1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Bản sắc văn hóa việt nam phần 2

417 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 417
Dung lượng 27,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phồn thứ II GIAO LƯU VĂN HÓA Chương V BẢN SẮC VIỆT NAM TRONG GIAO LƯU VĂN HÓẠ, NỀn t ả n g Củ a g ia o l ư u QUỐC t Ế Nói đến bản sắc văn hóa là nói đến cái phần ổn định trong văn hóa Nhưng cái phần ổ[.]

Trang 1

Phồn thứ II

GIAO LƯU VĂN HÓA

Chương V

BẢN SẮC VIỆT NAM TRONG GIAO LƯU VĂN HÓẠ,

NỀn t ả n g Củ a g i a o l ư u QUỐC t Ế

Nói đến bản sắc văn hóa là nói đến cái phần

ổn định trong văn hóa N hưng cái p h ần ổn định này không phải là một vật, m á là m ột q u an hệ, cho nên không th ể nào nh ìn th ấy nó bằng m ắt được Một th í dụ: Con người làm xiếc trê n đây Anh ta

có th ể làm mọi động tác kỳ quặc đến đâu cũng được, nhưng với m ột điều kiện là trọng tâm của an h ta phải rơi đúng vào sợi dây N ếu trọng tâm của anh

ta rời khỏi sợi dây, lập tức a n h ta ngã xuống Một văn hóa như văn hóa V iệt N am cũng vậy Nó có thể th ay đổi theo nhiều cách ta không tà i nào đoán

h ế t được, nhưng phải duy trì m ột th ứ quan hệ như

Trang 2

kiểu trọng tâm , rơi đúng váo cái dây của người nhào lộn trê n đây N ếu không nó sẽ bị ta n vỡ, biến m ất.Duy trì bản sắc văn hóa, hiểu theo cách nhìn náy không có nghĩa là đóng cửa lại, chỉ chấp nhận

m ột cách giải thích, chỉ chấp n h ậ n một quyển sách,

dù đó là th á n h kinh, m à phải thích ứng vói mọi sự

th ay đổi N hư vậy có nghla là phải chấp n h ận mọi tiếp xúc, mọi quan hệ Không có văn hóa tự lực cánh sinh Không có văn hóa tự túc Vào thời Tự Đức, ta đã chủ trương văn hóa tự túc, kết quả là

đã m ất nước

Có h ai kiểu tiếp xúc Có kiểu tiếp xúc chạy theo

đồ vật, cái bã của văn hóa người ta Một số tộc người trong giai đoạn h ậ u công nghiệp đã bán hết

tà i sản th iên nhiên để m ua ô tô, sản phẩm tiêu dùng rồi để chuốc lấy những cặn bã của cái gọi

là p h ản văn hóa: bệnh AIDS, n ạ n m ãi dâm, thói chạy theo xác th ịt, đồng tiên K êt quả chỉ có một

th iểu số thống trị giàu n ứ t đố đổ vách, còn nhân dân lao động th ì không được gì, phải chịu những

h ậ u quả ta i hại của phản văn hóa Chính vì vậy

Đ ảng chủ trương gìn giữ bản sắc dân tộc, xây dựng

m ột xã hội công bằng, giàu có và văn minh

Cách tiếp xúc th ứ hai lả học tập người ta để nắm được chính cái tin h th ầ n đã tạo nên được một văn hóa cao hơn m ình, th ậm chí đã dẫn đến tình trạ n g nô dịch được mình Rồi đổi mới văn hóa của

m ình bằng những đóng góp tin h th ầ n của nền văn hóa mới, nhưng không hề bỏ m ất mình; trá i lại làm cho m ình m ạnh lên, tạo nên được mọi sản phẩm

Trang 3

người ta dùng để lôi cuốn m ình, trong khi giữ vững được nhứng yếu tố tạo th á n h cái tố t đẹp của văn hóa m ình, tức là không để cho trọng tâm rời khỏi sợi dây trong cuộc m úa trên dây này.

Trong tiếp xúc chắc chắn có th ay đổi, có bỏ nhữ ng điều khi xưa cho là thích hợp như ng nay không thích hợp nữa, để theo cái mói, nhưng th ay đổi không phải để làm đầy tớ m à để làm chủ đ ấ t nước m ình

Sự th ay đổi có thể là cực đoan Thí dụ trong sự tiếp xúc với văn hóa T rung Quốc đã có những th ay đổi cực đoan: theo Nho giáo, dùng chữ H án làm văn tự chính thức, lấy chế độ th i cử lảm thước đo duy n h ấ t

để đào tạo quan lại Trong sự tiếp xúc với văn hóa Pháp cũng có những th ay đổi cực đoan: bỏ chữ

H án theo chữ quốc ngữ ơ một vài người có xu hướng

coi khinh "nông d â n ", xem Nho giáo đồng nghĩa với

phong kiến Trong tiếp th u văn hóa XHCN cũng có những điều cực đoan: nhìn văn hóa dưới góc độ giai cấp; tổ chức xã hội, kin h tế, văn hóa theo khuôn

m ẫu các nước XHCN N hưng nh ìn kỹ, trong suốt lịch sử tiếp xúc văn hóa trước sau đều do bản sắc văn hóa quy định, và những sai lệch được điều chỉnh

Đó là th ay đổi để giữ hay giành cho kỳ được độc lập dân tộc C hính vì vậy m à dù có chấp n h ậ n văn hóa H án, nước V iệt N am vẫn giữ vững độc lập suốt một nghìn năm không bị H án hóa Dù có tiếp

th u văn hóa Pháp, nước Việt Nam lại đi theo chủ nghĩa Mác - Lênin giành lại độc lập dân tộc Dù có theo CNXH, nước Việt Nam vẫn n h a n h chóng mở cửa tự đổi mới để bước vào xu hướng hiện đại m à

Trang 4

không hề gây nên một sự xáo động nào trong xã hội Trước sau, đây là nhừng sự tiếp xúc làm giàu bản sắc văn hóa dân tộc Nói một cách hình tượng, văn hóa Việt N am như một cây đại th ụ mọc tủ

m iếng đ ấ t Đông Nam Á Đen một giai đoạn lịch sử, cái cây ấy tiếp hợp với một cái m ầm khác, nguồn gốc T rung Quốc N hưng cái quả của nó mang hai

ưu điểm của hai nền văn hóa mà không phải là cái quả của T rung Quốc Rồi sự tiếp xúc với Pháp, với chủ nghĩa xã hội, với Mỹ ở một nử a đ ất nước cũng

là những tiếp hợp như vậy

Có hai cách tiếp hợp Cách th ứ n h ấ t là do tình thế b ắ t buộc M ình chống lại sự tiếp hợp, nhưng thực tế vẫn phải chấp n h ận nó vì bị nô dịch về chính trị Trường hợp tiếp xúc với văn hóa, trên thế giới không th iếu gì những tộc người đã m ất hẳn diện mạo, m ất h ẳ n văn hóa của mình Nhưng có những tộc người có bản lĩnh văn hóa riêng, không một sức m ạn h nào có thể xóa bỏ được, không một

sự đàn áp nào có thể xóa mờ được Người Việt Nam

có một bản sắc văn hóa như vậy

Trước đây, có lý lu ận xét văn hóa lệ thuộc váo kinh tế hay chính trị Điều đó không đúng với thực

tế T rung Hoa đã nhiều lần bị các dị tộc xâm chiếm, cai trị hoặc trê n một bộ phận đáng kể của đất nước, hoặc trên cả nước N hưng không phải các dị tộc ấy đồng hóa được T rung Hoa và sự đồng hóa ngược diễn ra, tức là các dị tộc bị Hoa hóa về văn hóa, biến m ất Trường hợp người Mông cổ, người Mãn

T hanh là nh ữ n g th í dụ rõ rệt Người Do Thái m ất

Trang 5

nước hai ngàn năm , phân tá n khắp thế giới, bị bạo

n ạn hủy diệt, bao sự đối xử tá n n h ẫ n n h ấ t vẫn không bỏ m ất văn hóa của mình

Không phải sức m ạnh quân sự sẽ kéo theo sức

m ạnh văn hóa Vó ngựa Mông cổ đã giẫm n á t Đông

Âu, đã tàn phá Đông Á, nhưng rồi chẳng để lại dấu vết văn hóa nào Đe quốc Mỹ giàu n h ấ t thế giới,

đổ tiền vào m iền Nam nh ư nước để đổi lấy h ậ n thù Chủ nghĩa đế quốc đã làm chủ thế giới ngót hai trăm năm nhưng không đ ạ t được k ết quả gì ngoài lòng căm giận của các nước thuộc địa

Chuyện giao lưu văn hóa đã có từ thượng cổ, nhưng chỉ hai chục năm gần đây người ta mới th ấy chính giao lưu văn hóa mới là nền tả n g của giao lưu quốc tế Vá sự giao lưu này để đ ạ t được k ết quả to lớn n h ấ t đòi hỏi m ột điều kiện th en chốt: tộc người tiếp n h ậ n th ấy rõ trong tiếp xúc này không chứa đựng âm m ưu chính trị nào, không có súng đạn, lưỡi kiếm lấp ló đằng sau N hững th à n h công lớn n h ấ t về giao lưu văn hóa đã diễn ra trong tÌỊih trạn g như vậy Các hòa thượng chân đ ấ t của Ân

Độ đã hoán cải cả Đông Á và ĐNA đến mức có thể nói có một thời của Viễn Đông tiền P h ậ t giáo và một Đông A vá ĐNA h ậ u P h ậ t giáo Không phải các đạo quân La Mã đã thống n h ấ t được tin h th ầ n châu Âu m à các tu sĩ Thiên C húa giáo H ai ông vua Việt N am chịu khó tiếp th u văn hóa H án n h ấ t

là Lê T hánh Tông đời Lê và M inh M ạng đòi Nguyễn chính váo lúc chế độ quân chủ Việt N am hùn g m ạnh

n h ấ t và ổn định n h ất Giai đoạn Việt Nam tiếp th u

Trang 6

văn hóa XHCN vừa qua cũng thế Ảnh hưởng của văn hóa H án sang Triều Tiên và N h ật Bản cũng không khác.

