1. Trước khi tiếp xúc với T rung Hoa, tín ngưỡng dân gian Việt N am m ang dấu ấn ĐNA r ấ t đậm nét (1). Các tín ngưỡng nảy x u ất p h át tử cơ sở linh hồn giáo của môi trường rửng núi. ĐNA thời cổ xưa n h ấ t lầ một khu rừng m ênh mông và những con sông suối chảy qua lả nhữ ng m ạch giao thông. Do đó, có tục thờ cây, thờ đá, thờ sông, suối. Tục thờ cây đã
được khảo sá t trong nhữ ng công trìn h của Cadière, Culte des arbres (Tục thò cây), của Przyluski. N otes su r le culte des arbres au Tonkin (Ghi chú vê tục thờ cây ở Bắc bộ). Cadière nói đến các bà cô trên cây hay b ắ t trẻ con ốm và người ta đốt một hình n h ân giống đứa bé để hầu. Trong nhiều làng, ngay gần đây vẫn còn những b á t hương đ ặ t trên các cây cổ thụ. Tục ngữ nói "Thẩn cây đa, ma cây đề". Cây là nguồn sống chính của thòi hái lượm, do đó nảy sinh huyền thoại về cây vũ trụ , vũ trụ ra đời từ một cây lớn. Ta th ấy điều này trong sử thi Mường
"Đẻ đất đẻ nước", trong vô số huyền thoại về quả bầu sản sinh loài người. Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn sưu tập được gần một trăm huyền thoại của nhiều tộc người khác n h a u về quả bầu từ đó có những con người đầu tiên ra đời. Cây vũ trụ còn in dấu vết trong cây nêu ngày Tet, trong lễ đâm trâ u ở Tây Nguyên tổ chức q uanh một cột gỗ cao dựng đứng.
Tục thò đá cũng r ấ t cổ và là đề tả i nghiên cứu của Colani. T rung Quốc và Việt Nam đều có tục thờ núi. Nhưng các th ầ n của Ngũ Nhạc, năm ngọn núi của T rung Quốc không th am gia vào việc bảo vệ nước. Còn th ầ n T ản Viên lại giúp vua H ùng chống ngoại xâm. Đặc biệt Lí ô n g Trọng, ông th ầ n đền Chèm mà Việt điện u linh xem là một trong bốn vị th ầ n tối linh trong nước th ì theo Tạ Chí Đại Trường là x u ất p h át từ tục thờ đá.
Sông suối lá cơ sở sinh sống của người xưa. Thôn T hánh Q uán ở Bạch Hạc (Việt Trì) thờ sông Tam
Giang là vị th ầ n địa phương. Truyện kể về việc Cao Biền muốn yểm th án h Đại La. Vị th ần sông Tô Lịch biến các bủa của y th ả n h tro bụi. Cao Biền than;
"ớ đây có vị thẩn rấ t linh, nếu ta ở đây tấ t sinh tai vạ". Các vị th ầ n sông của tín ngưỡng dân gian sau này được gán những công lao giúp nước theo tâm thức Tổ quốc luận, rồi một số được sắc phong, đều m ang phẩm phục quan lại, điều này không khỏi nói lên ản h hưởng T rung Quốc.
Từ chỗ thờ hiện tượng th iên nhiên người ta thờ động vật. H ai con vật phổ biến n h ấ t trong huyền thoại ĐNA là chim vá rắn . Rồi chim th án h tiên vầ rắ n th à n h rồng bằng cách k ết hợp chim với người vá rắ n với cá sấu. Rồng lả sản phẩm của ĐNA, chúa tể các sông, chim là chúa tể các rừng và có m ặt trong các huyền thoại, trước khi m ang hình thức T rung Quốc (2).
2. Từ giai đoạn hái lượm bước sang giai đoạn nông nghiệp là m ột chặng đường p h át triển mới.
Theo V.Vavilov, ĐNA lục địa và hải đảo là một trong số mười m ột tru n g tâm x u ấ t p h á t của các cây trồng.
Theo H audricourt, Hédin, đây là khu vực thế giới giàu có n h ấ t về các loại cây và cây trồng. Nó đã cho ra đời m ột thời Tân thạch được đánh dấu bằng việc th u ầ n dưỡng các củ, như khoai mài, khoai môn và sau đó lả ngũ cốc như ý dĩ và đặc biệt cây lúa.
c. Sauer cho đó là nơi th u ầ n dưỡng chó, lợn, gà, vịt, ngỗng. Người ta có th ể thêm vào danh sách này trâ u vả có lẽ cả voi châu A nữ a (3).
Từ cuộc cách m ạ n g nông nghiệp này nảy sinh sự chuyển hóa về tư tưởng.
Một là vai trò của tín ngưỡng phồn thực. Trong tín ngưỡng xa xưa, trồng được cây ra quả cũng là một với việc tra i gái ăn nằm sinh con cái. Cho nên có văn hóa nông nghiệp sẽ có tín ngưỡng phồn thực, đồng thời đàn bá đẻ con chứ không phải đàn ông, nên trong tín ngưỡng phụ nữ sẽ là chủ chốt.
Tín ngưỡng phồn thực biểu hiện ở việc thờ sinh thực khí và h àn h vi giao phối. Tục thờ sinh thjực khí, đặc biệt sinh thực khí nam là phổ biến ở Ân Độ vá ĐNA. Trong phần lễ hội sẽ nói về các lễ hội.
