1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quá trình hình thành bản sắc văn hóa việt nam

163 581 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 163
Dung lượng 2,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thế mới biết, trong các yếu tố bản sắc dân tộc, có những cái xuất hiện sau, có những cái hấp thụ từ bên ngoài những cái biến đi, phù hợp với con người Việt Nam Có người nói rằng văn hóa

Trang 1

TRUNG TÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN QUỐC GIA

VIỆN KHẢO CỔ HỌC

Chương trình KX - 06 NHỮNG VẤN ĐỀ VĂN MINH VĂN HÓA

VÌ SỰ PHÁT TRIỂN VÀ TIẾN BỘ XÃ HỘI

Đề tài KX 06 - 02

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH BẢN SẮC VĂN HÓA VIỆT NAM

Trang 2

TRUNG TÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN QUỐC GIA

VIỆN KHẢO CỔ HỌC

Chương trình KX - 06 NHỮNG VẤN ĐỀ VĂN MINH VĂN HÓA

VÌ SỰ PHÁT TRIỂN VÀ TIẾN BỘ XÃ HỘI

Đề tài KX 06 - 02

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH BẢN SẮC VĂN HÓA VIỆT NAM

Trang 3

DANH SÁCH CÁC THÀNH VIÊN

THAM GIA NGHIỀN CỨU ĐỀ TÀI KX06 - 02

Chủ nhiệm đề tài: Giáo sư HÀ VĂN TẤN

Các thành viên (xếp theo A, B, C):

1/ NCV Bùi Văn Vinh

2/ PGS Chử Văn Tân (Chủ nhiệm đề tài nhánh)

3/ PTS Hà Hữu Nga

4/ PT5 Hà Văn Phùng (Thư ký đề tài)

5/ GS Hà Văn Tấn (Chủ nhiệm đề tài nhánh)

6/ PGS Hoàng Xuân Chinh (Chủ nhiệm đề tài nhánh)

7/ PTS Nguyễn Thị Kim Dung

8/ PGS-PTS Phạm Lý Hương (Chủ nhiệm đề tài nhánh)

9/ PTS Nguyễn Trường Kỳ

10/ PTS Trịnh Các Tưởng

11/ PTS Trịnh Văn Sinh

13/ NCV Vũ Thế Long

Trang 4

MẤY LỜI NÓI ĐẦU Bản sắc văn hóa dân tộc là hệ thống các giá trị văn hóa mà mỗi dân tộc chấp nhận Tất

nhiên nói" giá trị" ở đây, ta không hề dùng khái niệm đó theo nghĩa giá trị học (axiologic), nghĩa là tiến bộ hay không tiến bộ, theo nhận thức chủ quan của chúng ta Mỗi dân tộc có một bản sắc văn hóa riêng gồm những giá trị phù hợp với nó, kể cả những giá trị trung tính

(neutre)

"Ví dụ ăn là một yêu cầu sinh học Nhưng ăn bốc ăn đũa hay ăn bằng thìa thì đó là văn hóa Và chúng ta không thể coi cách ăn nào là tiến bộ hơn cách ăn nào Đó là những giá trị trung tính Cũng như thế cái đói là động lực sinh học nhưng khẩu vị để thỏa mãn cái đói chính là văn hóa

Nhưng nói như vậy không có nghĩa là tách rời tự nhiên và văn hóa Người ta thường nói cái gì không phải tự nhiên thì là văn hóa Nhưng có điều văn hóa không thể tách rời với môi trường tự nhiên Tất nhiên, văn hóa gắn liền với ứng xử và ứng xử là cả thiên nhiên và xã hội Và ứng xử thì phải có chuẩn mực của cộng đồng Chính ở những chuẩn mực cộng đồng

này, bản sắc văn hóa lộ ra rõ ràng Và sau cùng, chúng ta cần thấy rằng văn hóa cũng phụ

thuộc vào lịch sử : lịch sử biến đổi và do đó, văn hóa cũng biến đổi theo, do những điều kiện

mà lịch sử đưa lại

Như vậy chúng ta cần chú ý đến ba điểm :

1 Văn hóa và môi trường tự nhiên

Trong thư Triệu Đà viết cho vua Hán có câu" Âu Lạc ở phía Tây, ở trần mà cũng xưng vương'' Chắc là câu đó không tránh khỏi có ý miệt thị Nhưng ở trần ở nước Âu Lạc, và trước đó, ở thời đại các vua Hùng thì là một đặc điểm gắn liền với văn hóa, với bản sắc văn hóa : ở trần đóng khố đối với nam và mặc váy đối với nữ Đóng khố mặc váy thì ở nông thôn

Việt Nam cho đến trước cách mạng tháng tám còn rất phổ biến Chúng tôi nghĩ rằng điều đó

phù hợp với điều kiện khí hậu Đó là nói chuyện cái mặc Cũng như vậy trong cái ăn, bát

canh có vị tri quan trọng trong bữa cơm Việt Nam Chan canh là cách ăn đặc biệt Việt Nam

Lấy ví dụ như người Nhật, họ không bao giờ chan lẫn cơm với canh mặc dầu nước này cũng

ăn cơm và ăn canh Và trong

Trang 5

các thứ rau làm canh, người Việt Nam lại thích loại rau nhớt như rau mồng tơi, rau đay Cũng lại do điều kiện tự nhiên

Tất nhiên, cũng do điều kiện khí hậu, giũa các vùng có khác nhau Miền Nam, như hiện nay, thích uống trà đá, còn miền Bắc, thì lại thích chè nóng Nhưng nhìn chung, cần chú

ý môi trường tự nhiên đối với văn hóa

Môi trường tự nhiên, từ thời dựng nước đến nay, lại ít thay đổi Do đó, nhiều yếu tố bản sắc văn hóa gắn liền với môi trường có lẽ là ít thay đổi

2.Văn hóa và môi trường xã hội

Môi trường xã hội thì biến đổi có phần nhanh hơn môi trường tự nhiên Thế nhưng ở Việt Nam, văn hóa nói chung là văn hóa xóm làng và văn hóa nông nghiệp cho đến nay tình hình đó gần như không có mấy thay đổi

Cái mô hình làng, liên làng và trên đó là siêu làng, vẫn là cái mô hình đã hình thành từ ngày lập nước cho đến hôm nay

Các chuẩn mực văn hóa vẫn được quy định bằng thói quen phong tục, cấm kỵ đã hình thành từ nghìn xưa Mà chuẩn mực là việc áp dụng các giá trị vào đời sống

"Miếng giầu là đầu câu chuyện'' Một miếng ở làng bằng sàng trong bếp"."Một giọt máu đào hơn ao nước lã", v.v và v.v là những ứng xử mà chúng tôi nghĩ rằng đó là những chuẩn mực khá bền vững Và suy cho cùng, những chuẩn mực đó chắc đã nẩy sinh từ thời dựng nước Ví dụ : Mối quan hệ giữa họ và làng ở Việt Nam, không bao giờ công xã láng giềng hay công xã nông thôn trở nên thuần nhất, mà vẫn gắn liền với công xã thị tộc nghĩa là vai trò của huyết tộc bao giờ cũng lớn Chắc là ai cũng biết rằng cho đến nay, ở nông thôn vẫn còn các "chi bộ họ ta"

Nói như vậy là phải nói đến nguyên nhân lịch sử Đáng lý ra, khi nhà nước đã xuất hiện, thì các tàn dư thi tộc , các cơ sở cộng đồng dần dần biến đi Nhưng ở Việt Nam lại khác Các cuộc xâm lược đã buộc các yếu tố cộng đồng phải cố kết lại Và trong một lịch sử mà các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm xảy ra liên miên thì các yếu tố cộng đồng phải tồn tại lâu dài Trước quyền lợi của dân tộc thì cá nhân phải quên đi và cộng đồng là trên hết

Vì vậy nhìn nhận về văn hóa, về bản sắc văn hóa chúng ta không nên quên điều kiện lịch sử và xã hội

3.Bản sắc văn hóa dân tộc cũng thay đổi

Trang 6

của Nhật, áo "Sari" của Ấn Độ, áo dài "xẻ từ đùi tới chân" như áo Thượng Hải, chúng ta cho rằng áo dài có tính dân tộc Ai thấy áo dài cũng biết ngay là áo của dân tộc Viêt Nam Khi chúng ta ăn thịt kho, cá kho bằng nước dừa xiêm, có bỏ nước màu, khác hẳn với thịt heo xào

"chua ngọt" và cá chưng tương của người Trung Quốc, thì thịt kho, cá kho đã mang tính "dân tộc" Việt Nam Nói chi đến cách "gói nem chua", thì dân tộc Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Thái Lan nhất định không biết làm món ấy "Nem chua" rất đậm màu dân tộc Việt Nam"

Nhưng ta bỗng tự hỏi rằng cái áo dài Việt Nam kia có từ bao giờ ? Cái áo dài đó sản sinh ra gần đây thôi, chứ đâu phải có từ đầu Thế mới biết, trong các yếu tố bản sắc dân tộc,

có những cái xuất hiện sau, có những cái hấp thụ từ bên ngoài những cái biến đi, phù hợp với con người Việt Nam

Có người nói rằng văn hóa Việt Nam vốn là thuộc nền văn hóa Đông Nam Á, rồi sau

đó do ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc, văn hóa Việt Nam chuyển dần sang văn hóa Đông

Á

Chúng ta cần phân tích rõ điều này Lấy ví dụ trong âm nhạc Có người cho rằng dưới ảnh hưởng của Trung Quốc chúng ta mới có thêm đàn đáy, đàn nguyệt Nhưng cũng có người cho rằng đàn đáy của Trung Quốc (Tạm huyển cầm) và Mông Cổ (sandfe) bịt bằng da trăn thùng đàn Shamisen của Nhật bịt bằng da mèo ở phía mặt và da chó ở phía lưng Còn đàn đáy Việt Nam, tuy cũng có 3 dây nhưng rất khác các loại đàn trên Đàn nguyệt Việt Nam cũng không giống với đàn nguyệt cầm (Yuegin) Trung Quốc Nguyệt cầm Trung Quốc có cần đàn ngắn, phím không cao, đàn có chữ chuyền, thiếu chữ nhấn Do đó đàn đáy, đàn nguyệt phải coi là có tính dân tộc Và gần đây thôi, ta lại phải nói đến đàn ghi-ta phím lõm dùng cho hát cải lương

Do đó không nên đối lập sự vay mượn và sự biến đổi sáng tạo Tất cả cái đó, đều có thể làm cho bản sắc văn hóa dân tộc thêm giàu có

Điều đáng chú ý là lúc nào thì yếu tố ngoại sinh vay mượn của người đã trở thành yếu

tố nội sinh của dân tộc mình

Với một cách nhìn như thế chúng tôi nghiên cứu "Quá trình hình thành bản sắc văn hóa Việt Nam" Theo giới hạn của đề tài, chúng tôi chỉ nghiên cứu những yếu tố bản sắc văn hóa của người Việt cổ hình thành vào buổi khai sinh của văn minh Mà muốn làm được điều

đó, chúng tôi không thể không tìm hiểu các vấn đề :

1 Môi trường sống của người Việt cổ

2 Sự hình thành nền văn minh Việt cổ

3 Nguồn gốc người Việt

Trang 7

4 Văn minh kỹ thuật của người Việt cổ

5 Thế giới tinh thần của người Việt Cổ

Như đã nói ở trên, bản sắc văn hóa không thể không gắn với môi trường tự nhiên Còn

sự hình thành văn minh Việt cổ thì cho chúng ta biết các bước tiến tới văn minh cũng như bản chất của văn minh mà ở đây là nền văn minh Đông Sơn Và như vậy ta có thể thấy bản sắc văn hóa xuất hiện vừa là lâu đời vừa là nhảy vọt Lâu đời vì đã có những yếu tố từ thời Tiền Đông Sơn, nhưng nhảy vọt, khi một nền văn minh với quốc gia, với nhà nước đã xuất hiện - văn minh Đông Sơn "Cộng đồng người Việt tổ tiên ta đã sớm trở thành một dân tộc, một quốc gia, đó là một sức mạnh, một thế mạnh rất cần thiết và quý báu Đó là một sự tự khẳng định giàu giá trị văn hóa để tự bào vệ mình để tồn tại và phát triển" (Phạm Văn Đồng, Văn hóa và đổi mới)

Bản sắc văn hóa lộ rõ hơn trong văn minh kỹ thuật cũng như thế giới tinh thần Viết các phần này, chúng tôi cũng đã cố gắng nêu lên các yếu tố bản sắc văn hóa dân tộc

Chúng tôi cũng coi việc tìm hiểu nguồn gốc người Việt như là một nhiệm vụ cơ bản trong việc tìm về cội nguồn của văn hóa Việt cổ, và do đó, tìm về cội nguồn của bản sắc văn hóa

Và sau cùng, là phần" Bản sắc văn hóa Việt cổ" thử phác họa những yếu tố bản sắc văn hóa Việt Nam thời khai sinh

Tất nhiên là vào thời đó, chúng ta thấy trong bản sắc văn hóa vắng bóng những yếu

tố mà sau này mới có

Nhưng xem ra, văn hóa Việt Nam có nhiều lớp, nhưng không xếp chồng lên nhau, chúng ta đều có thể nhìn thấy các lớp văn hóa đó, qua dặm dài lịch sử Chẳng những thế có nhiều yếu tố bản sắc văn hóa đã xuất hiện trong buổi bình minh của văn minh vẫn tiếp tục tồn tại đến ngày nay Những yếu tố mới của văn hóa không làm suy giảm chúng, mà ngược lại, còn rèn luyện, hun đúc chúng, làm cho chúng trở thành sức sống trường tồn của dân tộc

Tất nhiên ở đây chúng tôi cũng suy nghĩ đến những nhược điểm của văn hóa truyền thống, vì không có cái gì chỉ có mặt tốt mà không có mặt xấu, mặt yếu Đó là biện chứng

Nhưng dẫu sao, chúng tôi không nghĩ rằng công trình này đã hoàn hảo, hẳn là còn nhiều vấn đề cần bàn cãi

Để hoàn thành công trình này, chúng tôi đã phân thành các đề tài nhánh, do những tập thể cán bộ nghiên cứu đảm nhiệm Chúng tôi cũng đã tiến hành nhiều hội

Trang 8

thảo mong tập hợp được ý kiến rộng rãi của nhiều học giả Viết công trình tổng hợp này chúng tôi phân công như sau :

"Khái quát về môi trường sống của người Việt cổ" do Vũ Thế Long ; " Sự hình thành nền văn minh Việt cổ ",do Chử Văn Tần ; " Nguồn gốc người Việt", do Hà Văn Tấn ;"Văn minh kỹ thuật của người Việt cổ "do Phạm Lý Hương ; "Thế giới tinh thần của người Việt cổ", do Hoàng Xuân Chinh; "Bàn sắc văn hóa Việt cổ", do Chử Văn Tần và Hà Văn Tấn Công trình do Hà Văn Tấn chủ biên

Chúng tôi cảm ơn giáo sư Nguyễn Hồng Phong, chủ nhiệm chương trình "Văn hóa văn minh vì sự phát triển và tiến bộ xã hội " và giáo sư Vũ Khiêu đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu Chúng tôi cũng cảm ơn các nhà nghiên cứu trong và ngoài Viện Khảo cổ học đã nhiệt tình tham gia các cuộc hội thảo thuộc đề tài này

HÀ VĂN TẤN

Trang 9

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ MÔI TRƯỜNG SỐNG CỦA NGƯỜI VIỆT

CỔ Môi trường tự nhiên có một ảnh hưởng to lớn lên đời sống của con người Môi trường

là yếu tố rất quan trọng, nó góp phần tạo nên bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc Dân cư trên thảo nguyên sống đời sống du mục thì mang bản sắc khác với dân chài trên sông biển Người sống trên núi cao có cuộc sống khác với người sống ở đồng bằng Đó là lẽ tự nhiên Vậy môi trường sống tự nhiên của người Việt cổ ra sao ? Ảnh hưởng của môi trường tự nhiên lên đời sống của người Việt cổ như thế nào ? Đó là điều cần tìm hiểu đầu tiên khi muốn biết bản sắc văn hóa của người Việt