M ặt khác, văn hóa H án không chỉ vào ba nước Việt Nam, T riều Tiên, N h ật B ản bằng con đường chính thống Mà quan trọng hơn, còn con đường kinh tế với nhữ ng Hoa kiều đến các nước này, lám

ăn sinh sống ở đấy, rồi phổ biến các kinh nghiệm lám ăn, buôn bán, th ủ công nghiệp Đồng thời, lại

có nhữ ng người ở các nước này sang T rung Quốc học tập rồi về tru y ền bá lại kinh nghiệm cho nhân dân C húng ta chỉ cần xét vai trò của những người Hoa gọi là M inh Hương trong lịch sử Việt Nam vào thế kỉ XVIII và XIX Họ đã góp p h ần vào việc củng

cố đ ấ t nước trong việc khai hoang, mở rộng trồng trọt, p h á t triể n buôn bán C hính qua ảnh hưdng qua lại này m à không một lĩnh vực nào của Việt Nam, dù là về văn học, nghệ th u ậ t, mỹ nghệ, th ủ công, ăn mặc m à lại không có sự đóng góp của văn hóa T rung Hoa Và người Việt N am không m ảy may

có th á n h kiến với họ Có người làm đến phụ chánh như T rần Tiễn T hành, Tổng tái Quốc sử quán như

P h an T hanh Giản

Trong thời Pháp thuộc, ta cũng th ấy hiện tượng này N hân dân V iệt Nam chỉ chống thực dân phản động P háp m à không chống văn hóa Pháp Việt Nam tiếp th u tru y ền thống của văn hóa Pháp, n h â t lá của cách m ạng Pháp, biết ơn các tác giả Pháp đã góp phần xây dựng khoa học xã hội vá nhân văn Việt Nam C hính các n h á ngôn ngứ học, sử học,

Trang 7

dân tộc học, khảo cổ học Pháp là nhữ ng người đi đầu trong các lĩnh vực mới vá ít n h ấ t đã giới th iệu phương pháp làm việc có hiệu lực hơn phương pháp

cũ Trường Viễn đông Bác cổ P háp với những học giả lỗi lạc của nó thực sự có công trong việc xây dựng khoa học xã hội và n h ân văn Việt Nam Năm

1983, khi sang Cămpuchia, tôi th ấy không một lĩnh vực vãn hóa náo của Cămpuchia, dù lả khảo cổ, văn học, ngôn ngữ học, kiến trúc, ^ ú t ký, văn học dân gian mà không được xây dựng trên một cơ sở văn hóa Pháp Tôi nghĩ cống hiến ấy không tiền nào m ua được

Các thời đại sẽ qua đi cùng với những điều cực đoan của nó Chỉ có văn hóa là tồn tạ i lâu dài, và chính nó lả cái cầu vững chắc vá ổn định cho giao lưu quốc tế Các trường của Pháp, Liên Xô, Đông

Âu và T rung Hoa đã đào tạo được một lớp người Việt Nam đông đảo, xứng đáng với tru y ền thống Cách m ạng của các nước này và chính họ là cái cầu

th u ậ n tiện n h ấ t trong giai đoạn trưóc m ắt khi Việt Nam thi h àn h chính sách mở cửa với cả thế giới Một nước có truyền thống văn hóa lâu dài và bền vững khi tiếp n h ận một văn hóa khác sẽ tạo nên được một sự đổi mới trong văn hóa m ình chứng minlj được sự hòa nhập Trường hợp của T rung Hoa với Ân Độ, của Việt Nam, N h ậ t Bản, T riều Tiên với T rung Hoa lả hiển nhiên Đặc biệt trong sự tiếp xúc với văn hóa Pháp ta th ấy m ột sự hiện đại hóa văn hóa Việt Nam ở nhiều lĩnh vực: ngôn ngữ, văn học, thơ, hội họa, nhạc, điêu khắc, kiến trúc vá ở

Trang 8

lĩnh vực nào cũng có những đại biểu ưu tú Đây là một lợi th ế của Việt Nam trong việc giao lưu với ĐNA m à không phải nước náo cũng thực hiện được.

Văn hóa p h á t triển theo quy lu ậ t riêng của nó

P h á t triể n văn hóa trước h ết dựa vào giao lưu với

Ai Cập, văn hóa La Mã p h á t triể n do giao lưu với

Hy Lạp, các văn hóa châu Âu p h á t triển do giao lưu với nhau C hính giao lưu khiến mỗi nền văn hóa phải điều chỉnh m ình để mở rộng ảnh hưởng

cả về nội dung lẫn hình thức, phải tự đổi mới để

có sức lôi cuốn m ạnh mẽ

Trong quá trìn h giao lưu này thường có ba giai đoạn Giai đoạn đầu lả giai đoạn b ắt chưóc máy móc Giai đoạn hai là k ết hợp cái của m ình với cái của người ta, do đó cũng chưa có tín h chất dân tộc

và chưa biểu lộ được cái mói Lúc này, cần đến nhà văn hóa lớn N hà văn hóa lớn, xét về thao tác, không phải hiện tượng gì bí ẩn, mả lá người, do tin h th ần yêu nghệ th u ậ t, văn học kết hợp với tin h th ầ n yêu văn hóa dân tộc tạo nên được một sự hoán cải mói trong đó cả nội dung lẫn hình thức đều khác trước,

có sự tiếp th u cái mới, nhưng k ế t quả lại nói lên tin h th ầ n dân tộc ở giai đoạn mới của lịch sử Lúc náy tín h dân tộc được nâng lên tầm thế giói và một ngưòi thuộc m ột nền văn hóa khác có thể tìm thấy

ở đây m ột tiếng vọng của chính nỗi khao k h á t của mình Lúc đó sản phẩm văn hóa có hi vọng nhập vào kho tá n g văn hóa thế giới

Theo tôi nghĩ, nhạc, họa, thơ, văn, đã hi vọng bước vào giai đoạn ba này Một người am hiểu văn

Trang 9

hóa Việt N am th ấy ngay nó r ấ t khác xưa nhưng lại

r ấ t hợp với Việt Nam , còn hơn cả các tác phẩm trước khi tiếp xúc Khi chuyển nó vào lưới tiếp th ị

nó có hi vọng chiếm được chỗ đứng trê n th ị trường thế giới, vửa để đề cao văn hóa V iệt N am vừa đem lại th u nhập cho đ ấ t nước N hư tôi biết, có nhữ ng họa sĩ, những n h á điêu khắc V iệt N am đã đ ạ t được cái giới h ạn này

Theo tôi, hiện nay ở nước ngoài còn có nhữ ng hiểu lầm về Việt Nam nh ư n g không nên quá băn khoăn về nhữ ng hiểu lầm ấy Một nước bị nô dịch tám mươi năm , trong ba mươi năm phải đương đầu với những thế lực quốc tế m ạn h hơn m ình gấp bội chắc chắn có nhữ ng dè d ặ t cần th iết Bởi vì trước

h ết phải bảo vệ được độc lập dân tộc và sự ổn định,

để tạo cơ sở cho m ột sự đổi 'mới làn h m ạnh, có lợi cho người lao động Dù cho người ta chống Cách

m ạng đến đâu cũng phải th ừ a n h ậ n có những th ay đổi vượt quá yêu cầu của chính họ

Trong tìn h trạ n g hiện nay, khoa học kĩ th u ậ t

đã r ú t ngắn các khoảng cách không gian Thế giới đang biến th à n h một cái làn g nhỏ Có m ột n h u cầu mới: tìm hiểu các nền văn hóa khác m ình, đến các nước xa lạ để học hỏi số người đến Việt N am đã vượt con số một triệ u và sẽ còn tă n g nhanh Người

V iệt N am ra nước ngoài ngày càng nhiều Trong cuộc giao lưu này V iệt N am có m ột lợi thế riêng với số Việt kiều trê n h ai triệ u người am hiểu nước ngoài và khoa học kỹ th u ậ t, cách kinh doanh của người ta

Trang 10

Ngày nay, khi chủ nghĩa đế quốc đã kết thúc

vì toàn bộ hệ thống thuộc địa không còn nữa, nhiều

lý th u y ết tuy đã tử n g làm bá chủ một thời, nay đã thuộc vào quá khứ: lý th u y ết Đại Đông A, lý th u y ết

vị chủng, lý th u y ết không gian sinh tồn, lý thuyết Đôminô Chiến tra n h sẽ không còn là sự tiếp tục của chính trị Xu hướng cùng sống trong hòa bình, hợp tác đang trở th à n h chủ đạo trong các quan hệ quốc tế Thực tế đi n h a n h hơn trí tưởng tượng Cách đây mười năm không ai hìn h dung được rằn g Việt

