳ hạn, qua việc

thế chấp tài sản phi tiền mặt (vàng, trang sức quý và các vật dụng gia đình có giá trị

Ngày đăng: 05/11/2022, 15:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w