Môi trường tự nhiên chính là những yếu tố quan trọng tạo nên bản sắc văn hóa của người Việt Để tìm hiểu khái quát về môi trường sống tự nhiên của người Việt cổ chúng ta có thể xem xét trên một số phương diện chính sau : vị trí địa lý hay không gian sinh tồn ; Chế

độ khí hậu ; Hệ động thực vật; Đất đai và khoáng sản

Để hiểu được môi trường sống của người Việt cổ đương nhiên chúng ta cần phải dựa vào các tư liệu khảo cổ học, cổ sinh vật học, cổ địa lý, cổ khi hậu, các thư tịch cổ cùng nhiều nguồn tư liệu tổng hợp khác Trong tinh hình hiểu biết hiện tại Ở đây, chỉ xin nêu một số nét khái quát về môi trường sống của người Việt cổ trong mối quan hệ giữa môi trường tự nhiên

và văn hóa

Không gian sinh tồn của người Việt cổ : Thật khó có thể phân định một cách rạch ròi không gian sinh tồn của một tộc người Như là một trong những động vật sống trên hành tinh này, theo luật tự nhiên, con người có thể mở rộng hoặc thu hẹp địa bàn cư trú của mình tuy theo hoàn cảnh cũng như nhu cầu nội tại của mình Ranh giới lãnh thổ quốc gia hiện tại không phản ánh được ranh giới sinh tồn của các tộc người trong quá khứ Bởi thế, đây là một vấn đề khá phức tạp Hiện tại các tài liệu khảo cổ học cho biết cư dân Việt cổ đã từng có mặt chủ yếu trong khu vực nay là phần lãnh thổ phía bắc Việt Nam Các nhóm cư dân Việt cổ sống tập trung ở các đồng bằng lớn Đó là đồng bằng Sông Hồng, đồng bằng Sông Mã và đồng bằng sông Lam (trừ vùng đất bồi ven biển mới được bồi tụ trên dưới 1000 năm trở lại đây) Ngoài vùng đồng bằng, dấu tích văn hóa của người Việt cổ còn được tìm thấy cả ở miền núi

Như vậy, không gian sinh tồn của người Việt cổ là một không gian mở, có núi cao ở phía tây, tây bắc, bắc và đông bắc, có vùng đồi trung du và đồng bằng Có đồng bằng cao tiếp

Trang 10

cao, hệ sinh thái thung lũng, hệ sinh thái trung du, hệ sinh thái đồng bằng phù sa, hệ sinh thái ven biển Bản thân các hệ sinh thái khác biệt này đã góp phần tạo nên sự phong phú trong bản sắc văn hóa của người Việt

Tuy sống trong các hệ sinh thái khác nhau nhưng người Việt vẫn có được những mối giao lưu chặt chẽ giữa các tộc người và cả với các tộc láng giềng vì người Việt vốn sinh tồn trong một không gian mở Không gian mở này bao gồm toàn bộ phần phía đông là biển có thể đón nhận mọi luồng văn minh khác từ biển vào và ngược lại cũng qua các cửa biển mà văn minh Việt có thể lan tỏa ra các vùng hải đảo hoặc các vùng ven biển xa xôi khác Các dòng sông lớn nhỏ và hệ thống những thung lũng là những huyết mạch giao thông nối liền các cộng đồng cư dân Việt sống ở đồng bằng và núi cao Đồng thời những hệ thống sông ngòi này cũng chính là những mạch nối giữa cư dân sống trong các miền đồng bằng và mạch nối Bắc - Nam

Không gian mở là một điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, văn hóa của người Việt từ khi hình thành cho mãi tận ngày nay Không gian mở là một trong những nhân tố địa

lý hết sức quan trọng giúp cho văn hóa Việt Nam không đơn điệu mà luôn luôn đa dạng và phong phú Nhờ đó, người Việt có khả năng hội nhập và lan tỏa nền văn hóa của mình, tạo nên một bản sắc văn hóa độc đáo nhưng không cô lập Nền văn hóa đó mang những sắc thái riêng phù hợp với hoàn cảnh sống và môi trường của riêng mình nhưng cũng mang những sắc thái chung của cả khu vực Đông Nam Á rộng lớn

Tuy nhiên, không gian mở mặt khác cũng có những bất lợi của nó Đó là người Việt luôn luôn một mặt phải chăm lo xây dựng cuộc sống kinh tế, văn hóa của mình trong cộng đồng thống nhất đa sắc tộc, mặt khác phải lo phòng thủ và chống trả quyết liệt với các kẻ thù

từ bên ngoài với mọi hình thức, từ xâm lấn đất đai bờ cõi cho đến âm mưu đồng hóa về văn hóa

Có thể nói không gian sinh tồn mở đã là tiền đề tự nhiên thuận lợi giúp cho người Việt ngay từ thời mới khai sinh đã có một khả năng tiếp xúc với nhiều nền văn hóa khác và chính quá trình tiếp xúc đa phương đó đã giúp người Việt không bị đồng hóa hay lệ thuộc quá chặt chẽ vào bất cứ một nền văn hóa mạnh nào Người Việt đã tạo dựng cho mình một nền văn hóa riêng trên cơ sở tự phát triển và hội nhập những tinh hoa của các nền văn hóa khác rồi biến đổi cho phù hợp với phương thúc sống trong môi trường tự nhiên và tâm thức sống của riêng mình trong cộng đồng xã hội và cộng đồng nhân loại

Chế độ khí hậu : Hiện tại, chưa có những nghiên cứu về vật hậu học để tìm hiểu những đặc trưng và những diễn biến về khí hậu trong môi trường sống của người Việt cách đây từ 3-4 nghìn năm về trước cho tới ngày nay Tuy nhiên, những khảo sát trên

Trang 11

quy mô rộng hơn đã cho thấy từ giai đoạn đầu Holocene cho tới giờ, về mặt khí hậu, cũng có một số biến đổi nhưng không phải là những đột biến lớn Khí hậu trong vòng 3-4 nghìn năm trở lại đây núi chung có thể hình dung cũng tương tự như khí hậu hiện tại

Người Việt hình thành trong một vùng khí hậu gió mùa, lắm mưa, nhiều nắng và rất khắc nghiệt(1)Tính chất khắc nghiệt thể hiện ở chỗ trong mùa hè thì nhiệt độ và độ ám thường rất cao, rất không thuận lợi cho sức khỏe của con người và nhiều loài gia súc, nhiều nấm mốc, vi trùng côn trùng độc hại dễ sinh sôi và phát triển Mùa hè cũng là mùa mưa bão, lũ lụt

Có những trận bão ghê người mạnh tới cấp 11, 12 làm tốc nhà cửa, đổ cây cối đắm thuyền

bè Có những trận lũ lụt cuốn phăng theo dòng sông người, nhà cửa, mùa màng và gia súc

Về mùa đông, tuy nhiệt độ tronn vùng không hạ thấp như nhiều vùng khác trên thế giới nhưng chế độ thời tiết trong mùa đông ở Bắc Việt Nam rất thất thường Có những ngàỵ giữa mùa đông, trời bỗng nóng nực như mùa hè rồi bất thình lình một trận gió mùa tràn tới trời đột ngột trở rét Cái rét cắt da cắt thịt tạo nên bởi sự hạ nhiệt độ đột ngột kèm theo gió lạnh và mưa phùn là một dạng thời tiết độc hại khiến nhiều người xứ lạnh đến vùng này cũng cảm thấy rất khó chịu Biến đổi nhiệt độ và độ ẩm đột ngột là một trong những nguyên nhân gây

ra tật bệnh cho người và gia súc.(2)

Tuy nhiên, chế độ khí hậu trên lại là tiền đề thuận lợi cho nhiều loài thực vật cả lợi lẫn hại đua nhau phát triển Chế độ khí hậu này cũng cho phép người Việt có điều kiện du nhập

và phát triển một số cây ăn quả, cây lương thực và đặc biệt là một số cây trồng ngắn ngày trên vùng đất này làm đa dạng và phong phú nền văn hoá trồng trọt của mình Đó là điều nhiều cư dân sống trong các vùng khác dẫu có muốn cũng khó có thể thực hiện được

Môi trường khí hậu có nhiều thay đổi khiến cho người Việt phải sáng tạo ra nhiều kiểu nhà ở, quân áo khác nhau sao cho phù hợp với thời tiết với môi trường sống đặc thù của từng vùng trong từng mùa Tìm ra cách ăn uống phù hợp với từng mùa các cách phòng và chống bệnh tật mỗi khi trái gió trở trời và quan trọng nhất là tìm ra

(1) Theo những số liệu thống kê khoa học thì lượng bức xạ tổng cộng; ở nước ta vượt quá 100 kcal/cm2 trong một năm Cân bằng bức xạ quanh năm dương và đạt đến 75 kcal/cm2 /năm Nhiệt độ trung bình năm là từ 22 đến 27 độ C Tổng lượng nhiệt trên l0 độ C cả năm hay là tổng lượng nhiệt hoạt động lên đến 8000 độ Nói

Trang 12

những lịch thời vụ gieo trồng và chăm sóc hoa màu trong sản xuất nông nghiệp Rõ ràng là yếu tố khí hậu đã để lại những dấu ấn rất đặc trưng trong mọi hoạt động văn hóa vật chất và tinh thần của cư dân Việt Chính đây là những yếu tố rất quan trọng tạo nên bản sắc độc đáo của người Việt

Khí hậu khắc nghiệt cũng chính là điều kiện rèn đúc con người Việt Nam Do giỏi chịu đựng và sinh tồn trong những điều kiện thời tiết khác nghiệt, người Việt có khả năng chịu đựng một cách dẻo dai, bền bỉ trước những biến đổi của môi trường và sức tấn công của bệnh tật Đây là tiền đề thuận lợi giúp cho tổ tiên ta từ bao đời nay có khả năng giỏi đánh giặc

và mở mang bờ cõi Khí hậu khắc nghiệt cũng là điều bắt lợi cho kẻ thù bên ngoài nhiều phen muốn xâm lấn và đồng hóa dân tộc ta

Môi trường động vật và thực vật: Như đã trình bày ở phần trên do đặc thù của vị trí địa lý tự nhiên và điều kiện khí hậu đặc biệt nên thế giới động vật và thực vật ở khu vục phía bắc nước ta rất đa dạng và phong phú Theo kết quả thống kê ban đầu thì trong vùng hiện còn loài động vật và loài thực vật Tuy nhiên, các di tích động vật đã tìm thấy trong các di chỉ khảo cổ học cho thấy trong thời kỳ khai sinh, thế giới động vật ở nước ta phong phú hơn ngày nay cả về thành phần lẫn số lượng

Lúc bấy giờ, nhiều vùng của miền Bắc nước ta mà nay là đồng bằng hoặc trung du lúc

đó vẫn là các khu rừng nguyên sinh và rừng rậm Ngay khu vực lân cận Hà Nội ngày nay, lúc

đó vẫn là rừng Nhiều loài thú bây giờ đã khan hiếm như hươu, nai lợn rừng, voi, hổ, báo, khỉ lúc đó sống nhan nhản khắp nơi Thậm chí, tê giác là loài vật nay đã được coi như hoàn toàn bị xóa sổ ở miền Bắc thì lúc đó vẫn còn khá nhiều Di tích tê giác đã tìm thấy ở Thủy Nguyên ( Hải Phòng ), Thiệu Dương ( Thanh Hóa )

Thời dựng nước, người Việt sống hài hòa với tự nhiên Việc chặt cây, đốt rừng làm nương hay khai phá đất phù sa ven sông, ven biển để canh tác lúa đã diễn ra mạnh mẽ nhưng tốc độ khai phá trong điều kiện lúc đó diễn ra một cách hài hòa chứ không khốc liệt như các thời kỳ sau này Người Việt có săn bắt một số loài thú rừng nhưng việc săn bắt đó không phải

là một nghề chính như các dân tộc chuyên nghề săn bắt khác Săn là để bảo vệ người và gia súc tránh bị thú dữ tàn hại, săn để bảo vệ mùa màng khỏi bị các loài chim thú phá hoại là chính chứ không phải săn để lấy thịt làm hàng đầu như các cư dân sống bằng nghề săn bắt các bầy đàn thú lớn Động vật nước ta đa dạng và phong phú, giàu về thành phần loài nhưng không phong phú về số lượng của từng bầy nên văn hóa săn thú không thể hiện rõ trong văn minh Việt

Đánh cá biển hầu như không phải là một hoạt động phổ biến và thường xuyên của hầu hết các cộng đồng cư dân Việt cổ mặc dầu toàn bộ phần phía đông của nước ta là biển cả Dân cư ven biển thường chỉ mới khai thác các nguồn lợi thủy sản ven bờ

Trang 13

chứ chưa khai thác trên biển xa Điều này chúng ta có thể nhận thấy rõ trong cuộc sống của các nhóm cư dân cận đại sống ven biển

Người Việt cổ vẫn duy trì tập quán hái lượm vốn có từ hàng vạn năm trước và kéo dài dai dẳng cho tới tận ngày nay Đó là phương thức kiếm sống dựa vào việc khai thác và chế biến từ các tài nguyên da dạng và phong phú sẵn có như mò cua, bắt ốc, thu lượm tôm tép, ếch nhái, đánh bắt cá và hái nhặt những loại rau có trong tự nhiên, quanh nhà và trong rừng Đây là cách khai thác các nguồn tài nguyên có thể tái phục hồi một cách hợp lý và khoa học Việc khai thác tự nhiên theo kiểu hái lượm trong thời bấy giờ đã tạm thỏa mãn với nhu cầu tiêu dùng thường ngày

Có thể nói nguồn đạm trong khẩu phần ăn của người Việt từ thời cổ xưa cho tới tận gần đây chủ yếu được khai thác từ các loài động vật thủy sản và một số cây họ đậu chứ không phải từ nguồn thịt thú rừng hay sản phẩm chăn nuôi

Trong quá trình hái lượm từ thiên nhiên, người Việt đã phát minh ra những cách chế biến bảo quản thực phẩm rất độc đáo của mình như cách nấu những món ăn tổng hợp gồm nhiều thành phần động thực vật và gia vị hợp lại, cách chế biến các loại mắm, các loại thực động vật phơi khô ủ chua lên men Những cách chế biến sản vật tự nhiên theo nhiều kiểu và theo mùn đã tạo nên bản sắc độc đáo trong văn minh ăn uống của người Việt

Việc hái lượm và sinh tồn trong một môi trường sinh thái đa dạng và đa dạng về thành phần loài đã cho phép người Việt tìm ra nhiều loại thảo mộc nhiều loại động vật và khoáng vật đặc biệt có thể cấu thành những bài thuốc đặc sắc trong việc phòng và chữa bệnh của người Việt Nam

Do đặc thù của khí hậu nóng ấm, nhiều vi trùng độc hại nên việc chăn nuôi gia súc của cư dân Việt cổ không được phát triển mấy Các súc vật nuôi lúc bấy giờ chỉ có chó, trâu

bò, lợn và voi Những gia súc nuôi để lấy thịt cũng không được sử dụng thường xuyên mà chỉ

sử dụng trong những dịp hội hè lễ tết

Thuần voi và sử dụng voi là một trong những thành tựu văn hóa cao của người Việt Trong lao động sản xuất cũng như trong chiến tranh giữ nước qua các thời đại, con voi đã đóng một vai trò đáng kể

Đất đai và khoáng sản : Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa tổ chức nghiên cứu đầy đủ về các tầng đất trong khảo cổ học để hiểu được chế độ khai thác và sử dụng đất của người xưa Các phương thức tìm và khai thác khoáng sản của người Việt cổ mới chỉ được nhắc tới trong một số công trình lẻ tẻ và mảng nghiên cứu này cũng chưa được

Trang 14

đi sâu Tuy nhiên, qua các tư liệu đã có, ta có thể hình dung được phần nào phương thức sử dụng đất đai và khai thác khoáng sản đương thời