N am sẽ gia n h ập khối ASEAN

Trong tìn h h ìn h ấy, V iệt Nam phải chuẩn bị

m ình để bước vào cuộc hội ngộ mới Trên con đường này, đã có tư tưởng Hồ Chí M inh, đường lối kinh

tế của Đảng, m ột tầ n g lớp n h â n dân thông minh,

n h ạy bén với cái mới và giàu kinh nghiệm tiếp th u văn hóa m à không bỏ m ất b ản sắc văn hóa dân tộc

Văn hóa lớn lên qua tìm tòi, đau khổ Các tru n g tâm văn hóa chuyển từ nước này sang nước khác

k h á nhan h Vào thế kỉ XVI đó lá Italia, sang thế

kỷ XVII, đó là Anh, đến th ế kỷ XVIII đó là Pháp, vao th ế íd XIX, đó là Đức, vảo cuối XIX và đầu XX,

đó là Nga Người Việt N am chúng ta ai không băn khoăn lo lắng? Cho nên khi cảm th ấy băn khoăn thì nên mửng: m ình còn lá người lao động trí óc Không nên bi quan về nhữ ng băn khoăn của m ình

m á nên biến nhữ ng băn khoăn ấy th á n h động lực

để vượt lên xây dựng m ột văn hóa Việt Nam hiện đại vá đem lại giàu có cho đ ấ t nước

Trang 11

C hư ơng V I

KHỔNG HỌC, QUAN HỆ CỦA NÓ

VỚI THỜI ĐẠI MỚI

Trong hoàn cảnh hiện nay của một th ế giới mở cửa, người ta chứng kiến n h iều th ay đổi h ế t sức quan trọng N hìn chung, trong tìn h h ìn h k h á lộn xộn vào nhữ ng năm cuối th ế kỷ XX để sang th ế kỷ của cái làng thế giới, thế kỷ trong đó loài người, do những tiến bộ về kỹ th u ậ t, cũng đồng thời đánh giá lại nhữ ng đóng góp tin h th ầ n có lợi cho sự hội nhập mới m à không dùng đến bạo lực C húng ta đang bước vào kỷ nguyên lương tri th ắ n g võ khí, văn hóa th ắ n g bạo lực, trong đó văn hóa Việt N am

đã có p h ần đóng góp xứng đáng

N hững người lao động trí óc V iệt N am phải dốc toàn lực vào công việc này n h ư trước đây họ đã dốc toàn lực vào việc cứu nước, không th ể lơ là cảnh giác Chỉ cần họ tỉnh táo m ột ch ú t là th ấy những học th u y ết sặc mùi khói súng được sùng bái m ột thòi đang dần dần giảm giá trị T rái lại, có xu hướng tìm hiểu nhữ ng giá trị của phương Đông, trong đó

có m ột học th u y ết tưởng chủng nh ư bị vứ t bỏ từ lâu, bị mọi người chê bai, xem là nguồn gốc của

Trang 12

nghèo khổ, lạc hậu, phản tiến bộ lại được đánh giá lại, đề cao Khổng học là m ột học th u y ết như vậy.

T rong bài này, chúng tôi phân biệt Khổng học với Nho giáo, mặc dù cho đến nay, ít n h ấ t là ở Việt Nam , không có sự phân biệt này T rần Trọng Kim,

tác giả công trìn h "Nho giáo" gồm bốn tập, lần đầu

tiên cấp cho ta một bản trìn h bày Nho giáo từ nguồn gốc đến th ế kỷ XX Tiếc rằn g công trìn h này th iếu

tin h th ầ n bình luận, không giải thích "tại sao" quá

trìn h lại diễn ra với những th ay đổi đột ngột trá i

ngược n h a u đến như vậy "Khổng học đãn g ” của

P h an Bội C hâu, giải thích sâu sắc một số khái niệm,

như ng không giải thích "tại sao": Khổng giáo vừa

có nh ữ n g đóng góp to lớn về văn hóa lại vừa là nguyên n h â n của tìn h trạ n g lạc hậu, bị nô dịch của

m ột số nước theo nó Công trìn h "Khổng giáo phê

bình tiểu lu ậ n " của Đào Duy Anh tuy th ử xét Khổng

giáo theo quan điểm duy v ậ t lịch sử, nhưng th iên

về m ặ t xã hội hơn là về m ặt triế t học Các cồng trìn h gần đây của Q uang Đạm, T rần Đình Hượu,

Vũ Khiêu, T rịnh Ván Thảo đều không xét Khổng giáo tách khỏi Nho giáo cho nên khó lòng giúp ta thấy trong giai đoạn hiện nay, ta có thể tiếp th u cái gì của Nho giáo và g ạt bỏ cái gì

N hữ ng cuộc tra n h lu ận về Nho giáo ở T rung

Quốc sôi nổi n h ấ t VẬO thời Ngũ Tứ Lúc này, Nho giáo bị m ạt sá t th ậm tệ, th ậm chí bị gọi là "cái học

ăn cứt" (Ngô Trĩ Huy), cái học "ăn th ịt người" (Lỗ

Tấn), "cửa h à n g Bác H ai Khổng" Thái độ gay gắt

Trang 13

đối với KJiổng học trong giai đoạn 1949 - 1980 ở

T rung Quốc vẫn là tiếp tục xu hướng này

Thái độ gay gắt náy có lý do chính đáng Đa số người Cách m ạng T rung Quốc và ở Việt Nam đang

lo tìm một học th u y ế t giúp họ giải phóng đ ất nước khỏi chế độ đế quốc, điều m à thực tìn h Khổng giáo

b ất lực không th ể làm được P h ần lớn đi đến một

sự phủ n h ậ n Khổng giáo k h á triệ t để để theo chủ nghĩa Mác - Lênin vì chỉ trong chủ nghĩa này mới

có được ba nguyên lý mới thuộc nền văn hóa công nghiệp, hiện đại không th ể náo tìm th ấy nó trong học th u y ết của Khổng tử vốn là một biểu hiện của văn hóa nông nghiệp ở giai đoạn thấp Một là, tin h

th ầ n quốc tế vô sản để tiến h à n h một cuộc đấu tra n h quốc tế chống lại chủ nghĩa đế quốc hiện đã

m ang tín h quốc tế H ai là, dựa h ẳn vào lực lượng công nông là lực lượng đông đảo n h ấ t và bị đế quốc

áp lực n h ất, lại sẵn sàng chấp n h ậ n mọi sự hy sinh

để giải phóng m ình cùng với việc giải phóng loài người Ba là phải tiến h à n h đấu tra n h dưới sự lãn h đạíĐcủa một chính đảng kiểu mới, Đảng Cộng sản,

là đảng ra đời ở châu Âu trong phong trào đấu tra n h bằng những chiến lược mới, chiến th u ậ t mới,

tư duy mới của thời đại công nghiệp Trong thực

tế, chính chủ nghĩa Mác - Lênin chứ không phải Khổng học đã giúp hai Đ ảng Cộng sản ở hai nước lãn h đạo n h ân dân tự m ình giải phóng đ ấ t nước khỏi chủ nghĩa đế quốc

N hư vậy là con đường giải phóng của nhữ ng nước thuộc địa và nử a thuộc địa khỏi ách đế quốc

Trang 14

về cơ bản không liên quan tới truyền thống tư tưởng của Khổng giáo N hưng khi đã giành được độc lập dân tộc rồi, công việc b ắ t tay xây dựng chủ nghĩa

xã hội không phải chỉ ở châu A m à ở cả Đông Âu

và Cuba đều gặp r ấ t nh iều khó khăn

Mác không nói gì tới các biện pháp cụ thể để xây dựng CNXH, má chỉ nói đến biện pháp để giành lấy chính quyền Lênin sau khi giành được chính quyền phải đối phó ngay với nội chiến và sự can thiệp của nước ngoài nên phải áp dụng chính sách cộng sản thời chiến (1918 - 1921), tiến h àn h quốc hữu hóa toàn bộ nông nghiệp và công nghiệp, kiểm soát ch ặt chẽ lao động và thương nghiệp Tuy chính sách này th à n h công trong việc đánh bại mọi kẻ

th ù , củng cố chính quyền cách m ạng, nhưng chế độ công hữ u triệ t để của nó đã làm kinh tế ngưng trệ Trong tìn h hìn h ấy, th á n g 3 năm 1921, Lênin ban

h àn h C hính sách T ân kinh tế: nông dân có quyền giữ lại số lú a mì th ừ a sau khi đã nộp phần đóng góp, việc buôn bán được để ngỏ do chính phủ kiểm soát giá cả Nhò chính sách này, th u nhập quốc dân đã tăn g lên cao hơn trước chiến tran h Năm

1924, Lênin m ất và năm 1928 chính sách Tân kinh

tế bị th ay thế bằng chính sách quốc hữu hóa nông nghiệp và các kế hoạch năm nám của Stalin Từ đó trở đi, đường lối Stalin lá m ẫu mực của chủ nghĩa

Trang 15

tin lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản (Die

P ro testan t Ethic und der’ G eist’ des Kapitalism usX 1) người ta đã th ấy vai trò to lớn của văn hóa đối với kinh tế không kém vai trò của h ạ tần g cơ sở Điều này giải thích nhữ ng vấp váp của phe XHCN trong công cuộc xây dựng m ột CNXH x u ấ t p h á t từ lý luận

T hái độ đoạn tu y ệt với quá khứ này biểu hiện

cụ thể n h ấ t ở lớp Cách m ạng trẻ N hững người trẻ trong đà say sưa đổi mới xã hội, dễ có xu hướng xốa sạch quá khứ, xây dựng lại một xã hội mới hoàn toàn và xem mọi cái cũ đều gắn liền với một

xã hội lạc hậu N hưng việc đổi mới kinh tế là cực

kỳ phức tạp, không m ột lý th u y ết náo có th ể giúp

ta khắc phục nhữ ng khó k h ăn nẩy sinh trong một chế độ kinh tế chưa có tiền tệ Một khi xây dựng

m ột chế độ kinh tế m à trong óc người dân chưa có một khái niệm rõ rán g về các cách sản xuất, lưu thông, phân phối và tiêu dùng của nó, liệu các k h âu này có khỏi bị khúc xạ qua cái n h ìn củ và th o át khỏi chế độ quan liêu bao cấp được không?