Đây chỉ xét về điêu khắc; các n h á mồ Tây Nguyên tra n g trí các tượng nam nữ với bộ p h ận sinh thực khí phóng đại, các cột đá dựng lên được thờ. H ành vi giao phối biểu hiện trê n trống đồng Đào Thịnh (500 năm trước C.N) với bốn đôi nam nữ.
Hai là các hiện tượng th iên nhiên liên quan tới nông nghiệp. Một khi đã làm nông nghiệp, th iên nhiên sẽ liên quan với con người như m áu th ịt. Có hai hiện tượng quyết định cuộc sống là n ắn g và mưa. N ắng là do m ặt trời: m ặt trời có m ặt ỏ mọi trống đồng, ơ phương Nam việc thờ trời là chung cho toàn dân. Xưa gọi là Bà trời ("õ n g trăng mà lấ y Bà trờ i"), sau náy chịu ảnh hưởng T rung Quốc mới đổi "Ông trời". Trái lại, ở T rung Quốc chỉ có Hoàng đế là con trời (Thiên tử) mới được phép thờ trời. Dân mả thờ trời là phạm pháp. Đối lập vói Bà trời có Bà đ ất sau này cũng chuyển th à n h nam giới là Thổ địa, một tên T rung Quốc.
Để có nước trồng trọ t phải có bốn bà: Bà Mây, Bà Mưa, Bà sấm , Bà Chớp. Sau này khi P h ật giáo vào, cả bốn bá đều th à n h P h ậ t và chuyển th àn h hệ thống tư pháp với những tên gọi Trung Quốc. Bà Mây th à n h Pháp Vân thờ ở chùa Bà Dâu, bà Mưa th à n h P háp Vũ thờ ở chùa Bà Đậu, Bà sấm th àn h Pháp Lôi, thờ ở chùa Bá Tướng, Bá Chớp th án h Pháp Điện thờ ở chùa Bà Dán. Vua chúa, quan lại đề phải cầu các Bà để có được mưa.
Khi nông nghiệp chuyển sang nghề trồng lúa nước th ì toàn bộ tín ngưỡng chuyển hóa lần cuối củng tạo th à n h bộ m ặt tín ngưỡng ngáy nay.
Một lá, các tín ngưỡng chuyển th án h tín ngưỡng nông nghiệp và xoay xung quanh chu kỳ trông trọt của cây lúa. Điều náy sẽ bàn trong mục lê hội.
H ai là, tử tín ngưỡng Mẹ lúa chuyển th án h tín ngưỡng Tứ Phủ, điều này sẽ bàn khi nói đến tín ngưỡng Đồng Bóng.
Ba là, nghề trồng lúa nước chi phối toàn bộ sinh hoạt tin h th ầ n người Việt từ phong tục đến đình đám, nghi lễ.
3. Chỉ sau khi nắm được cái gốc ĐNA của tín ngưỡng, ta mới phân x u ất được trong tín ngưỡng của ta p h ần náo lá cái gốc vá phần náo lá thêm váo sau. Vì công trìn h náy chỉ giới thiệu cách làm việc chứ không miêu tả chi tiế t cho nên chỉ bó hẹp vào hai hiện tượng quen thuộc n h ấ t là thờ cúng tổ tiên vá thờ th à n h hoàng.
- Tục thờ cúng tổ tiên là tín ngưỡng phổ biến n h ấ t của người Việt. Nó b ắ t nguồn từ niềm tin rằng linh hồn người chết vẫn tồn tạ i trong thế giới chúng ta và ảnh hưởng tới cuộc sống của con cháu. Những công trìn h dân tộc học cho biết tín ngưỡng này cũng tồn tại ở người La Mã, r ấ t phổ biến ở M élanésie.
ơ ĐNA lục địa, do ản h hưởng P h ậ t giáo, có tục hỏa tán g hài cốt người chết, cất tro ở chùa và được đức P h ậ t che chở, nhưng tín ngưỡng linh hồn cha ông tác động đến con cháu vẫn còn. Tôi nghĩ hình thức thờ cúng này tìm th ấy ở V iệt N am cách biểu hiện phổ biến n h ấ t và đầy đủ n h ất. Nó phổ biến nhất, vì người Việt dù theo Nho, P h ậ t hay Lão vẫn thờ cúng cha mẹ. Bàn thờ cha mẹ có m ặt tạ i mọi nhà kể cả ở các gia đình Cộng sản hay Công giáo. Mọi gia đình đều mời anh em th â n tộc đến dự ngày cha mẹ m ình m ất. Người V iệt N am lấy lòng biết ơn làm nền tản g đạo lý. Tôi phải biết ơn cha mẹ đã sinh ra tôi vá kỷ niệm ngày song th â n m ất cùng với anh em con cháu để tạo nên cơ sở cho quan hệ gia đình.
Có linh hồn hay không th ì không th ể biết, nhưng chắc chắn tôi phải biết ơn.
Tôi có khảo sá t tục này ở T rung Quốc. N ếu tài liệu cho biết quý tộc T rung Hoa thờ cúng tổ tiên r ấ t kỹ lưỡng th ì không th ấy nói ở c ổ T rung Hoa dân thường cũng thờ nh ư thế. Tục này tồn tạ i ở Hoa Nam nhưng Hoa Nam là đ ấ t ĐNA xưa. Tôi có hỏi các học giả T rung Quốc th ì ý kiến không n h ấ t trí. Tục này là đầy đủ n h ấ t ở V iệt Nam vì nó có cả