Người Việt đã tận dụng triệt để việc khai thác các vùng đất phù sa và bãi bồi ven sông ven biển, vùng đất phì nhiêu, màu mỡ nhất để trồng lúa nước Các thung lũng hẹp cũng được khai thác từ lâu đời

Trong canh tác lúa nước, đất luôn phải gắn liền với nước và người Việt từ xưa đã biết xây dựng các hệ thống thủy lợi để điều tiết nước trong các vùng ruộng cao và vùng ruộng thấp Vùng đất thấp ven biển thì được tưới tiêu bằng cách lợi dụng mực nước lên xuống hàng ngày của thủy triều

Canh tác ở vùng cao thì đốt rẫy làm nương, chọc lỗ tra hạt ở vùng thấp thì dùng trâu dẫm cho nát đất rồi mới cấy lúa

Chưa có mấy tư liệu nghiên cứu về việc sử dụng phân bón làm tăng độ phì đất của người Việt cổ trong thời xa xưa.Việc dùng phân gia súc và nhân Bắc có lẽ chỉ xuất hiện trong những giai đoạn muộn hơn sau này Dùng một số loại thủy sinh như bèo hoa dâu làm phân bón là một phương pháp khá độc đáo của người Việt

Chính nhờ canh tác lúa nước nên phân lớn đất đai trong các vùng đồng bằng nước ta mới giữ được độ màu mỡ, phì nhiêu một cách lâu dài Từng tấc đất trồng trọt ở đồng bằng ngày nay có được là kết tinh của quá trình khai phá, gìn giữ và chăm sóc cần mẫn từ đời này sang đời khác của bao thế hệ ông cha chúng ta

Nước ta nằm trong vùng có chứa nhiều khoáng sản, đó là tiền đề thuận lợi cho việc phát triển khai khoáng và luyện kim Việc khai thác đồng, sắt có lẽ cũng đã được thực hiện từ lâu đời trong một số vỉa quặng vùng Lào Cai, Thái Nguyên và một số khu vực khác Chúng ta chưa tìm được nhiều chứng liệu có liên quan đến các khu mỏ cổ và nghề khai mỏ cổ xưa nhưng hàng loạt hiện vật đồng, trống đồng Đông Sơn với số lượng và mật độ cao, các khuôn đúc, xỉ đồng có trong các di chỉ khảo cổ là những bằng chứng gián tiếp cho thấy sự phát triển

kỹ nghệ khai khoáng, luyện kim trong khu vực và trong văn minh Việt cổ đã hình thành và phát triển từ lâu đời

Nhiều loại đá qúi đã được khai thác và chế tác một cách công phu, tài khéo mà di tích của chúng bao gồm hàng loạt công cụ, các loại đồ trang sức độc đáo được tìm thấy hàng loạt trong các di chỉ khảo cổ và công xương chế tác đá Chế tác đồ trang sức đã thể hiện tài khéo

và hiểu biết về các loại đá quý cũng như công nghệ khai thác chế tác chúng của người Việt bao đời nay

Nước ta có nhiều dạng đất sét, cao lanh là những vật liệu truyền thống lâu đời trong nghề gốm sứ Các loại hình gốm sứ phát triển từ thấp đến cao qua các thời đại

Trang 15

chính là những "trang sử" lâu bền và rực rỡ thể hiện bản sắc và tài trí của người Việt trong việc khai thác các nguồn nguyên liệu chế tác và sáng tác nên những vật dụng và các tác phẩm nghệ thuật độc đáo, hoàn mỹ

Đất Nước sản sinh ra con người cũng là cái nôi sản sinh ra văn hóa, nơi hình thành, củng cố và phát huy rực rỡ các bản sắc vốn có, đã có và sẽ có trong tương lai Khi tìm về cội nguồn của văn hóa của cội nguồn của chính mình để vươn cao hơn bay xa hơn trong tiến trình phát triển, soi xét kỹ lại chính mình trong tấm gương lịch sử trong mối hòa đồng giữa con người và tự nhiên, một cái nhìn đầy đủ về sự phát triển hài hòa giữa người Việt Nam trong thiên nhiên Việt Nam sẽ cho ta hiểu được nguồn gốc và bản sắc của chính mình

Dẫu cho thiên nhiên có thay đổi theo chiều hướng này hay chiều hướng khác nhưng truyền thống ứng xử của người Việt với thiên nhiên Việt Nam có lẽ đã là một hằng số góp phần tạo nên bản sắc không phai nhạt của chúng ta

Trang 16

CHƯƠNG II: SỰ HÌNH THÀNH NỀN VĂN MINH VIỆT CỔ

Nước ta khởi đầu từ Hùng Vương đã khá văn minh Núi non kỳ lạ, đất đai linh thiêng, nhân dân anh hào, chuyện tích thần kỳ, thường thường vẫn có" Đó là những dòng chữ Vũ

Quỳnh viết cho bài tựa sách Lĩnh Nam chích quái cách đây đã 5 thế kỷ Lĩnh Nam chích quái

đã tái hiện nên bức tranh khái quát với những đường nét, những kết cấu cơ bản của nền văn minh buổi đầu dân tộc Bức tranh đó cũng nhuốm màu huyền thoại, như ở văn minh buổi đầu của mọi dân tộc Bởi lẽ từ bán khai bước vào văn minh, con người cảm thấy mình trở thành khổng lồ, làm được những chuyện thần kỳ, tự làm ra thức ăn đồ dùng, không còn thụ động chờ ân huệ của thiên nhiên ban phát Chính lao động sáng tạo của con người trong đấu tranh sinh tồn được kết tinh trong những thành quả của văn minh là cơ sở cho những suy nghĩ bay bổng đó "Thần thánh chẳng qua là thân thánh hóa sức mạnh của con người" (Feurbach.) Non sông, đất đai quả là kỳ lạ và linh thiêng trong cảm xúc của con người ở thời kỳ mở nước

và tiếp nối sau đó

Non sông, đất đai bờ cõi, không gian sống này quả là đã khác xưa Nó không còn là hoang sơ, u tịch chùm lên những đốm lửa bập bùng trong những buổi chiều tà hay đêm dài lạnh lẽo quanh nơi ở của con người Giờ đây, điểm vào nền cảnh sơn thủy hữu tình, cùng với cây đa giếng nước là những cánh đồng lúa xanh tốt thẳng cánh cò bay, xóm làng đông vui tỏa khói lam chiều Hạt gạo trắng thơm - nguồn năng lượng nuôi sống người được sản sinh ra từ hòn đất đỏ nâu thô phác Một cuộc đổi đời thực sự như vậy hỏi rằng không phải là kỳ lạ, linh thiêng sao được ?

Và cái sức mạnh tạo ra sự kỳ lạ sinh thiêng đó, tạo ra bộ mặt văn minh đó, chính là nhân dân anh hùng đã lớn lên lẫm liệt trong khí thiêng sông núi - cái khi thiêng do chính con người tạo ra bằng những giọt mồ hôi, nước mắt và máu đào Bức tranh lịch sử, bộ mặt văn minh buổi đầu dân tộc được vẽ nên, được khôi phục lại bằng huyền thoại đó đã phần nào phản ảnh được sự thật, đáp ứng được tình cảm của nhân dân ta hướng về cội nguồn, song vấn

đề lại không ít hoài nghi

Ngô Sĩ Liên, nhà sử học nổi tiếng thời trung cổ nước ta, đã mạnh dạn đưa thời Hùng Vương vào chính sử, song cũng đã tỏ ra hết sức dè dặt khi viết: "Hãy tạm thuật lại chuyện cũ

để truyền lại sự nghi ngờ thôi" (Ngô Sĩ Liên 1967: 63)

Dưới thời Pháp thuộc, một số nhà khảo cổ học Phương Tây tuy có phát hiện ra di tích khảo cổ của nền văn hóa Đông Sơn nổi tiếng, nhưng họ không nhìn ra vết tích văn hóa đó như là cơ sở vật chất của nền văn minh sơ khởi của dân tộc Việt Nam

Trang 17

Chỉ từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, cùng với sự hình thành và phát triển của nền sử học mác xít mang đượm tính dân tộc và nhân dân sâu sắc cùng với ý thức dân tộc được khỏi dậy mạnh mẽ, những chuẩn mực, những giá trị chứa đựng trong di sản văn hóa được khai thác, bảo tồn và phát huy, lịch sử Việt Nam dần được nghiên cứu và viết lại, văn minh Việt Nam thời dựng nước dần được nghiên cứu đánh giá và dựng lại một cách chuẩn xác hơn đầy đủ hơn

Câu nói của Hồ Chủ tịch về dưới mái đền Hùng năm 1954, trước hàng quân tiến về giải phóng Thủ đô : "Các vua Hùng đã có công dựng nước" ý tưởng đó như một luận đề sử học nổi tiếng gắn thời kỳ lịch sử của vua Hùng với thời kỳ dựng nước, xây đắp văn minh đầu tiên của dân tộc Việt Nam định hướng cho những suy nghĩ tìm tòi về cội nguồn dân tộc

Văn minh Việt cổ được soi sáng về mọi mặt

Dưới đây, chúng tôi xin trình bầy về quá trình hình thành và diễn tiến của nền văn minh sơ khai đó trong thời đại dựng nước và giữ nước đầu tiên của dân tộc dựa trước hết vào các căn cứ khảo cổ học thu thập được, trong không gian phân bố và thời gian tồn tại được thư tịch cổ và truyền thuyết gọi là nước Văn Lang đời các vua Hùng

I CỘI NGUỒN - NHỮNG HỢP NGUỒN ĐẦU TIÊN VÀ ĐIỂM XUẤT PHÁT CỦA VĂN MINH VIỆT CỔ

A CỘI NGUỒN

Văn hóa Hòa Bình và hậu Hòa Bình là cội nguồn xa xưa của văn minh Việt Nam đã chứa đựng một số yếu tố của bản sắc văn hóa Việt Nam Nhìn vào bản đồ phân bố, phân tích các đặc điểm và theo dõi khuynh hướng phát triển của các văn hóa nguyên thủy trên đất nước

ta thấy nổi lên hai hiện thượng tương phản : sự phân bố rộng rãi và tồn tại dài lâu của văn hóa Hòa Bình - Bắc Sơn với địa bàn chủ yếu là các thung lũng miền núi và sự phân lập hình thành các văn hóa hậu Hòa Bình và hậu kỳ đá mới nhỏ hẹp hơn có phạm vi phân bổ chủ yếu trên các dài đồng bằng ven biển sát núi

Các di tồn vật chất của người Hòa Bình để lại thể hiện ở bộ công cụ đá và các phế thải thức ăn trong sinh hoạt cho thấy những nét văn hóa truyền thống đã được hình thành từ một nền kinh tế hái lượm và sân bắt phổ tạp, mang lại nguồn thức ăn chính cho con người là : rau

- củ - quả trên rừng và cua - ốc - cá dưới nước Tuy nhiên ở mỗi giai đoạn phát triển của văn hóa này, bên cạnh bộ công cụ đá gồm các loại hình truyền thống chủ yếu như chặt nạo, rìu ngắn dĩa ghi nhận có sự gia tăng công cụ hình rìu - xuất hiện ngày càng nhiều công cụ đào đất dạng cuốc - kỹ thuật mài lưỡi công cụ đá phát triển mạnh xuất hiện đồ gốm như những bằng- chứng về sự manh

Trang 18

nha một phương thức kiếm sống mới: chăm sóc và thuần dưỡng cây con từ dạng hoang dại

sang dạng nuôi trồng Thêm vào đó đã tìm thấy phấn hoa của họ rau đậu (Laguminosae) trong

một số hang động Hòa Bình như Sũng Sàm (Hà Tây), Thẩm Khương (Lai Châu) Niên đại cácbon phóng xạ (C14) của hang Sũng Sàm là 11.365 ± 80 năm cách ngày nay, của hang Đắng là 7580 ± 100 năm cách ngày nay cho thấy văn hóa này có thời gian tồn tại khoảng

5000 năm từ khoảng 12.000 năm đến 7000 năm cách ngày nay

Nhờ kết quả cửa sự chuyển biến cách mạng từ nền kinh tế chiếm đoạt sản phẩm tự nhiên sang nền kinh tế sản xuất này sinh do tiến bộ kỹ thuật và tăng dân số và nhờ vào hoàn cảnh sinh thái thay đổi ở cuối kỳ canh tân, đầu kỳ toàn tân : khí hậu trở nên nóng ẩm, biển rút hình thành các dải đồng bằng hẹp kẹp giữa núi biển cư dân Hóa Bình-Bắc Sơn đã phân thành hai nhóm chính : nhóm nội địa và nhóm biển, nhóm miên núi, thượng du và nhóm đồng bằng duyên hải hạ bạn, nhóm ở lại và nhóm ra đi

Nhóm ở lại miền núi tiếp tục sống trong môi trường quen biết và nếp sinh hoạt truyền thống, khiến những yếu tố của nền kinh tế mới không có điều kiện phát triển nhanh mạnh

Trái lại nhóm tràn ra các đồng bằng duyên hải, ở đây môi trường tự nhiên mới đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nhanh chóng nhiều ngành kinh tế : đánh bắt cá thu lượm các loài thủy sản sông biển, chăn nuôi gia súc trâu, bò chó, lợn và sản xuất nông nghiệp Mặt khác, chính do điêu kiện tự nhiên phong phú nguồn thức ăn có sẵn này lại làm chậm quá trình "đá mới hóa" ở đây Ở nhóm cư dân sống dọc duyên hải Bắc bộ và Bắc Trung bộ này đã hình thành nên các nhóm di tích, các văn hóa cụ thể khác nhau : nhóm di tích Cái Bèo ở vùng biển Quảng Ninh Hải Phòng, văn hóa Đa Bút ở Thanh Hóa và văn hóa Quỳnh Văn ở Nghệ

An Có thể lấy niên dại C14 5645 ± 115 năm cách ngày nay của di chỉ Cái Bèo (lớp dưới) ;

6430 ± 50 năm cách ngày nay của di chỉ Đa Bút (độ sâu 1,2m) và 4785 ± 100 năm cách ngày nay của di chỉ Quỳnh Văn (độ sâu 0,5m) để ước đoán thời gian tồn tại của các nhóm di tích

và văn hóa hậu Hòa Bình duyên hải này vào khoảng 7000 năm - 4000 năm cách ngày nay

Mặc dù có những khác biệt do các hoàn cảnh cụ thể qui định, nhìn chung, các văn hóa vẫn là sự phát triển tiếp tục trong da dạng, một truyền thống văn hóa chung bắt nguồn từ văn hóa Hòa Bình từ một nền kinh tế khai thác phổ tạp với nguồn thức ăn từ thực vật và lượm bắt thủy sản là chính, chuyển sang nền kinh tế sản xuất đa canh với nghề cá (sông nước) và chăn nuôi gia súc gia cầm Đứng ở góc độ kỹ thuật và công cụ, có thể ghi nhận sự tiếp tục phát triển các yếu tố tiềm ẩn của truyền thống chế tạo và sử dụng đồng thời hay sử dụng trong mối tương quan trội - lặn rìu bôn tứ giác và rìu bôn có vai, là sự hình thành truyền thống gốm văn thừng đáy tròn miệng rộng loe

Trang 19

Những thành tựu văn hóa của các nhóm cư dân hậu Hòa Bình sống trong không gian mới này, mặc dù chưa được nhiều tư liệu soi sáng đầy đủ, còn tỏ ra khiêm tốn, song ý nghĩa của chúng thật lớn lao Trong điều kiện thiên nhiên vừa ưu ái vừa khắc nghiệt, trong hoàn cảnh, nhìn chung là có sự thử thách quyết liệt do đợt biển tiến Holocene Trung gây ra, con người phải đấu tranh kiên trì, dành dật lại tùng khoảnh không gian sinh tồn nhỏ, từng bước khắc phục tập quán làm ăn cũ, không thụ động tìm hưởng nguồn sống do thiên nhiên ban phát, mà chủ động tạo ra nguồn sống mới thông qua lao động sàn xuất Chính nhờ vào đức tính kiên trì bám trụ và cài tạo không gian sống này, đã tạo cơ sở vững chắc cho sự tiếp tục phát triển và dần hình thành nên một truyền thống vô cùng quí báu: tha thiết và bảo vệ nơi sống - cốt lõi của lòng yêu quê hương này được tiếp tục nhân lên ở các thể hệ tiếp sau trở thành lòng yêu nước sớm nở, nồng nàn, sâu đậm