Nhưng có hai n h à cách m ạng nhiều tuổi hơn lại nhìn th ấy sự cần th iế t phải đ án h giá Khổng học một cách công bằng hơn Người th ứ n h ấ t lả Tôn

D ật Tiên N hận xét dưới đây của Tôn D ật Tiên b ắt

ta phải suy nghĩ:

"Chúng ta cho rằng các nước  u M ỹ gần đây

rấ t tiến bộ N h ư n g văn hóa mới của họ th ì kh ô n g được hoàn thiện n h ư triết học chính trị của chúng

ta Trung Quốc có m ộ t câu nói vể triết học chính trị rấ t có hệ thống, các nhả chính trị gia lớn ở nước

Trang 16

ngoài chưa ai nh ìn được, nói rỗ n h ư vậy Đó là câu trong sách "Đại học”: "Cách vật, tri tri, thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ

K hông m ộ t nhà triết học chính trị nào của nước ngoài nh ìn th ấ y được, nói ra được m ộ t lý luận triển

kh a i tinh vi đến n h ư vậy, đây chính là th ứ bảo bối đặc biệt vốn có trong tri thức triết học chính trị của chúng ta, cần p h ả i được bảo tồn" ("Tam dân chủ nghĩa", Bài 5) (2)

Người th ứ hai là Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh trong suốt đời m ình chưa hề có một câu sá t m ạt Elhổng học, trá i lại nói; "Đức Khổng tử vĩ đại" Trong các bài viết của Hồ Chí M inh thường nhắc đến Khổng

tử và xem m ột số câu của Khổng tử là những nguyên

lý cách m ạng V iệt N am phải áp dụng Ngay từ năm

1923, sau khi đã là m ột người cộng sản, Nguyễn Ái Quốc vẫn xét Khổng tử ngang h àn g với Mác Hồ Chí M inh không có th á i độ chỉ chấp n h ận một học

th u y ết rồi m ạ t sá t các học th u y ết khác, trá i lại Hồ Chí M inh n h ằm vào mục đích "làm lợi cho xã hội"

và chấp n h ậ n nhữ ng kiến giải có thể làm lợi cho

xã hội, vượt lên khỏi nhữ ng nguyên lý x u ất phát:

"Khổng tử, Giê-xu, Mác, Tôn D ật Tiên, các vị

ấ y kh ô n g có chỗ giống nhau sao? Các vị ấ y đều

m uốn làm lợi cho x ã hội N eu họ cỏn sống và ở gân nhau, tôi tin rằng các vị ấ y sẽ sống với nhau thoải

m á i n h ư n h ữ n g người bạn tôt Tôi đã gắng làm người học trò của các vị ấy Tôi chính là tôi ngày trước:

m ộ t người y ê u nư ớc”.

Trang 17

Q uan hệ giữa Hồ Chí M inh với Khổng học đã được bàn đến nhiều, ở đây tôi không nhắc lại.Việc phê p h án Khổng học vẫn tiếp tục trong giai đoạn cách m ạng văn hóa ở T ru n g Quốc nhưng đằng sau nhữ ng lời tuyên bố n h â n d an h tư tưởng Mao T rạch Đông, ta lại th ấy m ột sự phê p h án Nho giáo theo khuynh hướng Pháp nga N ăm 1958, Mao Trạch Đông nói:

"Tôi đã tranh luận vấn đề n à y với n h ữ n g người dân chủ Tôi nói, các anh chê trách tôi đã ỉà Tẩn

T h ủ y Hoàng, các anh sai rồi! C húng tôi vượt quá Tẩn T h ủ y H oàng gấp trăm lần Các anh nói chúng tôi là Tẩn T h ủ y H oàng và chúng tôi là độc tài C húng tôi chấp nh ậ n tấ t cả chuyện ấy Điểu tội nghiệp

n h ấ t đó là các anh còn chưa nói đủ và n h iều k h i chúng tôi p h ả i nói thêm vào điều các anh nói Tần

T h ủ y H oàng là cái gì? ô n g ta chỉ chôn có 460 nhà Nho, chúng tôi đã chôn 46.000 học giả"(3).

T ình trạ n g ở Việt N am có hơi khác Tử sau khi

m ất nước, các n h à Nho V iệt N am kịch liệt bài xích Tống Nho N hưng có m ột điều ta p h ải th ừ a nhận

Đó là các n h à yêu nước đều th ừ a n h ậ n Nho giáo có vai trò tích cực trong việc tu th ân , và t ấ t cả thế hệ cha ông của ta, dù đó là Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn

Lộ Trạch, Nguyễn Đình Chiểu, P h an Bội C hâu, Phan

C hâu T rinh, H uỳnh Thúc K háng đều tự n h ậ n m ình

là n h à Nho m ột cách đường hoàng Rồi nhữ ng người Công giáo theo Tây học nh ư Trương Vĩnh Ký, vẫn

ra sức giới th iệu các sách kinh điển Nho giáo, như một biện pháp bảo vệ văn hóa dân tộc

Trang 18

Việc đ án h giá lại Khổng học là x u ất p h át trước

h ế t từ m ột thực tế hiện nay đã lảm thế giới kinh ngạc N ám con rồng châu A tiến n h an h trên con đường hiện đại hóa (N hật Bản, Nam Triều Tiên, Hồng Kông, Xingapo, Đài Lọan) đều công khai khẳng định chính Khổng học đã giúp họ hiện đại hóa n hanh chóng, th o át khỏi nghèo nàn, lạc hậu Hiện tượng này b ắ t người ta n h ậ n thức lại giá trị của Khổng học, khi th ấy chính nó lại có thể góp phần làm đât nước giàu có theo kịp phương Tây, điều mà một

n h à xã hội học h àn g đầu ở phương Tây là Max Weber

đã n h ậ n th ấy trong công trìn h "Tôn giáo ở Trung

Quốc" iA) T rung Quốc sau khi th a n h trử "Bè ỉũ bốn tên" (th án g 10, 1976) b ắ t đầu tỉn h dậy khỏi giấc

mơ giáo điều của m ột CNXH kiểu trạ i lính và n h ận thức tru y ền thống văn hóa của chính mình Khổng học do đó được phục hồi và đề cao

C âu chuyện Khổng học đầy m âu th u ẫn , đầy nhữ ng đ án h giá trá i ngược nhau Hiện nay ở Việt Nam số người hiểu nó không nhiều, và trong số này, ý kiến còn m âu th u ẫ n n h a u hơn ở những người không hiểu nó Tuy vậy, dù chống Khổng học hay bênh vực nó ở m ột vái điểm nào đó, không có người nào lại không chịu ản h hưởng Khổng học Điều náy

lá không thể trá n h khỏi, vì m ột học thuyết khi đã trở th á n h chủ đạo trong nền văn hóa một nước như

T rung Hoa, Việt Nam, Triều Tiên, N h ật Bản suốt ngót hai ngàn năm sẽ làm th à n h một th à n h tố trong tâm thức con người không thể th o át ly khỏi nó dễ dàng như cởi m ột cái áo khoác

Trang 19

Để cho khách quan, tôi trìn h háy trước những hiểu lầm đối với Khổng học, và bác nhừng hiểu lầm

ấy, chỉ dựa trên công trìn h duy n h ấ t đáng tin cậy

là "Luận ngữ" Sau đó, tôi giải trìn h "tại sao" lại

có những hiểu lầm th âm căn cố đế và phổ biến đến

như vậy Cuối cùng, tôi giải thích "tại sa o ” cùng

theo Khổng học cả, m à khi thì Khổng học lại là nguyên n h â n của tìn h trạ n g lạc hậu, bị nô dịch; nhưng trá i lại, theo m ột cách lý giải khác, chính

nó lại là cơ sở có sẵn cho bước hội n h ập của một nước phương Đông vào thế giới ngày nay

hóa x ã hội, chính m ìn h đi ngược lại n h ử n g ham

m uốn thông thường, ô n g k h ẳ n g định m ìn h cũng ham giàu có và sang trọng n h ư m ọi người.