Như vậy là, công cuộc chiếm lĩnh đồng bằng và ven biển được tiến hành trong giai đoạn hậu Hòa Bình-Bắc Sơn thực sự vừa là nguyên nhân dẫn đến sự phân hóa văn hóa vừa là động lực thúc đẩy, phát triển văn hóa, khiến chúng trở nên đa dạng hơn phong phú hơn

Bước vào giai đoạn cuối đá mới và sơ kỳ kim khí văn hóa tiền sử trên đất nước ta tiếp tục phân chia thành nhiều văn hóa được hình thành trong các khu vực nhỏ hơn Nhưng văn hóa mang tính khu vực này theo thời gian có sự biến chuyển và đã trở thành các nguồn hợp đầu tiên của văn minh Việt Nam thời khai sinh

Trong số các văn hóa hậu kỳ đá mới - sơ kỳ kim khí này, văn hóa Phùng Nguyên ở miền trung du và đồng bằng Bắc bộ đã giữ một vị trí quan trọng, có ý nghĩa như hạt nhân kết tinh văn hóa đầu tiên của văn hóa Việt cổ

B CÁC NGUỒN HỢP ĐAU TIÊN - CÁC VĂN HÓA TRƯỚC HOẶC GỐI TIẾP PHÙNG NGUYÊN

1 Văn hóa khu vực vùng núi phía Bắc

Trong nhiều hang động, trên các thềm sông suối, trong các thung lũng miền núi phía Bắc ngày càng phát hiện ra nhiều di tích văn hóa thuộc giai đoạn cuối đá mới -đầu thời đại kim khí

Ở vùng núi Đông Bắc dấu vết văn hóa thời kỳ này thường phát hiện rải rác trong các lớp gần trên mặt của các hang động văn hoá Bắc Sơn như Làng Lục Cồn Khế, Làng Cườm,

Nà Con, Khắc Kiệm thuộc các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Thái Những di tích quan trọng khác ở khu vục này là các hang Ba Xã, Mai Pha (Lạng Sơn) và địa điểm khảo cổ học ngoài trời Lò Gạch (thị xã Hà Giang)

Trang 20

Ở vùng núi Tây Bắc, các di tích và di vật thuộc thời đại hậu kỳ đá mới - sơ kim khí cũng được tìm thấy rải rác trong các hang động chứa các di tích thuộc các văn hóa Sơn Vi hay Hòa Bình như trong hang Nậm Tum (Lai Châu), hang Puốc, hang Cò Lằm, hang Bản Gièm, Bản Buôn, Bản Mé, Bản Tham (Sơn La)

Đặc biệt trong khu vực này đã phát triển ra công xưởng chế tạo đồ đá ở mái đá Bản Mòn, và hàng loạt các di tích thềm sông, ngoài trời như Bản Phố, Sập Việt, Cụm Đồn, Thọc Kim mà ở đó các vết tích hậu kỳ đá mới - sơ kỳ kim khí nằm phủ lên hang lẫn vào các lớp chứa di tích hay mang truyền thống Hòa Bình hay tiền Hòa Bình

Trong không ít hang động văn hóa Hòa Bình thuộc tỉnh Hòa Bình như hang Khoái, hang Bưng, hang Xóm Trại đều phát hiện ra dấu tích văn hóa của thời kỳ này

Riêng ở các vùng núi miền bắc Trung bộ, cũng đã phát hiện dấu vết văn hóa của thời

kỳ hậu đá mới - sơ kim khí ở các hang Nà Thẩm, Thẩm Tiên (Thanh Hóa), Mé Muôn Ké Sang, Thẩm Hoi (Nghệ An) Đáng chú ý là việc phát hiện ra di tích ngoài trời Đồi Đền, nằm

ở ngã ba sông Nậm Non và Nậm Mô, chứa vết tích văn hóa của nhiều thời đại từ Sơn Vi đến Đông Sơn, song chủ yếu là các di vật ở tuyến văn hóa Phùng Nguyên Ở miền Tây các tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị, các di tích của thời kỳ này cũng phát hiện được ở Hang Rào, Khe Tong, Minh Cầm, Yên Lạc, Kim Bảng, Xóm Thâm, Đúc Thi (Quàng Bình), Cù Bai, Bản Rạc,

Tà Pảng (Quàng Trị)

Như vậy có thể nói, hầu hết các vùng núi phía Bắc bao gồm từ miền Đông Bắc-Tây Bắc qua Hòa Bình tới các cùng núi miền Tây khu Bốn cũ đều tìm thấy dấu vết văn hóa giai đoạn cuối đá mới và sơ kỳ thời đại kim khí Vùng này là khu vực - vùng không gian sinh tồn của cư dân hậu Hòa Bình ở lại vùng "đất tổ" của mình sau khi đã chia tay với các người anh

em đến miền đất mới

Một mặt do cuộc sống tương đối biệt lập trong các khu vực thung lũng cụ thể khác nhau, mặt khác, nhờ có những tiếp xúc nhất định và thường xuyên mà chủ yếu với" các nhóm tiến xuống các miền đồng bằng và duyên hải gần đó, mà khối cư dân này đã tạo ra cho mình một diện mạo văn hóa vừa có những nét riêng vừa mang những nét chung

Những nét tương đồng giữa các văn hóa ở các miền núi lẫn đồng bằng và ven biển được thể hiện ở chỗ đều phát hiện được loại công cụ sản xuất chủ yếu bằng đá là những chiếc cuốc đá hình tứ giác hay có vai, những rìu bôn đá tứ giác, có vai hay có nấc Đồ gốm thường

là loại đồ đựng đáy tròn hay có chân đế và được trang trí bằng hoa văn thừng chải hay khắc vạch

Đồ trang sức có vòng đeo tai hình vành khăn, các kiểu vòng đeo tay bằng đá có

Trang 21

mặt cắt hình chữ nhật, hình vuông, hình tam giác, hình chữ D cùng các hạt trang sức bằng

Nhóm phía Tây phân bố ở các tỉnh Cao Bằng, Bắc Thái Hà Giang và Tuyên Quang, trong đó di tích Lò Gạch (Hà Giang) chứa đầy đủ hơn cả các đặc điểm văn hóa điển hình cho nhóm di tích này

Tương phản với hang Mè Bạc (nhóm Ba Xã - Mai Pha), nơi rìu bôn tứ giác được dùng phổ biến còn ở đây, trong di tích Lò Gạch thì cuốc rìu bôn có vai lại nổi trội lên

Trong đó có những chiếc rìu bôn vai có nấc ngang hết sức độc đáo Gốm thô, vỡ vụn thường trang trí văn thừng, hoa văn các dải chấm trong hai đường song song Chính dựa vào tổng thể các nét khác biệt này mà một số nhà nghiên cứu nước ta đã nghĩ tới khả năng về sự tồn tại một văn hóa khảo cổ riêng biệt mang tên văn hoá Hà Giang -một văn hóa có mối giao lưu và cùng ở bình tuyến với văn hóa Hạ Long và Phùng Nguyên (Hà Vãn Tấn, Bùi Vinh và

Võ Quý 1989)

b Ở vùng Tây Bắc: Vết tích văn hóa thuộc hậu kỳ đá mới sơ kỳ kim khí tìm được rải

rác trong một số hang động như trong hang Nậm Tum (Lai Châu) đã phát hiện được 3 ngôi

mộ, trong một mộ có chôn một nồi có dáng đáy gãy cao, vai xuôi trang trí những đường cong kép hình chữ X trong lớp đất gần mặt rải rác còn tìm được một số mảnh gốm và nhiều công

cụ xương đọc mài nhắc hoàn toàn, ở hang Thẩm Khương (Lai Châu) - cũng tìm được 7 công

cụ xương mài trong đó có 1 mũi tên và 1 đục làm bằng xương ống khỉ, 1 rìu vai mài toàn thân, ở hang Puốc (Yên Châu - Sơn La) đã tìm được một nồi gốm lớn mà ở phần ngoài gần miệng được trang trí hoa văn khắc vạch dạng chữ S biến thể nằm ngang và thân được trang trí hoa văn dấu thừng Chiếc nồi này phảng phất bóng dáng Phùng Nguyên

Điều đáng chú ý là dọc bờ sông Đà trong 2 huyện Thuận châu Yên Châu, đã

Trang 22

phát hiện một loạt di tích ngoài trời, hay hang động sát bờ sông như Hang Tọ (Thuận Châu) Bản Phố, Sập Việt, Cụm Đồn, Núi Mỏ, Thọc Kim, Cò Lâm, Hang Chương (Yên Châu) Tập hợp các di tích ở đây đã phác họa một diện mạo riêng biệt với các nét nổi lên như : rìu tứ diện được sử dụng vượt trội rìu có vai Tỷ lệ đó ở Sập Việt là 7/1, ở Bản Phố là 5/0 Đồ trang sức đeo tay được chế bằng đá spilit có mặt cắt hình tam giác và chữ D Những chiếc vòng này được chế tạo ở các công xưởng làm đồ trang sức ở Núi Mỏ, Thọc Kim hay ít nhiều ở ngay khu cư trú như Sập Việt

Đồ gốm ở đây, tuy có mang những nét kỹ thuật và phong cách chung như văn chải thừng, khắc vạch song nét riêng biệt vẫn hiện lên rõ ràng dễ thấy, đó là sự nổi trội của văn chài so với văn thừng, ở Sập Việt tỷ lệ đó là 1325/392, ở Thọc Kim là 19/3 Phổ biến loại gốm miệng đứng, thành miệng phẳng hay hơi vát ra ngoài Thứ đến là loại gốm miệng khum, đáy tròn Hoa văn trang trí khắc vạch cũng rất đa dạng có tới 16 loại trong đó đáng chú ý hoa văn vẽ bằng que nhiều răng (từ 2 đến 6 răng), có những mảnh ở đó văn vạch đè lên nền văn chài có những chiếc bát mà hoa văn khắc vạch được vẽ lên toàn bộ bề mặt ngoài hiện vật như chiếc bát gốm ở Hang Chưởng Ngoài ra còn phải kể đến loại hoa văn ấn lõm kiểu cuống

rạ (tức hoa văn chấm tròn) ấn lõm rồi chấm nhỏ xung quanh thành hình hoa, hoa văn nụ dinh dán thêm trên giao điểm các đường khắc vạch (Chử Văn Tần 1992)

Bên cạnh những nét riêng đó, đồ đá và đồ gốm ở đây phản ánh mối liên hệ khá gắn bó chặt chẽ với miền trung du Vĩnh Phú, nơi sông Đà hợp lưu vói sông Thao Về phương diện

đồ đá có thể nhìn thấy rõ mối liên hệ đó, qua nguyên liệu, kỹ thuật và loại hình hiện vật ở các công xưởng chế tạo công cụ sản xuất rìu tứ diện ở Bản Mòn (Sơn La) và Gò Chè (Vĩnh Phú), chế tạo đồ trang sức ở Núi Mỏ, Thọc Kim (Sơn La) và Hồng Đà (Vĩnh Phú) Về đồ gốm, sự gần gũi được thể hiện qua sự tồn tại của chạc gốm ở Sập Việt, Bản Phố, qua hoa văn trang trí khuông nhạc ở đây khá giống ở di chỉ Đoan Thượng (Vĩnh Phú) Lối trang trí ấn vỏ sò hay ấn lõm chấm xung quanh thành hình bông hoa - một đặc trưng của gốm Hoa Lộc có thấy cả ở

Gò Ghệ (Vĩnh Phú) lẫn ở Sập Việt

Trên quê hương gốc của văn hóa Hòa Bình (các tỉnh Hòa Bình, Ninh Bình Thanh

Hóa) trong nhiều địa điểm của văn hóa này như Hang Khoài (Mai Châu, Hòa Bình) Hang Bưng (Đà Bắc, Hoà Bình); Xóm Trại, Làng Vành Đa Phúc (Lạc Sơn, Hòa Bình) Đồng Nội (Lạc Thủy, Hòa Bình) Hang Đắng (Nho Quan, Ninh Bình) Đồng Giao (Ninh Khánh, Ninh Bình) Thạch Sơn (Cẩm Thủy, Thanh Hóa) Mỹ Tế (Thạch Thành, Thanh Hóa) cũng ghi nhận nhiều vết tích văn hóa thuộc hậu kỳ đá mới, sơ kỳ kim khí Tư liệu khảo cổ học ở đây chưa cho phép nhận ra xem dân cư ở đây lúc này ưa sử dụng trội loại công cụ đá gì, rìu bôn, cuốc có vai hay tứ diện Đồ trang sức bằng đá

Trang 23

chưa nói được gì nhiều ngoài loại khuyên tai vành khăn vòng tay, hạt chuỗi bằng đá ngọc kiểu Phùng Nguyên cặp được trong các mộ táng ở Hang Khoài Cũng trong mộ táng của hang này lại gặp đồ trang sức bằng ốc biển, những vòng trang sức bằng vỏ ốc hay đốt xương cá nhỏ li ti Trang sức bằng ốc biển Cyrpaea còn thấy ở Hang Bưng Điều đáng lưu ý hơn cả là

đồ gốm Ở đây gặp các loại đồ đựng miệng vuông độc đáo trang trí trên thân loại hoa văn dạng chữ S biến thể như thấy ở Thanh Sơn, ở Xóm Lác (Mai Châu, Hòa Bình) Hoa văn khắc vạch, chấm tròn vẽ phóng khoáng hơn, trang trí trên một bề mặt rộng hơn nhưng nhìn chung

có phong cách và các hoa tiết trang trí gần gũi hoa văn gốm Phùng Nguyên, như gặp trên các mảnh gốm ở Xóm Trại, Thạch Sơn Mỹ Tế

Bộ mặt văn hóa vùng núi Bắc Trung bộ bao gồm các khu vực từ nam Thanh Hóa đến

Quảng Trị cũng phản ánh tính đa dạng của nó, thế hiện ra ở hai nhóm di tích quan trọng: nhóm vùng núi Thanh Nghệ và nhóm vùng núi Bình Trị Thiên

Ở nhóm miền tây Thanh Nghệ : Các di tích tập trung ở vùng Quỳ Châu Nghệ An) và

Thường Xuân (Thanh Hóa) bao gồm các di tích Thầm Mé Muôn Thẩm Ké Sang, Thẩm Pông, Nà Tham, Thẩm Tiên Trong các di tích này đã phát hiện được nhiều rìu đá tứ giác hay có vai mài nhắn toàn thân Nhiều đồ trang sức như vòng tay, hoa tai bằng đá xanh hay

phiến thạch, hạt chuỗi hình ống và vỏ ốc biển xuyên lỗ Đồ gốm cũng rất phong phú, phổ

biến là loại gốm đáy tròn bên cạnh đó có các loại gắn chân đê hay đáy bằng Hoa văn phổ biến là loại in dấu thừng trên thân, bên cạnh đó các hoa văn trang trí được tạo nên bằng cách dùng que nhiều răng vạch lên bề mặt gốm ở các phần cổ và vai thành các đồ án hoa văn sóng nước, sóng xoắn chéo thành hình số 8 thành văn xoáy ốc hay chữ S mang phong cách trang

trí của gốm Thạch Lạc - Bàu Tró Cư dân ở đây còn tạo hoa văn trang trí bằng cách in lên đồ

gốm những vòng tròn to nhỏ khác nhau xếp thành hàng giới hạn trong hai hàng vạch song

song hay trong các đường vạch thành các đồ án trang trí Đáng chú ý là hoa văn chấm giải giữa các đường vạch chìm phát hiện trên đồ gốm ở Thầm Tiên và Thẩm Pông (Hà Vãn Tấn 1978) cũng như trên một nồi gốm đáy tròn được chôn cùng vói 1 khuyên tai đá hình vành khăn trong một ngôi mộ ở Thẩm Hoi