Khổng tử nói: "Giàu và sang là điều người ta

muốn N h ư n g nếu n h ư được nó m à k h ô n g theo đúng đạo, thì ta kh ô n g làm N ghèo và hèn là điểu người

ta ghét; n h ư n g nếu n h ư ta kh ô n g th ể thoát k h ỏ i nó bằng cách theo đ ú n g đạo th ì ta k h ô n g rời khỏi"

(Chương IV, Lý nhân)

Khổng tử nói: ^^Nếu n h ư có thê m ong giàu có

m ột cách đúng đắn thì dù có p h ả i làm k ẻ cẩm roi (canh ngoài chợ) ta cũng làm Còn nếu k h ô n g th ể

Trang 20

m ong m ộ t cách đ ú n g đắn thì ta theo điểu ta th ích "

(Chương VII, T h u ậ t Nhi)

Khổng tử nói:'Ă n gạo thồ, uống nước lã, co tay

lại làm gôi kê, trong việc n à y cũng có cái vui Còn làm chuyện b ấ t nghĩa đê được giàu sang thì đối với

ta n h ư đám m â y nổi" (Chương VII, T h u ật Nhi).

N hư vậy là Khổng học không phải là một tôn giáo đòi hỏi người ta phải tử bỏ nhữ ng ham muốn của trầ n thế; của cải, địa vị, quyền lực, quan hệ vợ chồng, sự th am gia vào chính trị Nó không chống lại những ham m uốn bình thường để vạch ra một

ra n h giới không th ể vượt qua giữa con người theo đạo Khổng với th ế tục T rái lại, nó k h ẳng định giá trị của nhữ ng ham m uốn ấy

Khổng tử không x u ấ t hiện n hư một cứu tinh dạy cho loài người con đường giải thoát, ô n g chỉ nêu lên một học th u y ết giúp con người tu dưỡng chính m ình để có m ột n h â n cách riêng có thể đem lại cho an h ta niềm vui nội tâm và giúp anh ta làm

m ột người cai trị m ẫu mực Cuộc sống của ông như

trong chương X là chương "Hương đ ả n g ” th u ậ t lại,

là m ột cuộc sống không giàu có nhưng sung túc, không hề có bóng dáng khổ hạnh, ô n g cũng chấp

n h ận nó nh ư mọi người, th ậm chí dù phải làm một nghề hèn kém để được giàu có, ông cũng làm Chỉ

có một điều: việc làm phải hợp với đạo nghĩa Điều náy chẳng khác gì yêu cầu của người cách mạng; việc làm trá i với cách m ạng, dù được giàu sang người cách m ạng không bao giờ làm Cái gọi lá đạo nghĩa mỗi thời m ột khác, cái Khổng tử gọi là đạo nghĩa

Trang 21

không th ể nào lả cái chúng ta gọi là đạo nghĩa

N hưng chọn đạo nghĩa, coi nó quan trọng hơn giàu sang chính là thao tác chung và thao tác ấy là bất biên của con người giữ vững n h â n cách ở mọi thời đại Còn câu dưới đây phải nói là h ế t sức có ý nghĩa đối với chúng ta:

"Neu nước có đạo mà m ình nghèo và hèn thì đó

là điều xấu hô N eu nước vô đạo mà m ìn h giàu và sang thì đó là điều xấu hổ" (Chương VIII, T hái Bá).

N hư vậy là giàu và sang trong khi giữ đúng những nguyên lý của đạo lý lả điều đáng ca ngợi Khi đ ấ t nước theo đúng đạo m à m ình nghèo th ì cái nghèo ấy là đáng xấu hổ, bởi vì nó chứng tỏ m ình

b ấ t tài

Không những thế, nhiệm vụ của người cai trị

là làm cho dân giàu

"Khi K hổng tử sang nước Vệ, N h iệm H ữu đánh

xe, K hổng tử nói:

- Người đông làm sao?

N h iệm H ữu hỏi:

- Đã đông rồi p h ả i làm gì thêm nữa?

- Làm cho họ giàu lên.

- Đã giàu lên rồi, p h ả i làm g ì thêm nữa?

- Giáo dục cho họ" (Chương XIII, Tử Lộ).

Tôi th ấy trách nhiệm ông nêu lên cho người cai

trị không khác mơ ước của Bác bao nhiêu: "Lâm

cho dân có ăn, có mặc, có học hành, thuốc men".

Trang 22

Tôi nghĩ yêu cầu của Khổng tử đối với cán bộ chúng

15 người k ế t án Khổng tử về điểm náy Nhưng trong cuộc đời m ình, Khổng tử là người chống lại chế độ độc đoán của ông vua, không bao giờ ông chịu ở lại

m ột nước có ông vua độc đoán mà tìm cách rời khỏi ngay Đoạn trích dưới đây chúng ta xem là lời lên

án chế độ q u ân chủ chuyên chế rõ ràn g n h ất, tuy lời lẽ k h á dịu dàng, theo đúng phong cách của ông:

"(Lỗ) Định Công hỏi (Khổng tử):

- Có m ộ t câu d u y n h ấ t nào có thê làm cho nước

h ư n g thịnh không?

K hổng tử đáp:

- M ột câu d u y n h ấ t không th ể có khả năng ấy

N h ư n g người ta có câu: "Làm vua khó, làm bầy tôi

kh ô n g dễ" N ấu biết rằng làm vua là khó, chẳng

p h ả i đó gần n h ư là m ột câu duy n h ấ t có thê làm nước h ư n g thịnh đó sao?"

Định Công hỏi tiếp:

- Thế có th ể có m ộ t câu duy n h ấ t nào làm m ấ t nước không?

K hổng tử đáp lại rằng:

Trang 23

- M ột câu d u y n h ấ t không th ể có cái n ă n g lực

n h ư thế N h ư n g người ta có câu: "Ta k h ô n g th ú về chuyện làm vua, chỉ th ú về điểu kh ô n g ai dám trái lời ta ” N eu n h ư điểu m à vua nói là tốt m à kh ô n g

ai chống lại thì đó là tốt N h ư n g nếu n h ư lời nói

là không tốt mà k h ô n g ai dám chống lại, đó chẳng phải là m ộ t câu lảm m ấ t nước sao? (Chương XII,

Tử Lộ)

Câu này hiểu trong hoàn cảnh hiện nay có nghĩa

lá "làm người lãnh đạo là khó" và "ỉàm người cán

bộ cách m ạ n g kh ô n g d ễ ”, cần phải trá n h th á i độ

độc quyền trong tư tưởng, ngôn ngữ, vì chính nó sẽ làm nước m ất Tôi nghĩ khó lòng tìm th ấy m ột câu nói thời sự hơn ở m ột học th u y ết cách đây 2500 năm

C hính vì Khổng tử chống lại chủ trương chuyên

chính cho nên ông lấy chữ "Tín" làm th en chốt của

việc cai trị, chứ không lấy quyền lực hay bạo lực Đoạn trích dưới đây thực tìn h r ấ t hợp với m ột đường lối chính trị phục vụ n h â n dân:

T ử Cống hỏi về chính sự K hổng tử nói:

- Có đủ lương thực, có đủ quân đội, được dân tin.

- N ếu n h ư bất đắc d ĩ p h ả i bỏ m ộ t trong ba cái này, thì bỏ cái nào?

- Bỏ quân đội.

- N ếu n h ư bất đắc d ĩ ph ả i bỏ m ộ t trong hai cái còn lại thì bỏ cái nào?

- Bỏ lương thực Từ xưa ai cũng chết N h ư n g nếu n h ư dân kh ô n g tin thì kh ô n g th ể đứng vững"

(Chương XII, N han Uyên)

Trang 24

Trong "Luận ngữ" ta th ấy ông luôn luôn nhắc

học trò đã làm quan thì phải biết can ngăn nhá vua khi n h à vua làm một việc không hay, và nếu can ngăn không được th ì phải liệu cách m à rú t khỏi triề u đình C hính Khổng tử cũng đã làm như vậy khi vua nước Lỗ không nghe lời can của ông

(3) H iểu lầm th ứ ba: K hổn g tử b ên h vực

c h in h sá c h x âm lư ợc các nước kh ác.

Suốt đời m ình, Khổng tử là người chống chiến tra n h nhưng không hiểu sao người ta lại quy cho ông cái tội là người th ủ xướng chính sách xâm lược

"Vệ Linh Công hỏi K hổng tử về chiến trận Khổng

tử đáp:

- N eu N gài hỏi về chuyện tế tự thì tôi thường nghe nói đến Còn về chuyện chỉ h u y quân đội thì tôi chưa h ề học.

N gày hôm sau (Khổng tử) liền ra đi" (Chương

XV, Vệ Linh Công)

Đoạn trích dưới đây khá dài nhưng r ấ t tiêu biểu cho quan điểm chống chiến tra n h , sử dụng văn hóa

để đ ạ t đến sự thống n h ấ t thiên hạ của ông:

"Họ Quý sắp sửa đánh đất Chuyên Du Nhiệm

H ữu và Quý Lộ đến y ế t kiến K hổng tử, nói:

- Họ Quý sắp g â y chuyện với nước Chuyên Du.

K hổng tử hỏi:

- A nh Cẩu (N hiệm Hữu), đó chẳng phải là lỗi của anh sao? Đ ất Chuyên Du ngày xưa được các tiên vương cho làm chủ đất Đông Mông Không những

Trang 25

thế, nó lại ở trung k h u vực nước ta (nước Lỗ), nó

ỉà bẩy tôi xã tắc của ta Tại sao lại đánh nó?

N hiệm H ữu nói:

- N hư ng giờ đây nước Chuyên Du vững m ạnh lại ở cạnh thành P h í (thành của họ Quý) N eu n a y không lấy thì sê là m ối n g u y cho con cháu ông ta sau này.

K hổng tử nói:

- A nh Cẩu! Người quân tử g h é t cái trò nói năng quanh co kh ông nói m ìn h m uốn n h ư n g thế nào cũng làm K hâu (tên K hổng tử) n à y nghe nói: "Người lầm chủ m ột nước, m ột nhà không lo vể điểm dân ít,

m à lo về điểm phân phối kh ô n g đều, kh ô n g lo về điểm nghèo m à lo về điểm kh ô n g yên Bởi vì nếu phân phối đều thì kh ô n g nghèo, nếu yên thì không

bị nghiêng ngả Chính vỉ n h ư th ế cho nên nếu n h ư

n h ữ ng kẻ ở xa kh ô n g p h ụ c thì trau dồi cái văn và

Trang 26

cái đức đê kéo họ đến, và lầm cho họ yên ổn N ay hai anh Do và c ẩ u (học trỏ Khổng tử) k h i phục vụ chủ, thì n h ữ ng người ở xa không phục, cũng không thê kéo họ vê phía m ình Đ ât bị phân chia, nghiêng ngả, tan rã, nước sẽ kh ô n g th ể giữ được Thế mà lại m ưu tính chuyện can qua ở ngay trong lãnh thổ

Ta sợ cho môi lo của con cháu họ Quý không phải

là ở đất Chuyên Du mả ở ngay trong gia đình đấy"

(Chương XVI, Quý thị)

Đoạn trích này nêu rõ một vải nguyên lý trị nước của Khổng học: P hải quan tâm trước h ết tới

k h âu phân phối sao cho công bằng Chính khâu náy

sẽ giúp ta đ ạt được sự yên ổn ngay trong nghèo đói Cách p h át huy th ế lực lá con đường văn hóa, dùng

văn hóa để kéo nhữ ng người ở xa về với m ình và

tìm sự yên ổn ở m ình H et sức trán h gây chiến tra n h để mở rộng đ ấ t đai, giải quyết những xung đột Bởi vì chiến tra n h chỉ có lợi tần g lớp thống trị

để p h át huy thế lực đàn áp dân chúng, và vì chạy theo cái lợi, sự chia rẽ sẽ nẩy sinh ngay trong tâng lớp người cầm quyền, từ đó dẫn tới m ất nước Lịch

sử T rung Quốc m ấy ngàn năm nay đúng là như vậy Mỗi lần chạy theo chiến tra n h mở nước, là một lần nội loạn nảy sinh trong chính triều đình vá triề u đình sụp đổ, nhiều khi ngoại tộc trà n váo chia

rẽ đ ất nước

Biện pháp p h á t h u y ảnh hưởng bằng con đường hòa bình của văn hóa đề xướng cách đây 2500 năm hiện nay là m ột sách lược thê giới Bảo đảm một

sự công bằng trong phân phối để khắc phục nghèo

Trang 27

khổ, p h á t huy đạo lý tìn h nghĩa để lôi cuốn những người ở xa, trá n h chiến tran h Đó chẳng phải một đường lối hiện đại sao?

Không những Khổng tử chống chiến tra n h , mả ông còn chống việc dùng bạo lực õ n g chủ trương

"nêu gương tốt" khiến người khác theo Tuy không

chống lại pháp lu ậ t nhưng ông th iên về "Đức trị":

"Tử Lộ hỏi cách lầm chính sự, K hổng tử đáp:

- M ình h ã y làm trước M ình h ã y chịu vất vả trước.

- Xin cho biết thêm nữa.

- Làm n h ư thế không biết m ỏi m ệt" (Chương

VIII, Tử Lộ)

"Neu m ộ t người làm cho thân m ình n g a y thẳng thì việc làm chính sự có gì khó kh ă n đ â u ? N eu chính anh ta kh ô n g thê làm cho m ình ngay th ẳ n g thì anh

ta làm sao có th ể làm cho người khác n g a y thẳng được?"(Chương XIII, Tử Lộ).

"Khổng tử nói: "Lấy chính sự đ ể dẩn dắt dân, dùng hình p h ạ t đê thực hiện sự bình đẳng thì dân

Trang 28

nhưng các tệ nạn không cách náo giảm bớt được, khi chính những người cầm đẩu lại liên quan tới các tội ác.

(4) H iểu làm th ứ tư: K hổn g g iá o được xem

n h ư m ộ t q u ốc g iá o , và trở th à n h độc tôn.

Khổng tử không bao giờ có cuồng vọng biến học

th u y ết của m ình th à n h quốc giáo Trong óc ông, học

th u y ết này chỉ dành cho một thiểu số r ấ t ít m à ông gọi lá quân tử N hững người nảy học cái đạo của ông n hằm một mục tiêu cụ thể: làm những người cai trị dân m ẫu mực để đem lại sự hòa mục cho xã hội nếu như họ được làm quan Chính họ phải có một n h â n cách m ẫu mực ngay trong gia đình, phải theo nhữ ng quy tắc đẹp gọi là lễ đối với cha mẹ (hiếu), anh em (đễ), bè bạn (tín), mọi người (nghĩa),

có cách ứng xử thích hợp trong những trường hợp khó k h ăn (trí) để đ ạt được một lý tưởng mới gọi là nhân Còn đối với tiểu n h ân th ì học th u y ết không

p h át tủ ngay cái h am m uốn có thực chung cho mọi người

Trang 29

"Tử Cống hỏi:

- Có m ộ t câu nào có thê th i hàn h su ố t đời được không?

K hổng tử đáp:

- Phải chăng là chữ "thứ”: "Điều m ình đã không

m uốn thì chớ đem làm cho người ta ” (Chương XV

Vệ Linh Công)

Chính chữ "thứ" này là nguyên lý xuyên suốt Khổng học tạo nên tín h n h ấ t quán, tức tín h triế t học của Khổng học

- N à y anh Sâm (tên của Tăng tử)! Cái đạo của

ta lấy m ột nguyên lý đ ể quán triệt tấ t cả.

Tăng tử nói:

- Vâng ạ.

Khổng tử đi ra Các môn nhân khác hỏi:

- Câu nói ấ y có nghĩa n h ư th ế nào?

Tăng tử đáp:

Trang 30

- Cái đạo của p h u tử chỉ có "trung thứ" mà thôi"

(Chương IV Lý nhân)

"Trung" là "làm h ế t sức của mình, theo m ong

m uốn của m ình" còn "thứ" là "điều gì m ình muốn cho m ình thì làm điều ấ y cho người khác, điều gì

m ình không m uốn cho m ình thì đừng làm cho người khác" Chân lý náy tồn tại trong hầu h ết mọi nền

văn hóa, nhưng lấy nó làm nguyên lý quán triệ t toàn bộ một học th u y ết đó là đặc điểm của Khổng học Đây không phải tìn h yêu vì theo Chúa trời hay

để được giải th o át m à chính vì giá trị n h ân cách

m ình ngay trong cuộc sống hiện tại

Vì T rung Hoa không có một nền triế t học lấy

n h ận thức lu ận làm nguyên lý chủ chốt, m à đây là

th àn h tự u của triế t học cổ điển Đức, cho nên khi

giải thích hai chữ "Cách vật, Trí tri" trong "Đại

học", điều mà Tôn D ật Tiên đã nhắc đến ở trên,

gặp nhiều m âu th u ẫn Tiếc rằn g các thẻ tre để giải thích hai chữ náy đã m ất đi cho nên đời sau giải thích theo cách hiểu của m ình Cho đến nay việc giải thích, theo tôi chẳng ăn khớp gì với học thuyết của Khổng tử cả, bởi vì trong "Luận ngữ" không hề

có một câu nào án khớp với lời giải thích hết Cách

giải thích của Chu Hy về "Cách vật" là "Phàm sự

vật trong thiên hạ, kh ô n g có cái nào là kh ô n g có cái lý của nó Chỉ vì ta kh ô n g đạt đến cái lý cùng cực của nó cho nên cái biết của ta không triệt đê Cho nên sách "Đại học" m ở đẩu dạy án khiến người học giả phàm gặp sự vật trong thiên hạ thì đều nhân cái lý đã biết mà đi đến cùng đ ể đạt đến sự

Trang 31

cùng cực" Như vậy Chu Hy yêu cầu thao tác phân

tích, một thao tác không hề nói đến trong triế t học

T rung Hoa trước P h ậ t giáo Còn Vương Dương M inh

th ì lại giải thích theo P h ậ t giáo là "Trử bỏ cái vật

dục đ ể đạt cái lương tri", nhưng '' Vật dục" và "Lương tri" lá hai th u ậ t ngữ P h ậ t giáo không hề có trong

K hổng học M inh Nho do đó đã P h ậ t giáo hóa Khổng học

N ếu giải thích theo N hận thức lu ận th ì chữ "cách"

ở đây nghĩa là "đến" n hư "Thánh nhân cách" là

"Thánh nhân đến" Do đó "Cách vậí" lầ "Tiếp cận

sự vật, đến vôi sự vật bằng giác quan" và "Trí tri"

là đ ạt đến sự hiểu biết n h ấ t quán trong chữ thứ Cách v ật lả đồng nghĩa với "học" và "trí tri"\ầ đồng nghĩa với "suy nghĩ" đã nhiều lần nhắc đến trong

"Luận ngữ", th í dụ:

"Học mà không su y n g h ĩ thì sai lẩm, su y n g h ĩ

mà không học thì nguy" (Chương II, Vi chính).