Cư dân sống ở miền núi phía tây Bình Trị Thiên đã để lại những dấu tích văn hóa có

diện mạo tương tự như của cư dân đương thời miền tây Thanh - Nghệ, trong một số hang động như Hang Rào, Khe Tong, Minh Cầm, hay trên các đồi gò thềm sông nhu Cù Bai Bản Rác, Tà Păng

Đặc điểm nổi bật của các di tích ở đây là sự tồn tại phổ biến của loại rìu bôn có vai dường như trội hơn loại rìu bôn không vai, chúng thường có mặt cắt ngang thân hình bầu dục

Trang 24

dụng công cụ bằng xương như mũi nhọn Đồ gốm ở đây thường gặp các loại nồi đáy tròn bụng tròn miệng loe mép cuốn cong ra phía ngoài, mặt gắn phía ngoài được in dấu thừng Trên nền thừng thường được vẽ bằng bút kẻ khuông nhạc có 2 hoặc 3 răng tạo ra các họa tiết hoa văn hình sóng nước, hình ô trám hoặc "răng sói" Cư dân ở đây còn ưa dùng gốm màu với các vành tranh trí màu đỏ thổ hoàng hay màu đen ánh chì Đồ trang sức khá phong phú đa dạng, đặc biệt ưa chuộng đồ trang sức làm từ vỏ nhuyễn thể biển Đó là những vỏ ốc xuyên

lỗ, những vòng vỏ sò ở giữa xuyên lỗ như đồng xu, nhiều vòng nhỏ li ti Có loại hoa tai bằng

vỏ sò dùi lỗ ở một đầu Ngoài ra còn gặp loại hạt chuối bằng đá xanh, hoa tai hình 6 cạnh bằng ngà

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng văn hóa ở khu vực này có mối liên hệ với văn hóa Bàu Tró đồng thời phân bố ở ven biển thậm chí còn nghĩ nhóm di tích tây Bình Trị Thiên và Nghệ Tĩnh chỉ là dạng địa phương của văn hóa Bàu Tró (Phạm Thị Ninh 1991 : 44) Tuy nhiên phân tích hoa văn trang trí gốm - thường mang đậm đà dấu ấn về đặc trưng tộc người -

có thể nhìn thấy mối quan hệ xa hơn về phía bắc biểu hiện qua gốm văn thừng và khắc vạch trong có in các giải chấm mang phong cách Phùng Nguyên Vì vậy có thể coi khu vực này như địa bàn xa hơn cà về phía nam hiện biết là nguồn hợp văn hóa góp tạo nền văn minh Việt

cổ thời đại kim khí

2 Các văn hóa ven biển

Bước vào giai đoạn cuối đá mới và sơ kỳ thời đại kim khí, đồng thời với các nhóm cư dân ở lại sống bám trụ với núi rừng, trên các vùng đất mới, các dải đồng bằng hẹp ven biển miền Bắc nước ta, con cháu của những người Cái Bèo - Đa Bút - Quỳnh Văn, trong bối cảnh tiếp xúc văn hóa mới đã kế thừa, nâng cao và đổi mới lối sống và nếp sinh hoạt của tổ tiên, tạo ra các văn hóa mới, đến nay đã xác định được là các văn hóa : Hạ Long, Hoa Lộc và Bàu Tró

a Văn hóa Hạ Long phân bố chủ yếu ở vùng ven biển và hải đảo Đông Bắc Việt

Nam, cho tới nay dấu tích của văn hóa này đã thấy ở 20 địa điểm phân bố trên các cồn cát, sườn đồi và hang động của vùng bờ biển và hải đảo từ Móng Cái đến Hải Phòng Những di tích này đều chứa những nét chung điển hình cho văn hóa Hạ Long Đó là sự tồn tại phổ biến của loại bôn đá có vai có nấc, lưỡi xoè Đôi khi ở nhiều chiếc có vai kép dùng nhiều loại bàn mài có những rãnh mài hình lòng máng cắt chéo nhau được gọi là "dấu Hạ Long" Đồ gốm

chủ yếu là loại hình gốm xốp, bên cạnh gốm chắc tồn tại loại gốm có miệng hình đa giác

Hoa văn đắp nổi thành hình chủ S nằm hay trổ lỗ thủng thành hình tam giác là nét riêng của gốm Hạ Long, bên cạnh lối trang trí văn thừng hay in mép sò, khắc vạch hình sóng nước, chữ S

Có thể nói những nét riêng của Hạ Long, những dấu hiệu nhận biết về văn hóa

Trang 25

những chiếc bôn có vai có nấc nhưng không phổ biến như t`rong văn hóa Hạ Long

Đồ gốm Hoa Lộc hết sức độc đáo cả về hình dáng lẫn hoa văn trang trí Bên cạnh những nồi vò có hình dáng thông thường, người Hoa Lộc còn ưa dùng những loại bình vai gãy có miệng gấp vào trong, đặc biệt có loại bình vành miệng rộng có hình tứ giác hoặc bát giác Gốm được trang trí những hoa văn đẹp Đó là những vạch thẳng hay xiên, những đường cong, những nhóm chấm Các hoa văn được làm nổi bật trên nền được tạo ra bằng cách ấn mép sò thành các đường sóng li ti

Một đặc điểm Hoa Lộc khác là sự có mặt của các hộp đựng phẩm và những con dấu

in, lăn hoa văn có hình dáng rất khác nhau : hình trụ, hĩnh chữ nhật, hình tròn, hình bàu dục Trên mặt những con dấu thường được khắc rất sâu các họa tiết hoa văn chữ S tròn góc hay gãy nóc, những đương hồi văn liên hoàn Những con dấu như vậy cũng gặp trong nhiều văn hóa đá mới và đồng thau vùng Ấn Độ Ban-căng,cũng gặp cả trong văn hóa Bản Chiềng (Thái Lan)

Mối quan hệ giữa văn hóa Hoa Lộc với văn hóa Thạch Lạc được ghi nhận rõ nét qua việc sử dụng đồ trang sức bằng đất nung, việc trang trí đồ gốm bằng hoa văn dùng que nhiều kiểu bút kẻ khuông nhạc

Gốm Hoa Lộc còn gặp xa hơn sâu hơn trong các miền núi từ Tây Thanh-Nghệ cho tới Sơn La Đó là đồ gốm có hoa văn là dấu in mép sò, in dấu chấm và ấn lõm thành hình bông hoa ở các di tích Sập Việt Bản Gièm (Sơn La), có thể sông Mã đã đóng vai trò chuyển tải và giao lưu văn hóa Núi-Biển

Về phía nam, trong hang Pò Cung (Nghệ An) đã tìm thấy nhiều mảnh gốm có hoa văn chữ S với dấu in mép sò mang phong cách Hoa Lộc

Đặc biệt cư dân văn hóa Hoa Lộc đã có mối quan hệ gắn bó với cư dân ở lưu vực sông Hồng Người Hoa Lộc đã tham gia khai phá đồng bằng sông Hồng, cộng cư và trao đổi với cư dân Phùng Nguyên sống ở các dẻo đồng bằng cao trước núi Trên đường đi họ đã để lại các dấu vết hiển nhiên biếu hiện qua di tồn vật chất trong các di chỉ cư trú như ở Núi Lê

dã tìm thấy được các đồ dùng bằng gốm như bát vuông kiểu nghiên mực, bình vai rộng trang trí các dải băng hoa văn sò, những mảnh gốm chấm lỗ bằng đầu que khá to Tại di chỉ Mã Đống (Hà Tây) đã tìm thấy những di vật điển hình của văn hóa Hoa Lộc, đó là các rìu bôn có vai, các vòng trang sức đá thô có mặt cắt hình cho T, chữ D hay tam giác, các khuyên tai hình đĩa bằng đất nung, những mảnh gốm có hoa văn trang trí ấn lõm và chấm thành hình hoa, chấm vạch kiểu que diêm

Xa hơn nữa, gốm Hoa Lộc còn tìm thấy trong các di chỉ Phùng Nguyên ở ngay quê

Trang 26

đã phát hiện được các mảnh gốm trang trí thành các hoa văn ấn lõm hình hoa, hoặc các nhóm chấm nằm trong hai đường khắc vạch gấp khúc

Riêng mối quan hệ giữa văn hóa Hoa Lộc với các văn hóa khảo cổ khác ở lưu vực sông Mã chưa rõ ràng, mới chỉ hé mở qua các di tồn vật chất phát hiện được ở di chỉ Cồn Chân Tiên nằm sát chân Núi Đọ Đó là các bàn xoa gốm kiểu Hoa Lộc, những mảnh gốm được tạo bằng kỹ thuật in lăn, những mảnh gốm có hoa văn tạo ra bằng que đầu tù, to in thành hình hạt mè, giọt nước

Điều đó chứng tỏ vào cuối đá mới, đầu thời đại đồng thau, cách đây chừng 4 nghìn năm đã có một nhóm người mang yếu tố văn hóa vùng biển tham gia chinh phục vùng đồng bằng sông Mã : nhóm Hoa Lộc

c Văn hóa Bàu Tró

Trên địa bàn ven biển phía Nam của văn hóa Hoa Lộc, kéo dài từ Nghệ An tới Quảng Bình là vùng cư trú của cư dân văn hóa Bàu Tró (Phạm Thị Ninh 1991) Một nền văn hóa được nảy sinh từ văn hóa Quỳnh Văn trưóc đó

Niên đại của văn hóa Bàu Tró kéo dài từ khoảng cuối thiên kỷ III đến nửa đầu thiên

kỷ II trước công nguyên

Ở giai đoạn sớm, còn nhiều công cụ ghè đẽo và tồn tại phổ biến loại nồi miệng thẳng đứng có đáy nhọn như đã gặp trong vùng hóa Quỳnh Văn Về đặc trưng đồ đá nói chung, có thể nói rằng, chủ nhân văn hóa Bàu Tró đã sử dụng cả rìu có vai và rìu tứ giác được mài toàn thân song vẫn còn lại những vết ghè đẽo sau Rìu thường có thiết diện ngang thân hình bầu dục hay thấu kính được chế bằng đá trầm tích hoặc đá lửa Rìu vai thường có đặc điểm vai xuôi hẹp và chiếm tỷ lệ lớn hơn rìu tứ diện ở giai đoạn sớm Ở khu vực Quảng Bình còn gặp rìu vai nhọn và bôn "răng trâu" Đặc điểm chung của gốm Bàu Tró là được làm bằng đất sét pha nhiều cát hoặc vỏ sò nghiền nhỏ, phổ biến nhất là loại gốm đáy tròn, ngoài ra còn có đồ đựng có chân đế như bình, âu, chậu, bát, mâm bồng , đặc biệt tồn tại loại đồ đựng có tai Hoa văn in dấu thừng và in mai rùa là hoa văn kỹ thuật chủ đạo Hoa văn trang trí không nhiều chiếm tỷ lệ từ 5 đến 6% so với hoa văn kỹ thuật và được tạo ra bằng các thủ pháp khác nhau : khắc vạch bằng bút một răng hay nhiều răng, dán đắp thêm những giải đai, trổ lổ thủng

in ấn bằng lưng, miệng mép vỏ sò hoặc tô màu lên đồ đựng

Hoa văn phổ biến nhất là loại văn khắc vạch tạo ra các hoa văn khuông nhạc, làn sóng hay chữ S gối đầu nhau, các tam giác đối đỉnh được điền đầy bằng các vạch chéo song song theo một cạnh tam giác

Gốm tô màu cũng là một nét riêng của văn hoá Bàu Tró Màu đỏ được dùng phổ

Trang 27

biến nhất bên cạnh màu đen Phong cách tô màu lên miệng đồ đựng thường được kết hợp chặt chẽ với văn kẻ khuông nhạc, văn chữ S gối đầu nhau

Đồ trang sức bằng đá với các loại vòng có mặt cắt hình chữ T, chữ D hình tam giác,

đã gặp trong các di chỉ nhưng với số lượng không nhiều Đã phát hiện được một số khuyên tai, mảnh vòng bằng đất nung Vết tích luyện kim đồng đã xuất hiện

Ở những di chỉ, nhất là ở những di chỉ đồi vỏ sò điệp của văn hóa này dấu vết của hoạt động săn bắt đánh cá và hái lượm còn thể hiện đậm đà đã tìm được một số xương hươu nai, lợn rừng, sừng dê ngà voi xương sọ và nhiều đốt xương sống cá biển, có đốt có đường kính tới 15cm Nhưng cần nhấn mạnh rằng, nông nghiệp là hoạt động sản xuất chủ yếu của con người Bàu Tró Ở nhiều di chỉ như Bãi Phôi Phối Cồn Nền tảng văn hóa dày chứa nhiều mảnh gốm, mật độ mảnh gốm ở Cồn Nền lên tới 65 nghìn mảnh trên một diện tích khai quật 90m2 Cuốc đá, một công cụ làm đất chủ yếu, không những tìm được trong các di chỉ cư trú mà còn gặp trong các mộ táng đôi khi còn tìm được với số lượng lớn trong các hố cất dấu

Đặt văn hóa Bàu Tró trong mối tương quan với các văn hóa đương đại cho thấy cư dân Bàu Tró cũng đã có mối liên hệ với nhiều văn hóa khác nhau

Mối quan hệ hay sự tương đồng của văn hóa Bàu Tró với các văn hóa duyên hải phía bắc như Hoa Lộc, Hạ Long, thể hiện ở chất liệu gốm thô pha trộn vỏ nhuyễn thể, ở hoa văn in mép sò, hoa văn trổ lỗ thủng, hoa văn đắp nổi thể hiện ở việc sử dụng đồ trang sức bằng đất nung, ở việc sử dụng bàn mài có dấu Hạ Long Mối quan hệ với văn hóa tiền Sa Huỳnh ở dọc ven biển nam Trung bộ được thể hiện ở những chiếc rìu bôn răng trâu, những khuyên tai đất nung, những đồ gốm khắc vạch kết hợp với in ấn mép sò đặc biệt là ở gốm tô màu thổ hoàng kết hợp với tô màu đen ánh chì thành từng giải và màu trắng thành các nhóm vạch hay chấm vạch đứt quãng, rồi táng thức mộ như gặp ở Thạch Lâm là những nét văn hóa đặc trưng của các di tích tiền Sa Huỳnh và Sa Huỳnh

Mối quan hệ giữa văn hóa Bàu Tró với văn hóa Phùng Nguyên ở lưu vực sông Hồng được bộc lộ rõ nhất qua loại hoa văn kẻ khuông nhạc thành các mô típ chữ V, hình sóng hay chữ S nằm ngang - đặc trưng của hoa văn gốm Bàu Tró - cũng thường thấy trong gốm nhiều

di tích Phùng Nguyên Trong một số di chỉ văn hóa Bàu Tró, cũng tìm thấy những mảnh gốm

có hoa văn chấm đều đặn giữa những đường khắc vạch bao quanh, giống hệt như gốm loại này trong văn hóa Phùng Nguyên

Trang 28

C VĂN HÓA PHÙNG NGUYÊN - ĐIỂM LÕI VÀ XUẤT PHÁT CỦA VĂN MINH VIỆT CỔ

Một trong những thành tựu nổi nét nhất của khảo cổ học Việt Nam là việc phát hiện ra hàng loạt các di chỉ khảo cổ học có niên đại trước Đông Sơn ở vùng trung du và đồng bằng Bắc bộ, mà trước đó chưa hề biết tới Với hơn 50 địa điểm hiện biết, trong đó Phùng Nguyên (Phong Châu, Vĩnh Phú) là di chỉ phát hiện được đầu tiên (1958) của văn hóa này cho thấy các di tích Phùng Nguyên tập trung dày đặc và nhiều nhất là ở ngã ba các con sông Hồng và sông Đà Các di tích Phùng Nguyên còn thấy nhiều trên đất Hà Tây, Hà Bắc, Hà Nội và còn lan rộng ra tới Hải Phòng như di chỉ Tràng Kênh hay tiến sâu xuống miền đồng bằng ở Nam

Hà như di tích Núi Hổ Các xóm làng phùng Nguyên thường có qui mô khá lớn -trên chục nghìn m2 thậm chí hàng trăm nghìn m2 và định cư khá lâu dài, các di chỉ cư trú có tầng văn hóa dày trên 1m

Các di vật thu được trong các di tích Phùng Nguyên có số lượng hết sức lớn với nhiều loại hình phong phú da dạng

Công cụ sản xuất bằng đá gốm các loại cuốc, rìu bôn chữ nhật hay hình thang đôi khi

có vai, đục khoan, cưa, bàn mài, dao gặt, mũi tên, mũi khoan Nhiều đồ trang sức như vòng, khuyên tai, nhẫn, hạt chuỗi Đồ gốm Phùng Nguyên có nhiều loại hình phong phú như nồi, bình, vò, bát, chậu, mâm bồng, "chân chạc", dọi xe chỉ bi, tượng động vật (gà, chim, bò )

Tiếp tục nghề nông trồng lúa nước mà phấn hoa của loài lúa nước Oryza tìm được ở

di chỉ Tràng Kênh, nhiều hạt gạo cháy tìm được trong các hố bếp ở lớp dưới thuộc văn hóa Phùng Nguyên của di chỉ Đồng Đậu, vết tích hạt lúa tìm được trong xương gốm ở các di chỉ

Gò Hên, Đồng Đậu, Đồng Vông, Xuân Kiều Lúc này dụng cụ làm nông đã đổi mới khá rõ

Những kinh nghiệm sử dụng bàn xoay trong sản xuất đồ gốm đã giúp hoàn thiện kỹ thuật khoan ren tiện đá mà sự biểu hiện trình độ tuyệt đỉnh của nó được thấy qua các sản phẩm đồ trang sức, các vòng ống với nhiều đường ren nổi, các vòng ống bản gờ cao rộng tạo mặt cắt hình chữ T Kỹ thuật luyện kim và chế tạo kim loại đã xuất hiện Vết tích sử dụng kim loại đã thấy ở 11 địa điểm trong đó ở Gò Bông bên cạnh các mảnh đồng gãy, còn tìm thấy nhiều cục xỉ đồng Điêu đó nói lên khả năng đúc chế kim loại tại chỗ của người Gò Bông Các mẫu phân tích quang phổ kim loại tìm được ở Đông Vông, Gò Bông, Đoan Thượng cho hay phần lớn đồ đồng Phùng Nguyên có hợp kim đồng thiếc Ở đi chỉ Bãi Tự còn tìm được một vòng tay và ở Chùa Lái tìm thấy được một hòn bi bằng chì Điều đó cho thấy, bước đầu tiếp xúc với kim loại người Phùng Nguyên đang trong quá trình tìm tòi để khẳng định hợp kim tối ưu Tiếp xúc

Trang 29

với kim loại còn rụt rè, một loại nguyên liệu hiếm quí không có sẵn trong tự nhiên mà phải tinh chế công phu nên người Phùng Nguyên mới chỉ dùng đồ đồng thau để chế ra các công cụ nhỏ bé như kim, dùi

Tài năng kỹ thuật và nghệ thuật của người Phùng Nguyên được bộc lộ trên các đồ trang sức bằng đá và trên đồ gốm Những công cụ gọt vót cắt hình rìu đục nhỏ nhắn xinh xắn,

nhưng ống chuỗi hình trụ dài tới 4-5cm mài nhẵn bóng, khoan lỗ nhỏ xuyên suốt những vòng

ống với nhiều đường ren nổi đều đặn xinh xắn xanh mát, nhẫn bóng tưởng như các vòng nhựa ngày nay, biểu hiện kỹ thuật chế tác đá của người Phùng Nguyên đã đạt tới đinh cao mà các thời đại trước nó khó đạt tới và các thời đại sau nó khó có thể vượt qua

Trình độ tư duy và thẩm mỹ cao của người Phùng Nguyên còn biểu hiện ở sự tạo

dáng và trang trí hoa văn các đồ gốm Những bát bồng chân cao những bình hình tháp hình quả dưa đưọc phủ lớp áo màu đỏ sáng nhẵn bóng, được trang trí hoa văn các đường cong nềm thoáng, liên hoàn, các hoa văn đối xứng đăng đối chặt chẽ thành các đồ án chữ S rời hay dính liền nhau có những hình tam giác đệm kèm, thể hiện sự kết hợp khéo léo giữa hoa văn và kiểu dáng

Một đặc điểm khác của tư duy suy cảm của người Phùng Nguyên là phản ánh thế giới

khách quan một cách ước lệ, chú trọng các bộ phận hàm chứa cái thần của đối tượng Phong

cách nghệ thuật đó có thể thấy sự phản ảnh qua các tác phẩm nghệ thuật như ở đầu gà bằng đất tung ở Xóm Rền, người Phùng Nguyên nhấn mạnh tới cái cổ cao, cái mào to của chú gà trống Còn tượng người đàn ông bằng đá tìm thấy ở di chỉ Văn Điển thì nghệ nhân không thể hiện tay còn mặt được thể hiện ước lệ trong khi đó chú ý làm nổi rõ bộ phận sinh dục Điều

đó cũng còn liên quan đến tín ngưỡng phồn thực của người Phùng Nguyên và có thể là một minh chứng về sự xác lập của chể độ phụ hệ trong một xã hội nông nghiệp, nơi mà vai trò của người đàn ông ngày một tăng một xã hội mà ở đó cấu trúc xã hội nguyên thuỷ bình đẳng đã

có mầm mống tan rã biểu hiện qua sự khác biệt về qui mô và đồ táng chôn theo trong các

ngôi mộ ở khu mộ táng Lũng Hòa Trong số 12 mộ ở đây có 2 ngôi mộ ít hiện vật nhất (chỉ

có 2 hiện vật), 2 ngôi mộ giàu đồ tùy táng nhất trên 20 hiện vật trong đó mộ số 8 có 23 hiện vật Các mộ còn lại từ 3 đến 13 hiện vật

Dựa vào niên đại cacbon phóng xạ của một số địa điểm như ở Đồng Chỗ là 1850 ± 60 trước công nguyên, lớp dưới Đồng Đậu là 1380 ± 100 trước công nguyên của di chỉ Tràng Kênh là 1455 ± 100 trước công nguyên những mẫu than này được lấy từ các lớp chứa di tích văn hóa Phùng Nguyên thuộc giai đoạn muộn Từ đó có thể đoán định văn hóa Phùng Nguyên đã tồn tại chủ yếu trong nửa đầu thiên kỷ II trước công nguyên

Trang 30

Trên đây là những nét đặc trưng quan trọng của văn hóa Phùng Nguyên Nghiên cứu mối quan hệ giữa văn hóa Phùng Nguyên và các văn hóa trước và cùng thời với nó, cho thấy văn hóa Phùng Nguyên đã tiếp thu và hội nhập nhiều yếu tố văn hóa của những văn hóa này Điều đó được phản ánh ngay trong bộ di vật của văn hóa Phùng Nguyên Có thể gặp rải rác trong bộ di vật Phùng Nguyên những phiến đá mang dấu vết lõm tròn kiểu Hòa Bình, những rìu cuội mài lưỡi, dấu Bắc Sơn, những rìu bôn có vai có nấc và gốm xốp kiểu Hạ Long, nhưng hoa văn trang trí in mép sò, khắc vạch khuông nhạc kiểu Hoa Lộc, Thạch Lạc

Dựa vào những thành quả nghiên cứu mới nhất về địa chất và khảo cổ học được biết: vào thời điểm cực đại của đợt biển tiến Holocene Trung cách ngày nay khoảng 7000-4000 năm " bờ biển tiến sâu vào đất liền phủ kín đồng bằng sông Hồng từ Chương Mỹ vòng lên Đan Phương, Hà Nội rồi sang Phả Lại Mực nước biển lúc này cao hơn bây giờ tới 4m" (Vũ

Tự Lập, Đàm Trung Phường, Ngô Đức Thịnh, Tô Ngọc Thanh 1991 :11) Đường bờ biển này cũng là giới hạn thấp của rìa đồng bằng sông Hồng lúc đó Như vậy diện tích đồng bằng còn khá nhỏ hẹp thực chất chỉ bao gồm miền trung du hiện nay Trên miền đất này khảo cổ học

đã phát hiện được những di tích sớm của văn hóa Phùng Nguyên, thậm chí có những di tích tiền Phùng Nguyên hay khác Phùng Nguyên Đó là các kiểu dạng di tich như Gò Con Lợn, nơi mà rìu có vai nhiều gấp ba lần rìu tứ diện cũng vậy vòng trang sức thô dàỵ có mặt cắt ngang hình tam giác cân hay chữ D cùng với những mảnh gốm thô vỡ vụn không thuộc gốm Phùng Nguyên những di tích kiểu Núi Xây thể hiện những mối liên hệ về thời gian với sự bảo tồn những yếu tố văn hóa sớm như rìu mài lưỡi và dấu Bắc Sơn cũng như những mối liên hệ

về không gian với văn hoá Hạ Long và các văn hóa đương đại ven biển Hoa Nam được nhận

ra qua những rìu bôn có nấc, rìu vai ngang vai xuôi rìu có khoan lỗ trên thân Điều dáng chú

ý là nhóm di tích kiểu Bá Nội - Mã Đống lớp dưới, nơi mà riu tứ diện dường như là chiếm ưu thế tuyệt đối cùng với những mảnh gốm xốp có hoa văn in mép sò tồn tại song song với những mảnh gốm chắc đã gợi suy nghĩ : phải chăng trước khi có một văn hóa Phùng Nguyên bừng nở rực rỡ với những mối tiếp xúc rõ ràng với các văn hóa Hạ Long, Hoa Lộc , thì trên dải đồng bằng hẹp quanh vịnh Hà Nội lúc ấy đã cư trú một nhóm cư dân tiền Phùng Nguyên với đặc trưng văn hóa lấy rìu tứ giác và gốm trang trí hoa văn khắc vạch làm tiêu biểu có mặt sớm nhất ở đây, cùng cư trú bên cạnh các nhóm cư dân khác mới đến sau ngày một đông, mở đầu quá trình cộng cư dung hợp và tiếp biến văn hóa lâu dài

Người Phùng Nguyên không chỉ cộng cư, dung hợp văn hóa với các bộ lạc khác trên địa bàn gốc của mình, họ còn mở rộng địa bàn cư trú và giao tiếp với các bộ lạc ở miền đất khác

Trang 31

Khắp mọi nơi từ vùng núi đến vùng đồng bằng ven biển, từ vùng biên giới phía bắc cho tới Nghệ An, khảo cổ học đã phát hiện được nhiều dấu vết văn hóa mang sắc thái Phùng

Nguyên như thấy ở di tích Lò Gạch thị xã Hà Giang, ở Tràng Kênh ven biển Hài Phòng, ở

Núi Hổ, Mã Cao thuộc Nam Hà ở cồn Chân Tiên thuộc lưu vực sông Mã, ở Đền Đồi ven biển Nghệ An Sự có mặt các yếu tố điển hình của văn hóa Phùng Nguyên bên cạnh các yếu

tố văn hóa địa phương ngoài địa bàn của văn hóa Phùng Nguyên cho phép hình dung bước

đầu của một quá trình hòa hợp văn hóa và tộc người đầu tiên trên phạm vi miền bắc nước ta

Theo dõi quá trình hình thành và phát triển của các văn hóa Tiền Đông Sơn và Đông Sơn tiếp theo, có thể nhận ra những nét đặc trưng của các nền văn hóa này đều có liên hệ với văn hóa Phùng Nguyên Từ những hình dáng của công cụ, vũ khí và đồ dùng đến những nét

hoa văn những kiểu vòng trang sức đều được tạo lập từ thời Phùng Nguyên Rõ ràng văn

hóa Phùng Nguyên là cội nguồn của văn minh sông Hồng và cư dân Phùng Nguyên là cái tôi

đầu tiên của dân tộc Việt

II BẢY THẾ KỶ TẠO NỀN

Giai đoạn phát triển văn hóa Việt cổ tiếp theo để vạch ra hơn, có thể cho rằng nó dài

lâu bảy thế kỷ

Trong vùng trung du và đồng bằng Bắc bộ - địa bàn trung tâm của nước Văn Lang

giai đoạn này phát triển tiếp theo giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên bao gồm 2 văn hóa khảo

cổ phát triển kế tiếp nhau văn hóa Đồng Đậu và văn hóa Gò Mun

1 Giai đoạn hay văn hóa Đồng Đậu

Giai đoạn này mang tên địa điểm khảo cổ học đầu tiên phát hiện được ở gõ Đồng Đậu thuộc xã Minh Tân huyện Yên Lạc tỉnh Vĩnh Phú vào năm 1964 Cho đến nay đã tìm được

19 di tích thuộc văn hóa này được phân bố trong các tỉnh Vĩnh Phú Hà Tây, Hà Nội, Hà Bắc

Nhiều di tích thuộc giai đoạn muộn của văn hóa Phùng Nguyên như Đồng Đậu (lớp

dưới), Lũng Hòa (Vĩnh Phú) An Thượng (lớp trên) (Hà Tây) Từ Sơn (Hà Bắc) đã chứa đựng

những yếu tố văn hóa đặc trưng cho giai đoạn Đồng Đậu tiếp theo thể hiện ở hoa văn kẻ khuông nhạc thành các đường vạch song song hay hình làn sóng được trang trí bên trong hay bên ngoài bản miệng đồ gốm

Đặc trưng cơ bản của văn hóa Đồng Đậu được thể hiện trong bộ di vật hết sức phong phú và độc đáo vừa kế tục nâng cao vừa đổi mới các yếu tố văn hóa truyền thống có từ giai đoạn Phùng Nguyên

Trang 32

Công cụ sản xuất, vũ khí, đồ trang sức bằng đá vẫn tiếp tục phát triển các loại hình đã tồn tại trong văn hóa Phùng Nguyên Rìu bôn tứ diện vẫn dùng phổ biến những mảnh qua đá hình lá dài bẹt, những mũi tên có mặt cắt ngang hình tam giác các vùng trang súc đeo tay bằng đá to nặng có mặt cắt hình chữ T, chữ D, tam giác, rồi khuyên tai 4 mấu được cải tiến hơn thể hiện ở các mấu được làm rõ và tròn trịa

Một trong những đặc trưng quan trọng của văn hóa Đồng Đậu là sự phát triển "bùng nổ" của kỹ thuật luyện kim và chế tác kim loại bằng đồng thau Nếu như ở bình tuyến Phùng Nguyễn vết tích đồng thau chỉ mới gặp ở một số nơi thể hiện trên các mảnh đồng vỡ nhỏ không rõ ràng hoặc ở đôi ba công cụ bị gãy sứt khiến việc đoán định chức năng và định loại gặp khó khăn thì đến giai đoạn Đồng Đậu, đồ đồng thau đã được dùng khá phổ biến Tỷ lệ hiện vật bằng đồng thau chiếm khoảng trên dưới 1/5 số công cụ và vũ khí với các loại hình đa dạng đã phát triển ổn định, ít ra có tới 14 loại hình như rìu, mũi lao, mũi tên, lưỡi câu, búa, giữa, vòng

Đã tìm thấy nhiều khuôn đúc mũi tên, mũi nhọn, rìu bằng đá và bằng đất nung, tìm thấy được khuôn đúc một hiện vật và khuôn đúc một lần nhiều hiện vật Đặc biệt ở di chỉ Đồng Đậu ở độ sâu 1,5m thuộc lớp văn hóa Đồng Đậu đã phát hiện đưọc 4 chiếc lò nấu