N hư vậy, nguyên lý thống n h ấ t của học th u y ết

x u ất p h át ngay từ chính m ình Để đ ạ t được lý tưởng này, một người quân tử phải học suốt đời, phải suốt đời coi đạo nghĩa lớn hơn của cải, danh vị, phải biết

tự kiềm chế những ham muốn ích kỷ Lúc đó anh

ta sẽ trở th án h một tấm gương về đạo đức cho mọi người Đó là cách giáo hóa bằng nêu gương, thống

n h ấ t với quan điểm lấy văn hóa lôi cuốn mọi người Còn trong trường hợp không được dùng, vẫn giữ tấm lòng th a n h th ản , không oán trời, không trách người, tìm ngay được cái vui trong nội tâm m ình,

Trang 32

dù eó phải ăn cơm hẩm , uống nước lã, gối đầu trên cánh tay m ả ngủ cũng không thay đổi.

Khổng tử chỉ yêu cầu ai làm chính trị đều phải

là m ẫu mực về n h ân cách Còn đối với mọi người khác không b ắ t buộc phải theo Con người ham của cải, sắc đẹp, danh vị, cuộc sống sung sướng lá chuyện bình thường Neu ta ép buộc họ bằng sức m ạnh thì

họ chỉ vâng theo ở ngoài m ặt, còn trong lòng làm trá i lại Lúc đó, những danh tủ đẹp đẽ chỉ dủng để che đậy nhữ ng h àn h vi xấu xa Con người quân tử cũng có những nhược điểm như mọi người, nhưng chỉ khác mọi người ỏ cái ham muốn tột bực là coi trọng đạo nghĩa hơn mọi cái, kể cả cuộc sống Anh

ta làm thế vì ý thức được một niềm vui cực lớn:

"Sáng nghe được đạo, chiều có th ể chết" (Chương

IV, Lý nhân)

Khổng học không phải là một tôn giáo lấy cuộc sống kiếp sau gò cuộc sống hiện tại, lấy một lý tưởng ngoài th ế giới b ắt thế giới phải theo Nhưng nếu như cái lý tưởng của nó tồn tạ i m ạnh mẽ trong lòng mọi người vá có những người quyết tâm sống theo

lý tưởng ấy th ì xã hội sẽ ổn định, những chênh lệch trong địa vị, tà i sản, quyền lực sẽ nhẹ bớt và n h ân dân sẽ có được cuộc sống yên vui Như M ạnh tử nói, ông vua có thể hiếu sắc, ham của cải, đó là chuyện bình thường Miễn lả ông vua không vì cái hiếu sắc, ham của cải của m ình mà cướp đoạt những ham m uốn này của th iên h ạ là đủ

N ếu ta xét nội dung của tửng khái niệm đã được Khổng tử xác định về Lễ, Nhân, Nghĩa, Hiếu,

Trang 33

Đễ, Trung, Tín th ì làm sao mỗi khái niệm khỏi

m ang những th iên lệch của một thời đại cách ta

2500 năm không tái nào áp dụng cho thời đại này được Nhưng làm sao ta có thể trá n h cứ ông về điểm này được, cũng như làm sao ta có thể yêu cầu ông phải biết sức m ạnh của công nông, đấu tra n h giai cấp, và chủ nghĩa quốc tế vô sản? Giá trị của một học th u y ết lá ở cách lý giải thực tế để tìm ra giải pháp thích hợp cho m ột hoàn cảnh cụ thể Dù cho giải pháp Khổng tử đưa ra chưa bao giờ được thực hiện, điều mà ngay Khổng tử đã n h ận thấv, nhưng chẳng phải đúng như ông nói, ông biết trước cả trăm đời đó sao? Nội dung các khái niệm này phải được quy định lại theo yêu cầu cụ thể của từng giai đoạn, nhưng làm sao có th ể xây dựng một xã hội hoàn mục nếu bỏ các khái niệm này, th ay thế tấ t cả bằng một khái niệm khác: quyền lực, lợi ích v ật chất, quyền tự do của cá nhân?

(5) H iểu làm th ứ năm: K hổn g tử c o i k h in h

ph ụ nữ.

Câu này được nhắc lại để khẳng định th á i độ

b ất công của ông với nữ giới Cũng xin nói thêm là

trong "Luận ngữ" chỉ có một câu có vẻ chống nữ

giới này thôi

"Tử viết: D uy n ữ tử dự tiêu nhân vi nan dưỡng

dã Cận chi tắc bất tốn, viến chi tắc oán".

Người ta dịch là: "Chỉ có đàn bà và tiểu nhân

là khó đối xử N eu gan họ thì họ xấc xược N eu xa

họ thì họ oán" (Chương XVII Dương Hổ).

Trang 34

Chữ "nử tử" vào thời Xuân Thu - Chiến Quốc

có một nghĩa r ấ t hẹp lá "đẩy tớ gái, cô hầu, thiếp" không có nghĩa là "phụ n ữ nói chung" như sau này

Cho nên không thể lấy đó để nói Khổng tử khinh

thường phụ nữ Nó cũng như chữ "dân" ở thời M ạnh

tử không hề có nghĩa là người dân như sau náy mà

chỉ "Dân tự do ở các thành thị, vốn xưa là quý tộc,

do tình trạng các nước dần dẩn bị thôn tính nên

họ trở thành người ỉao động thủ công, thương nhân sống ngay tại kin h đô" K hi M ạnh tử nói "Dân vi quý" kh ô n g p h ả i M ạnh tử dân chủ đâu bởi vì chính

M ạnh tử chủ trương bất bình đẳng "Vật mà không bàng nhau là bản chất của sự vật" Dân lao động nông thôn được M ạnh tử gọi là "dã dân" và nói

"Không có dã dân (dân quê m ùa) thì không có ai

đ ể nuôi người quân tử K hông có người quân tử thì không có ai đê cai trị dã dân".

T rái lại có thể nói Khổng tử biết giá trị phụ nữ khi ông nói:

"Thuấn có năm người tôi giỏi mà thiên hạ được trị an Vũ vương nói: "Ta có năm bầy tôi giỏi” Khổng

tử nói:

- Tài n ă n g khó tìm, đó chẳng phải lầ sự thật

sao? Trong đời Đường (đời Nghiêu), đời Ngu (đời Thuấn) thịnh trị n h ư vậy, mà có m ột người đàn bả (đó là bà m ẹ của Vãn Vương) và chỉ chín người đàn ông m à thôi" (Chương VIII, Thái Bá).

N hư vậy không thể nói Khổng tử coi nhẹ phụ

nữ ngay trong tả i trị nước

Trang 35

Đời tôi đã nghe những lời chỉ trích Khổng tử như thế má đánh im lặng vì nói ra không tiện Tôi

trìn h háy ở đây nhữ ng lời giải thích của tôi có bằng

chứng rõ rán g để bác bỏ cho tiện

II S ự KHÚC XẠ CỦA KHỔNG HỌC, VÀ s ự

RA ĐỜI CỦA NHO GIÁO

Xét về thực chất, Nho giáo không phải là một học th u y ết do Khổng tử sáng lập Các sách m à Khổng

tử dùng để dạy các môn đệ như K inh Thi, K inh

Thư, K inh L ễ đều đã có tử trước, trong đó vai trò

của Chu Công là h ế t sức quan trọng Chế độ giáo dục đời Chu chủ trương dạy lục nghệ là: Lễ, nhạc,

xạ (bắn tên), ngự (điều khiển xe ngựa), th ư (sách),

và khoa học về các con số Nó công phu và tốn kém nên chỉ dành cho quý tộc, khép kín trong những gia đình chuyên nghiệp với tín h cách đặc biệt của

T rung Hoa so với t ấ t cả các nước Nó sẽ cấp cho văn hóa T rung Quốc m ột tín h chất quý tộc trở th à n h gần như đồng nghĩa với văn hóa T rung Hoa chính

là do cách lựa chọn của KKổng tử Sai lầm của Nho học từ đời H án trở đi là lấy cái kinh này làm nội dung của Khổng giáo Không phải thế Các kinh náy lá học vấn chung của T rung Hoa cổ đại Trường phái nào cũng học, vậy không thể xem đó là của Nho giáo Cái phần của Nho giáo là cách lý giải

của Ediổng tử về các kinh này Qua "Luận ngữ", ta

th ấy Khổng tử dạy học trò "Chớ n g h ĩ x ằ n g bậy k h i

học K inh Thi" tức là đừng tin vào những chuyện

quỷ th ần , trời và người giao tiếp với n h au cũng như

Trang 36

chuyện tra i gái hò hẹn nhau, ồ n g lại nói: "Chăm

chỉ về điểu dị đoan thì chỉ có hại thôi", ô n g lập

nên trường phái m ình không phải ở điểm dạy các kinh náy m à ở điểm lý giải các kinh theo quan điểm của mình

Sai lầm của Nho học đời sau lá đồng n h ấ t hóa

các kinh này với Khổng học "Luận ngữ" cho ta biết quan điểm của Khổng tử về "Kinh Thi" như sau:

- Các con, tại sao các con không học "KinhThi?"

K inh Thi có th ể làm người ta phấn khởi Có th ể giúp sự quan sát Có th ể giúp người ta quần tụ với nhau Có thê giúp ta bộc lộ điều oán giận Gần thì biết được cách thờ cha Xa thì biết được cách thờ vua L ại biết được nhiều tên chim muông" (Chương

VII, Dương Hổ)

Đây mới thực là nội dung Khổng học qua "Kinh

Thi".Cũng vậy khi nói đến "Kinh Lễ", nội dung ông

dạy không phải chỉ là hiểu văn bản của "Kinh Lễ".

"Khổng tử nói: "Người ta cứ bảo: L ễ nói, L ễ nói

N h ư n g L ễ đâu p h ả i chỉ là chuyện ngọc với lụa mà thôi? Người ta cứ nói: N hạc nói, Nhạc nói N hư ng

N hạc đâu p h ả i chỉ là chuông với trống mà thôi

(Chương XVII Dương Hổ)

Việc dạy Thi, Thư, Lễ, Nhạc không phải việc riêng của Khổng tử N hưng thời Chu cũng như sau

này người ta chỉ biết có câu, chữ Còn cách dạy của

K hổng tử là qua lễ, nhạc, th i đạt đến m ột học th u yết hên quan tới tu thân Tu th â n theo quan niệm của

Khổng học là có ý thức về n h ân cách mình, tra u

Trang 37

dồi n h ân cách, p h á t huy nó để lôi cuốn nhữ ng người khác, dù có chịu nghèo khổ cũng không đổi vì ý thức giá trị của nó, chứ không phải xem cái cá nhân

m ình là hư hỏng mà vứt bỏ nó Đi con đường chữ

nghĩa thì "Quá tin sách kh ô n g bằng kh ô n g có sá ch "

như lời M ạnh tử nói

Ta biết ông học lễ, học nhạc r ấ t công phu, hiểu

về bắn cung, điều khiển ngựa, ô n g lá người đầu tiên mở trường dạy tư cho con em quý tộc, chuyển cái học sang đạo đức, chính trị, vả cấp cho nó tín h

n h ấ t quán nhằm đào tạo con người cai trị cốt đem đến sự hòa mục trong xã hội, chứ không phải nhằm mục đích quân sự hay bói toán

Một triế t học là p h ản án h cụ th ể những nguyện vọng của một giai đoạn cụ thể Do đó, tấ t yếu triế t học nào cũng không trá n h khỏi những giới h ạ n lịch

sử, cho nên b ất cứ triế t học nào cũng trả i qua những

th ay đổi h ết sức quan trọng trong một hoàn cảnh

xã hội khác, điều m à tôi gọi là độ khúc xạ Cái

p h ần có giá trị của m ột triế t học không ở nội dung

của những khái niệm n h à triế t học nêu lên, dù đây

là triế t học của A-ri-xtôt, của Hê-ghen hay của Khổng

tử, bởi vì khi thời đại khác đi nội dung tấ t nhiên phải thay đổi: con người để đi cho n h an h th ì phải

có xe Đó là điều không th ay đổi Còn đi xe ngựa,

đi thuyền, đi táu hỏa, m áy bay, hay đi tên lửa vũ trụ , mỗi thời một khác C hính Khổng tử cũng chủ

trương như thế khi nêu lên chữ "Thời" tức là mọi

h àn h động đều phải thích hợp với hoán cảnh cụ thể

của nó: "Vô khả, vô bất khả" (Không có cái gì bao

Trang 38

giờ cũng phải làm, không có cái gì không bao giờ được làm).

T riết học của Khổng tử là con đẻ của thời đại phong kiến phân quyền ở T rung Quốc Vào thời của ông, T rung Hoa còn chia ra hàng trăm nước Mỗi nước đều bé nhỏ, chỉ bàng vải tỉnh của Việt Nam

Q uan hệ giữa người cầm đầu với dân chúng là trực tiếp, chưa ra đời một bộ m áy quan lại đông đúc Các nước chẳng qua là p h ần đ ất thiên tử nhà Chu cấp cho họ h án g hay nhữ ng người có công, không

hề có lịch sử hình th àn h , phong tục riêng, văn hóa riêng Cho nên Đạo Khổng không có khái niệm Tổ quốc, và Khổng tử cũng như các nhà tư tưởng thời

X uân Thu - Chiến Quốc chu du h ết nước này sang nước khác, ai dùng thì theo mà không cảm thấy

m ột sai sót nào về đạo đức

Dưới m ột chế độ phong kiến phân quyền như vậy, quyền lực của th iên tử cũng như của các vua chư h ầ u bị h ạn chế Không phải quyền lực hay võ lực đóng vai trò chủ đạo mà quan hệ giữa cái xã

hội tôn ty lu ận này bị quy định hoàn toàn do "lễ",

hễ quy định việc cống nạp, tế tự, ngay cả quẩn áo,

xe cộ, số người tham dự điệu vũ Chu Công, người xây dựng cơ sở cho triề u đại và là một chính trị gia lỗi lạc n h ấ t của mọi thời đại, đứng trước một sự lựa chọn: hoặc lá một triều đại rấ t m ạnh, quyền lực tu y ệt đối, dựa trên bạo lực; hoặc là một triều đại bên ngoài có vẻ yếu, lỏng lẻo dựa trên lễ Mục tiêu Chu Công muốn đạt được là làm sao cho triều đại tồn tại lâu dài Neu xây dựng một triều đại

Trang 39

chuyên chế thì thế nào cũng bị bọn quan lại nịnh hót thao tú n g và chỉ cần ông hoàng đế ngu dại là triêu đại sụp đổ Mà con người làm hoàng đế chẳng qua do quan hệ huyết thống, vậy làm sao trá n h khỏi một hoàng đế hôn ám sẽ làm triề u đại sụp đổ trong tay bọn gian thần?

Cho nên Chu Công chủ trương xây dựng một

n h à Chu không m ạnh, th iên hạ bị chia ra vài trăm

nước, độc lập với nhau, lấy "Lễ" làm nền tảng Nếu

một nước làm loạn th ì lập tức các chư h ầ u đem quân đến cứu để phục hồi vương th ất Ngược lại, khi một nước chư h ầ u có loạn, th iên tử sẽ sai một

vài nước chư h ầu "điếu dân, p h ạ t tội" để phục hồi

lại cái nước bị m ất, dòng họ vua suýt bị diệt Kết quả N há Chu chỉ dựa trê n Lễ mà tồn tạ i tử -1100 đến -256, tức là 844 năm , triều đại dài n h ấ t trong lịch sử T rung Hoa Đó lá cơ sở của lý lu ận của

Khổng tử "Khi thiên hạ có đạo thì lễ nhạc, chinh

p h ạ t là do thiên tử ban hành" Đó lá bằng chứng

cho th ấy một đường lối chính trị mềm dẻo dựa trên văn hóa có tác dụng hơn đường lối chính trị cứng rắn như thế nào

Từ khi Khổng tử còn sống (-555 đến -479) cho đến năm -140 học th u y ết của ông chẳng qua chỉ là một chi n h á n h trong nhiều trường phái khác, lại cảng không phải là học th u y ết chủ đạo Đó là giai

đoạn "Trăm nhả đua tiếng" M ạnh tử (-372 đến -289)

th an phiền rằn g th iên hạ nếu không theo th u y ết vị ngã của Dương Chu thì theo th u y ết kiêm ái của Mặc Địch Tuân tử (-298 đến -238) n h ận xét rằn g

Trang 40

sau khi Khổng tử m ất đạo Nho chia ra làm tám chi nhán h , không ai theo ai Sau khi nước Tần đã thống n h ấ t th iên hạ váo năm -221, nhà Tần lấy Pháp gia làm học th u y ết chính vá Tần Thủy Hoảng căm ghét các n h à Nho lấy chuyện xưa khuyên Hoàng

đế th ay đổi chính sách của m ình đã ra lệnh đốt các sách Nho giáo dùng để dạy và giết các nhà Nho Khi Lưu Bang, tức H án Cao Tổ dựng lên nhà H án vảo năm -205 th ì ông ta cũng căm ghét các nhá Nho không kém T ần Thủy Hoàng, thậm chí gặp nhà Nho th ì g iật lấy mũ mà đái vào trong Thế nhưng là người hiểu việc, ông ta biết có thể ngồi trên m ình ngựa để lấy thiên hạ, nhưng muốn cai trị th iên h ạ th ì phải dựa vào m ột sức m ạnh tinh

th ầ n để làm cơ sở đoàn k ết n h â n dân, tạo chỗ dựa cho việc cai trị

Điều H án Cao Tổ đã làm chứng m inh không thể chối cãi tầm quan trọng của văn hóa đối với vận m ệnh m ột nước, một đế chế Trước giai đoạn

tư bản chủ nghĩa là giai đoạn có thể lấy cái lợi về kinh tế thống n h ấ t đ ất nước và đế chế, nước nào,

đế chế nào muốn th à n h lập vững chắc cũng đều phải dựa trê n cơ sở thống n h ấ t về tin h th ần thậm chí phải tạo ra cơ sở ấy, hay mượn cái cơ sở ấy mà

p h á t huy sức m ạnh chính trị

Có hai người anh hùng bậc n h ấ t thế giới cổ đại

đã không nắm được nguyên lý này nên đế chế sụp

đổ n h a n h chóng Người th ứ n h ấ t là A-lếch-xăng đại

đế (-356 đến -332), tuy đã mở rộng đế chế từ Hy Lạp đến biên giới Ân Độ nhưng nền văn hóa mà ông

Ngày đăng: 16/11/2022, 23:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w