đồng Tất cả đều có kích thước nhỏ đường kính khoảng 0,4m cao 0,5m, có lò còn nhận ra cả

miệng lò và lỗ thông gió, trong một chiếc lò đã tìm được mảnh nồi nấu đồng Ở Đồng Đậu còn tìm được nhiều xỉ đồng, vật đúc lỗi và cả đe đá, búa đồng dùng để gia công nguội sau đúc

thể hiện rõ nhất trong việc: chế tạo những lưỡi câu

Phát triển trên nền tảng nghề nông đang bước vào thế phát triển ổn định, đến lượt mình, nghề đúc đồng đã tạo ra những sản phẩm mới, những công cụ mới bằng kim loại mang

lại năng suất cao hơn, thúc đẩy trở lại nghề nông phát triển, khiến người Đồng Đậu trụ vững

và mở mang không gian sinh tồn của mình ở miền sông nước châu thổ sông Hồng

Một đặc trưng khác về văn hóa Đồng Đậu là đồ gốm Về chất liệu, gốm Đồng Đậu tiến bộ hơn gốm Phùng Nguyên cả về tạo tác kỹ thuật và độ nung Chất liệu pha trộn mang tính kết dính cao Đồ gốm đạt độ nung cao hơn, dày, cứng hơn và thường có màu xám nhạt Điều đáng chú ý là đồ đựng có kích thước lớn gia tăng nói lên sự đáp ứng nhu cầu xản xuất

và sinh hoạt gia tăng, đồng thời còn phản ảnh trình độ kỹ thuật chế tạo gốm của người Đồng Đậu đã dạt tới trình độ cao hơn

Nếu như gốm và hoa văn gốm Phùng Nguyên thể hiện tính nhẹ nhàng uyển chuyển, tính chau chuốt và tinh tế thể hiện chiều sâu tâm hồn và tư duy thông qua dáng gốm tròn, mặt gốm được miết láng mang các dải hoa văn in chấm hay các đồ án

Trang 33

đối xứng chặt chẽ, đăng đối, thi gốm Đồng Đậu lại thể hiện một tính cách mạnh mẽ, phóng

khoáng nhận ra ở bề mặt cứng đanh, xám của đồ gốm Hoa văn trang trí chủ yếu là những

đường vạch khắc chạy song song, thẳng, cắt chéo nhau hay xoáy tròn hoặc thành những dải chữ S đơn, kép đứng, nghiêng, nằm ngang nối đuôi nhau tạo ta những băng hoa văn sóng nước tù lăn tăn, nhấp nhô hay cuồn cuộn như những con sóng dậy trào Mô típ hoa văn sóng nước này đã có từ bình tuyến Phùng Nguyên song chỉ đến giai đoạn Đồng Đậu mới phát triển thành các dạng hết sức đa dạng, phản ảnh không những tính cách của người Đồng Đậu mà đồng thời cũng phản ảnh hiện tượng thiên nhiên khách quan xảy ra gây ấn tượng mạnh mẽ đối với con người Ngoài lưu vực sông Hồng, vết tích gồm văn sóng kiểu Đồng Đậu còn gặp

cả trong các di tích cùng thời vùng sông Mã, sông Cả như Đan Nê Núi Cáo Trắng Núi Nấp (Thanh Hóa) Rú Cật (Nghệ An) Loại gốm này không những chỉ tìm thấy trong các di chỉ sát chân núi mà còn gặp trong các hốc núi ở những độ cao khác nhau cùng với những vỏ sò, trai, ốc biển là chứng tích của một thời con người phải đương đầu với những trận lũ lớn hoặc

có thể của một đợt biển dâng mà trong khảo cổ học được gọi là hiện tượng Đan Nê

Giai đoạn Đồng Đậu có niên đại tồn tại vào khoảng nửa sau thiên niên kỷ thứ II trước công nguyên Khung niên đại từ thế kỷ 15-14 đến thế kỷ 8-7 trước công Nguyên là khoảng thời gian của các nhóm di tích Đồng Đậu - Gò Mun kế tiếp nhau ra đời và phát triển

2 Giai đoạn hay văn hóa Gò Mun

Giai đoạn này mang tên di chỉ Gò Mun thuộc xã Tứ Xã huyện Phong Châu tỉnh Vĩnh Phú được phát hiện đầu tiên vào năm 1961 Đến nay đã có tới 34 di tích phân bổ trong các tỉnh Vĩnh Phú, Hà Bắc, Hà Nội, Hà Tây, Ninh Bình Thuộc binh tuyển này ở lưu vực sông

Mã có các di chỉ như Núi Nấp (lớp văn hóa và mộ táng sớm), Quỳ Chử (lớp giữa), Đông Sơn (lớp văn hóa và nhóm mộ sớm) Núi Trịnh Thiệu Dương (lớp văn hóa sớm) Đồng Ngầm Đồng Vừng họp thành nhóm di tích Quỳ Chử, cũng vậy, ở lưu vực sông Cả có di tích Rú Trăn mang những nét tương đồng về văn hóa và thời gian với các di tích vùng sông Hồng và sông Mã

Theo nhịp độ rút của nước biển và tạo lập đồng bằng, người Gò Mun đã mở rộng phạm vi cư trú xa rộng hơn về phía nam và đông nam Trên mặt đồng bằng còn lầy lội đã xuất hiện thêm nhiều điểm cư trú mới như Vinh Quang, Chiền Vậy, Gò Thông Đại Áng, Dương Xá Chủ nhân văn hóa Gò Mun bằng lao động sáng tạo của mình dựa trên nền tảng kinh tế và kỹ thuật của thời Đồng Đậu đã vươn lên làm chủ kỹ thuật đồng và chế tạo ra những sản phẩm mới Đồ đồng ngày càng vươn lên chiếm ưu thế trong hoạt động sàn xuất và đời sống Về loại hình, nhiều đồ đồng vẫn mang phong cách truyền thống như rìu tứ giác, rìu xoè

Trang 34

nhọn, tên cánh én , song người Gò Mun còn tạo ra những loại hình di vật mới như liềm đồng, rìu xéo đồng

Đồ đá có chiều hướng giảm sút về số lượng cũng như loại hình Tuy nhiên một số kiểu dáng trang sức vẫn được duy trì ưa chuộng như các loại vòng ống chữ T vành rộng, riêng loại vòng đeo tai hình vành khăn được đặc biệt ưa chuộng được sản xuất với số lượng nhiều vào cuối giai đoạn này

Gốm văn hóa Gò Mun thường dày, độ nung cao, có màu xám, rất cứng, có khi gần như sành Các loại đồ đựng như nồi vò có miệng bẻ ngửa ra ngoài, bản miệng rộng thường được trang trí hoa văn hình học với những đường nét gấp khúc thành các hình tam giác hình hình hành, chữ nhật phối trí hài hòa với các vòng tròn nhỏ Một số ít đồ gốm còn được trang trí hoa văn hình bọt nước, hình trăng khuyết, hình chim hay hình cá

Nổi nét trong, sưu tập gốm Gò Mun là sự tổn tại phổ biến của loại hình gọi là chạc gốm lúc này được trang trí khá cầu kỳ và có nhiều hoa văn đẹp là các đưòng cong được đắp nổi hay khắc sâu Người Gò Mun còn tạo ra những khối tượng bằng đất nung như các tượng

Căn cứ vào một loạt niên đại cacbon phóng xạ ở nhiều địa điểm thuộc văn hóa Gò Mun, trong đó có niên đại ở lớp dưới di chỉ Vinh Quang là 1095 ± 120 năm trước công nguyên, của địa điểm Đông Sơn (lớp văn hóa sớm) là 850 ± 100 năm trước công nguyên, của địa điểm Đồng Ngầm (độ sâu 1,27m thuộc lớp Quỳ Chử) là 725±40 năm trước công nguyên,

có thể định niên đại chung cho bình tuyến văn hóa Gò Mun là các thế kỷ XI-VIII trước công nguyên

Trang 35

Nhìn bao quát về giai đoạn văn hóa Đồng Đậu - Gò Mun có thể thấy tính chất tạo nền của nó được thể hiện ở sự chọn lọc xác lập các yếu tố văn hóa biến chúng thành đặc điểm, truyền thống văn hóa phản ánh tính cách, đặc trưng của cộng đồng Hàng loạt các công cụ sản xuất bằng đá, bằng đồng với các kiểu loại khác nhau : chữ nhật, xoè cân, lưỡi lệch, có vai , các vòng trang sức đá có mặt cắt hình tam giác cân hình chữ U chữ T nằm ngang, vòng ống, các khuyên tai hình vành khăn, khuyên tai 4 mấu, những vũ khí như giáo búp đa, tên hình lá đều tham gia vào sự hình thành bộ di vật Đông Sơn Những yếu tố hoa văn chấm giải, vạch thẳng song song, hình tam giác, hình chữ S, hình vòng tròn, các đường hồi văn gấp khúc trang trí thành băng tròn trên đồ gốm Tiền Đông Sơn đều được thế hiện trên đồ Đông Sơn có trang trí sau này

Ý nghĩa tạo nền được thể hiện ở chỗ đã tạo ra những biến chuyển mạnh mẽ trong kỹ thuật sản xuất nông nghiệp, vết tích lúa gạo tìm thấy ở nhiều nơi như Đồng Đậu, Gò Mun Gò Chiền, Thành Đèn (Vĩnh Phú) Từ Sơn (Hà Bắc) Chợ Gềnh (Ninh Bình) Dông Tiến (Thanh Hóa)

Ý nghĩa tạo nên còn thấy ở sự dần hình thành các trung tâm luyện kim và chế tạo dù kim loại Ở vùng trung tâm đất tổ Hùng Vương từ những đốm lửa luyện chế kim loại ở Mã Lao ở Gò Mun đã dẫn đến trung tâm đúc Làng Cả, từ những điểm đúc rải rác nhỏ bé chưa đủ lớn như ở Đồng Đậu, ở Thanh Đền ở Đình Chàng, đã hình thành trung tâm đúc đồng cổ Loa (Mà Tre) rực rỡ Cũng vậy ở bên hữu ngạn sông Hồng, trung tâm đúc đồng Vinh Quang thời Đông Sơn có thê đã được chuẩn bị từ các nhóm đúc đồng ở Đồi Đà, ở Đồng Đền

Vùng sông Mã, vết tích đúc đồng Quỳ Chử đã dẫn tới hình thành các trung tâm lớn như ở Đông Sơn Cũng vậy, những phát hiện về nồi đúc và những bọt xỉ đồng ở Rú Trăn sẽ dẫn tới các trung tâm luyện kim như ở Đồng Mỏm Làng Vạc v.v

Dấu hiệu của sự tạo nền chuyển lượng thành chất còn thể hiện ở sự xuất hiện vào cuối giai đoạn Gò Mun một số loại hình công cụ sản xuất và vũ khí mới nói lên sự gia tăng của nhu cầu sản xuất và chiến đấu Đó là những công cụ gặt gọi là liềm hay vằng kiểu Gò Mun, những mũi tên đồng lớn có 2 cánh cong khum dài có chuôi và sống nổi tìm thấy ở Gò Mun Đồng Gio, những mũi tên 3 cạnh có chuôi, có trụ ở Đại Áng, những con dao xéo lưỡi cong kiểu sừng trâu gặp trong các địa điểm Đông Sơn (lớp mộ sớm) Quỳ Chử, những con dao găm chuôi bẹt, đốc nhỏ, lưỡi rộng chưa có chắn tay kiểu Đồi Đà còn tìm thấy ở Gò Ghệ những con dao phạng lưỡi rộng, mũi cong ở Gò Diễn ở Thanh Đinh

Những cứ liệu khảo cổ học của các nhóm di tich Đồng Đậu - Gò Mun được phân tích

ở một số mặt trên đây và khi nhìn gộp lại cho thấy sự vận động của nội lực, mà

Trang 36

những nhân tố tự thân bên trong với sự tham gia, xâm nhập của những yếu tố văn hóa từ ngoài khu vực là đặc điểm phát triển văn hóa của giai đoạn này, có phần khác với quá trình hỗn dung và tiếp biến văn hóa diễn ra ở giai đoạn Phùng Nguyên trước đó và cũng khác hơn

so với quá trình này ở giai đoạn Đông Sơn sau đó

III VĂN HÓA ĐÔNG SƠN - BIỂU HIỆN VẬT CHẤT CỦA VĂN MINH VIỆT CỔ Những tiền đề vật chất - xã hội được chuẩn bị từ các giai đoạn Đông Đậu - Gò Mun nay trong hoàn cảnh môi trường và các mối giao tiếp văn hóa mới đã được phát huy mạnh

mẽ, tạo ra diện mạo Đông Sơn với những đường nét hết sức phong phú, đa sắc và độc đáo

Văn hóa Đông Sơn nổi tiếng đã được giới khảo cổ học thế giới biết đến và chú ý ngay

từ khi di tích văn hóa Đông Sơn đầu tiên bên bờ phải sông Mã, sát chân núi Rồng, gần ngay phía trên cầu Hàm Rồng được phát hiện Không kể những hiện vật hay nhóm hiện vật phát hiện ngẫu nhiên, đến nay hàng trăm di tích của văn hóa này đã được biết đến, chúng phân bố trên hầu khắp miền Bắc Việt Nam tập trung ở các lưu vực sông lớn như sông Cả, sông Mã, sông Hồng, dày đặc ở lưu vực sông Mã và đậm đặc nhất ở lưu vực sông Hồng, đã có ít ra 80

di tích phát hiện được ở đây Mỗi khu vực có những khác biệt "nhất định mang tính chất địa phương, nhưng nhìn chung văn hóa Đông Sơn mang những đặc trưng chung thể hiện tính thống nhất trong toàn vùng phân bố của văn hoá này

Trước hết vẻ sự phân cư, người Đông Sơn lúc này đã cư trú và làm ăn sinh sống trên mọi địa hình trong nhiều vùng sinh thái khác nhau nhằm khai thác tối ưu những sản phẩm của

tự nhiên và phát triển nghề nông trồng lúa nước Nơi cư trú thường là những khoảng đất cao, bên bìa rừng hay mé nước Và ở mỗi khu vực, do phụ thuộc vào vị trí địa lý và hoàn cảnh xã hội dần nổi lên một hay vài làng cổ có vị trí như các trung tâm quần cư quan trọng thu hút và chi phối hoạt động của cư dân toàn vùng Đó là các trung tâm Lào Kai, Đào Thịnh ở thượng

du, Làng Cả ở trung du và Cổ Loa, Nhổn ở đồng bằng sông Hồng; Xuân Lập, Định Công ở trung du và Đông Sơn, Thiệu Dương ở hạ du sông Mã, Làng Vạc ở trung du và Đồng Mỏm ở đồng bằng sông Cả

Chính sự cư trú trong các vùng sinh thái khác nhau này cộng với những khác biệt chi tiết về sắc tộc, về trình độ phát triển của từng nhóm tộc trong khu vực đã tạo ra sự khác biệt địa phương của văn hóa Đồng Sơn

Với khối tư liệu hiện biết và xem xét chúng trong mối tương quan tổng thể, có thể nhận ra ba loại hình tiêu biểu

• Loại hình Đường Cô vùng sông Hồng

• Loại hình Đông Sơn vùng sông Mã

• Loại hình Làng Vạc vùng sông Cả

Trang 37

Loại hình Đường Cồ

Loại hình này mang tên một địa điểm thuộc văn hóa Đông Sơn mà ở đó chứa loại gốm mịn màu trắnn mốc hay hồng nhạt với hoa văn thừng đập thành hình mắt võng và thường ấn lõm thành hoa văn nhặn tổ ong rất độc đáo, gây ấn tượng lần đầu tiên phát hiện được ở đây và mang ý nghĩa tiêu biểu cho gốm Đông Sơn vùng sông Hồng Địa bàn của loại hình Đường Cồ trùng hợp với địa bàn của văn hóa Gò Mun và có phần mở rộng hơn về phía đồng bằng thấp so với địa bàn văn hóa Gò Mun Qua nhiều di tích đã được tiến hành thám sát khai quật và nghiên cứu ti mỉ đều nhận thấy ở những di tích có tầng văn hóa dày nhiều lớp, bao giờ lớp chứa di tích Đông sơn cũng nằm trên lớp văn hóa Gò Mun Nghiên cứu đồ gốm

ở các di tích này có thể thay được sự diễn biến và phát triển trực tiếp của gốm Gò Mun sang gốm Đường Cồ thể hiện ở sự tăng dần, sự chuyển hóa về màu sắc và dáng miệng gốm từ Gò Mun sang Đường Cồ từ dưới lên trên

Sự khác biệt của loại hình Đường Cồ còn thể hiện ở sự tồn tại phổ biến loại mộ táng

có quan tài hình thuyền, làm bang thân cây khoét rỗng có thêm loại mộ đất có quan tài dùng đính ghim, ghép như thấy ở khu mộ táng Làng Cả, trong khi đó ở loại hình Đông Sơn hay sông Mã lại tồn tại kiểu mộ đất có kè đá hay rải gốm giống ở khu mộ Làng Vạc

Cái riêng của bộ đồ đồng Đường Cồ là ở những lưỡi cày đồng hình tam giác hay hình tim, những dao gặt có hình vỏ trai, những dao găn hai rìu lưỡi uốn lượn và có chắn tay thẳng, những kiểu giáo, lao có phần họng gắn khoảng 1/3 chiều dài của cả lưỡi, có sống nổi cao, rìa lưỡi cong lồi, cánh không có lỗ thủng, những rìu lưỡi xéo hình hiu hay hình bàn chân có gót vuông hoặc tròn Ở vùng trung du hay thượng du của loại hình này, sắc thái địa phương còn thể hiện ở những lưỡi thuồng đồng vai xuôi, rìa lưỡi cong lồi, họng dài thân dày chắc khỏe, những lưỡi cuốc có họng tra cán nằm ngang vuông góc với trục thân, những lưỡi giáo hình búp đa họng ngắn Mối quan hệ và giao lưu văn hóa của chủ nhân văn hóa Đông Sơn loại hình Đường Cồ với khu vực Lưỡng Quảng và Vân Nam (Trung Quốc) làm tăng thêm sắc thái

đa dạng trong văn hóa thể hiện ở sự có mặt những công cụ vũ khí có họng tra cán có miệng họng xẻ lõm hình đuôi cá, những mũi lao đồng hình ngòi bút cùng với những di vật đồng rất điển hình và đặc sắc như lưỡi cày hình tim kiều Cổ Loa, cuốc chữ U, rìu vai kép, riu xéo gót tròn mũi dài hình bàn chân và cả với những di vật độc đáo khác như muôi đồng hình quả bầu, vùng tai đá hình vành khăn có cạnh đáy gần phẳng dáng gần vuông hay có mấu, những kiếm đồng 2 rìa lưỡi thẳng, chuôi dẹt có lỗ được gắn tháp với chuôi nắm tròn tạo thành tập hợp di vật mang phong cách Đông Sơn trùm phủ khắp miền Bắc Việt Nam, Đông Nam Vân Nam và Tây Nam Quảng Tây

Trang 38

Loại hình Đông Sơn

Loại hình này có địa bàn phân bổ chủ yếu là vùng lưu vực sông Mã, đến nay đã biết tới 70 địa điểm Đông Sơn phân bố ở trung du, đồng bằng và ven biển tỉnh Thanh Hóa

Trong vòng 35 năm lại đây, nhờ những cuộc điều tra thăm dò rộng và những cuộc khai quật lớn ở một số địa điểm then chốt như Thiệu Dương, Đồng Sơn, Đông Tiến, Núi Nấp, Quỳ Chử , diện mạo văn hóa và chủ nhân chung của văn hóa Đông Sơn ở khu vực này dần được làm sáng tỏ Nguồn gốc bản địa của văn hóa Đồng Sơn được xác minh qua phân tích các tầng văn hóa nhiêu lớp ở các di tích kể trên đều khẳng định dưới lớp văn hóa Đông Sơn là các lớp chứa các di tích, di vật thuộc các giai đoạn Tiền Đông Sơn, mà khảo cổ học đã phác họa được một khung các giai đoạn phát triển từ sớm đến muộn bao gồm : Cồn Chân Tiên - Bái Man (huy Đan Nê)- Quỳ Chử - Đông Sơn, tương ứng với 4 giai đoạn Phùng Nguyên - Đồng Đậu - Gò Mun - Đường Cồ ở vùng sông Hồng Địa điểm Đồng Ngầm có thể được xem như một trong những di tích mang tính chất chìa khóa mở ra khả năng khảo sát sự diễn biến văn hóa liên tục từ sơ kỳ thời đại đồng đến sơ kỳ thời đại sắt, và có sự hình thành văn hóa Đông Sơn ở khu vực sông Mã này Với tầng văn hóa dày 2m, di chỉ Đồng Ngầm chứa các lớp văn hóa kế tiếp nhau phát triển từ dưới lên trên như sau : lớp sâu nhất có độ dày khoảng 0,4m nằm ở độ sâu từ 2m đến khoảng 1,6m chứa các vòng ngọc, rìu đá nephơrít nhỏ nhắn kiểu Phùng Nguyên, cùng với đồ gốm có miệng rộng, bẻ cong và mép nhọn hoặc được đắp dày ở phía trong được trang trí bằng hoa văn khuông nhạc nét dõi tạo ra các hình chữ S nằm nối tiếp nhau - tiền thân của hoa văn vòng tròn tiếp tuyến trên đồ đồng Đông Sơn, hoa văn các vòng tròn chấm cuống dạ trong các khung chữ nhật trên bản miệng phía trong , đặc biệt chạc gốm có đế hình bầu dục dẹt, đầu nhọn và bẻ cong, mặt đế trang trí văn vạch khuông nhạc

Lớp văn hóa tiếp theo dày khoảng 0,4m nằm ở độ sâu 1,6 - 1,2m chứa những rìu đục, vòng bằng đá nephơrit kiểu Phùng Nguyên, lưỡi câu đồng nhỏ thân dài, phần móc cuốn ngắn, vật hình ống Đồ gốm có cổ cao, miệng lõm nhẹ, dày đều, thành miệng phẳng vát, được trang trí bên trong vành miệng và ở vai những hoa văn kẻ khuông nhạc nhiều răng thành các đường song song, các đường sóng và uốn khúc hình chữ S hoặc các chữ S rời nằm nghiêng, văn vạch chéo đan thành ô lưới , xuất hiện dạng gốm hình chày hai đầu phẳng loe Lớp văn hoá thứ ba dày cũng khoảng 0,4m nằm ở độ sâu 1,4-1,00m chứa rìu đục vòng bằng đá ngọc ít hơn, rìu tứ diện bằng đá ba dan nhiều hơn Đồ đồng có mũi nhọn đồng hình ống dài, đục chuôi liền dài, lưỡi bẹt hơi xoè, dao đồng hình sừng trâu, khâu đồng lõm hai canh Đồ gốm phổ biến có đồ đựng miệng cong hình lòng máng và gờ nổi phía ngoài, thành miệng gốm vát xiên, hoa văn trang trí là những nhóm vạch xiên song song hay cắt chéo nhau thành hình bình hành, gốm có màu bạc xám

Trang 39

Riêng lớp 1,2 - 0,8m đồ gốm thấy có sự chuyển dần từ Quỳ Chử lên Đông Sơn, thể hiện rõ nhất ở diễn biến bản miệng, từ cong lõm sâu ở giai đoạn Quỳ Chử chuyển sang lõm nông và phẳng dần, màu sắc từ bạc xám sang hồng nhạt dân thành hồng xẫm

Lớp trên cùng từ độ sâu 0,8m trở lên chứa những di vật Đông Sơn điển hình Đồ gốm phổ biến là loại gốm đỏ, nâu, bản miệng phẳng, phía mặt ngoài có gờ nổi Xuất hiện chạc gốm không móng đế nhỏ trên mặt có nét ấn lõm một nét hay chữ thập, tồn tại phổ biến loại chạc gốm thân rỗng lớn, chân có chạc chẽ đôi hình đuôi cá lệch

Đặt gốm Đồng Ngầm trong mối tương quan với gốm ở các địa điểm quan trọng nêu ở trên cho thấy một sự diễn biến nội tại của gốm thời đại kim khí vùng sông Mã (Nguyễn Việt 1978)

Đồ đồng loại hình sông Mã là những đồ đồng mang đặc trưng chung nhất của đồ đồng Đông Sơn, từ công cụ vũ khí, nhạc khí đồ dùng sinh hoạt đồ trang sưc nghệ thuật gặp ở khu vực Thanh Hoá cũng gặp ở mọi nơi trên địa bàn chung của văn hóa Đông Sơn

Cái riêng của loại hình sông Mã thể hiện ở sự tồn tại phổ biến ở sự vượt trội về số lượng của những loại hình ở đây

Chẳng hạn về công cụ sản xuất có thể nhận ra loại lưỡi cày đồng hình chân vịt hay hình cánh bướm là riêng cho loại hình sông Mã mới chỉ gặp một hai chiếc không điển hình ở

Rú Trăn (Nghệ An) có vị trí ráp gianh với rìa nam của loại hình Đông Sơn

Những vũ khí phổ biến trong loại hình Đông Sơn như giáo họng dài bằng 1/2 toàn lưỡi, mặt lưỡi hình thoi, hai bên mặt cánh có một hàng hay hai hàng lỗ đối xứng, loại dao găm bản lưỡi hình lá tre, chắn tay quặp sừng trâu hay vòng thành lỗ khuyên, có cán hình chữ T

Bên cạnh đó, loại giáo lưỡi hình lá mía, sống nổi cao, có chuôi tra cán dường như là sản phẩm riêng của vùng sông Mã, mới chỉ gặp đôi chiếc ở Làng Vạc hay ở Mả Tre (Cổ Loa

- Hà Nội) Riêng loại rìu xéo có dáng cong hình thuyền với giây chằng gắn hai đầu mũi rìu với họng, đôi chiếc trên mặt còn trang trí hình thuyền cong theo bản lưỡi, trên thuyền có những người chèo, kiếm ngắn chuôi tượng là độc đáo nơi đây, chưa từng gặp nơi đâu ngoài khu vực sông Mã này

Những chiếc thố hình lẵng hoa cũng là sản phẩm độc đáo của vùng này cho tới nay mới chỉ tìm thấy 2 chiếc ở Việt Khê và 1 chiếc ở Bàu Khê (Quảng Bình)

Đồ đồng minh khi ở loại hình Đông Sơn cũng nhiều hơn ở bất cứ loại hình nào Riêng loại thạp minh khí mới chỉ tìm thấy 1 chiếc ở khu mộ Yên Từ ( Nam Hà),còn

Trang 40

thố minh khí thì chưa gặp ở đâu ngoài khu vực sông Mã

Cần nói thêm rằng, người Đông Sơn ở Thanh Hóa có sự ưa thích đặc biệt dùng đồ trang sức đeo tai là những khuyên tai hình vành khăn bằng đá ngọc, ở giai đoạn muộn được làm bằng đá thạch anh Có cả một cụm công xương là Bái Tê, Mả Chùa, Cồn Cấu (lớp trên) ở

xã Đông Lĩnh huyện Đông Sơn chuyên sản xuất vòng đeo tai bằng loại đá thạch anh này

Tư liệu về cổ nhân - chủ nhân văn hóa Đông Sơn vùng sông Mã cũng góp phần soi sáng những đặc điểm văn hóa khu vực Kết quả nghiên cứu 25 cốt sọ ở các khu mộ táng Núi Nấp (19), Quỳ Chử (5) và Thiệu Dương (1) cho thấy những cốt sọ mang đặc điểm của loại hình In-đô-nê-diêng có 19 chiếc so với 5 chiếc thuộc loại hình Đông Nam Á, chiêm tỷ lệ 76%; tỷ lệ đó ở khu vực Sông Hồng là 23/10 hay 67%,còn ở khu vực sông Cả là 4/0 chiếm 100% (Nguyễn Lân Cường 1993) Như vậy là loại hình In-đô-nê-diêng giảm dần từ nam ra bắc và ngược lại loại hình Đông Nam Á tăng dần từ bắc vào nam, hiện tượng đó chứng tỏ rằng tính chất In-đô-nê-diêng đậm đà trong chủ nhân văn hóa Đông Sơn Điều đó cũng còn nói lên rằng cư dân Đông Sơn là tổ tiên của nhiều tộc người hiện sống trên lãnh thổ Việt Nam Điều đó được soi sáng thêm bằng tư liệu về hiện tượng cà răng của người Đông Sơn loại hình In-đô-nô-dieng ở Núi Nấp hẳn có mối liên hệ với tục cả răng hiện còn bảo lưu ở một số dân tộc Tây Nguyên

Loại hình Làng Vạc

Việc nghiên cứu văn hóa Đông Sơn từ Nghệ Tĩnh trở vào còn nhiều hạn chế Có những phát hiện lẻ tẻ, ngẫu nhiên và rải rác, song cũng không nhiều Những cuộc điều tra, thám sát và đặc biệt là khai quật qui mô lại rất ít Những cuộc thám sát và khai quật ở Đồng Mỏm và Làng Vạc đã cung cấp những tư liệu cơ bản cho khái quát bước đầu về diện mạo văn hóa Đông Sơn ở vùng này Cùng với những hiện vật do trao đổi bên trong và bên ngoài là bộ

di vật hết sức độc đáo làm nên nét riêng của loại hình văn hóa này Đó là bên cạnh những rìu giáo, lao, tên, dao găm, khóa, đai lưng bằng đồng, những trang sức bằng đá và thủy tinh mang nét chung Đông Sơn, nối lên những loại hình di vật mới chỉ thấy ở khu vực này Đó là những lưỡi cày đồng vai ngang, những dao găm chuôi tượng động vật như rắn đỡ voi, hay rắn ngậm chân báo, hổ đỡ voi những bao chân, bao tay và chuỗi vòng trang sức có đính lục lạc

Nét riêng của gốm loại hình Làng Vạc là ở sự tồn tại phổ biến các bình vò, nồi miệng loe đáy phình rộng thường có màu vàng xám hay hơi hồng, và nổi lên là các loại chõ gốm và thạp gốm Về tục táng có thể nhận ra sự đa dạng của các loại hình mộ khác nhau cùng tồn tại trong một khu mộ như mộ vò chôn nằm và chôn đứng, mộ rải, kè phù gốm, kè phủ lợp đá (Phạm Minh Huyên 1991)

Ngày đăng: 03/12/2015, 11:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG 1 : NÔNG CỤ THỜI PHÙNG NGUYÊN- ĐÔNG SƠN - Quá trình hình thành bản sắc văn hóa việt nam
BẢNG 1 NÔNG CỤ THỜI PHÙNG NGUYÊN- ĐÔNG SƠN (Trang 134)
Bảng 3: VŨ KHÍ VÀ HIỆN VẬT BẰNG ĐỒNG THAU Ở MỘT SỐ DI TÍCH VĂN HÓA ĐÔNG SƠN - Quá trình hình thành bản sắc văn hóa việt nam
Bảng 3 VŨ KHÍ VÀ HIỆN VẬT BẰNG ĐỒNG THAU Ở MỘT SỐ DI TÍCH VĂN HÓA ĐÔNG SƠN (Trang 136)
BẢNG 2: PHÂN LOẠI MỘ TÁNG ĐÔNG SƠN THEO HIỆN TRẠNG PHẬN BỐ ĐỒ TÙY TÁNG. - Quá trình hình thành bản sắc văn hóa việt nam
BẢNG 2 PHÂN LOẠI MỘ TÁNG ĐÔNG SƠN THEO HIỆN TRẠNG PHẬN BỐ ĐỒ TÙY TÁNG (Trang 136)
BẢNG 4 :THÀNH PHẦN ĐỒ TÙY TÁNG TRONG CÁC MỘ ĐÔNG SƠN TIÊU BIỂU. - Quá trình hình thành bản sắc văn hóa việt nam
BẢNG 4 THÀNH PHẦN ĐỒ TÙY TÁNG TRONG CÁC MỘ ĐÔNG SƠN TIÊU BIỂU (Trang 141)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w